Giữa Những Cạm Bẫy

Cả chương này dựa trên Giăng 7:16-36, 40-53; Giăng 8:1-11. DA 455.1

Suốt thời gian Đức Chúa Giê-su ở Giê-ru-sa-lem trong kỳ lễ, Ngài bị các thám tử rình rập. Ngày qua ngày, những âm mưu mới nhằm bịt miệng Ngài được toan tính. Các thầy tế lễ và các nhà cầm quyền luôn theo dõi để gài bẫy Ngài. Họ đang lập kế hoạch ngăn cản Ngài bằng bạo lực. Nhưng không chỉ có vậy. Họ còn muốn hạ nhục vị thầy ra-bi người Ga-li-lê nầy trước mặt dân chúng. DA 455.2

Vào ngày đầu tiên Ngài hiện diện tại kỳ lễ, các nhà cầm quyền đã đến cùng Ngài, gặng hỏi Ngài lấy thẩm quyền nào mà giảng dạy. Họ muốn chuyển sự chú ý khỏi Ngài sang câu hỏi về quyền giảng dạy của Ngài, và như vậy hướng sang tầm quan trọng và thẩm quyền của chính họ. DA 455.3

“Đạo lý của ta chẳng phải bởi ta,” Đức Chúa Giê-su phán, “nhưng bởi Đấng đã sai ta đến. Nếu ai khứng làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời, thì sẽ biết đạo lý ta có phải là bởi Đức Chúa Trời, hay là ta nói theo ý ta.” Giăng 7:16, 17. Đức Chúa Giê-su đáp lại câu hỏi của những kẻ bắt bẻ nầy, không phải bằng cách giải đáp lời bắt bẻ, mà bằng cách mở ra lẽ thật thiết yếu cho sự cứu rỗi linh hồn. Ngài phán rằng sự nhận biết và trân trọng lẽ thật tùy thuộc vào tấm lòng nhiều hơn là vào trí óc. Lẽ thật phải được tiếp nhận vào linh hồn; nó đòi hỏi sự thuận phục của ý chí. Nếu lẽ thật có thể chỉ phục tùng lý trí mà thôi, thì lòng kiêu ngạo sẽ chẳng cản trở việc tiếp nhận nó. Nhưng nó phải được tiếp nhận qua công việc của ân điển trong tấm lòng; và việc tiếp nhận nó tùy thuộc vào sự từ bỏ mọi tội lỗi mà Thần của Đức Chúa Trời bày tỏ. Những lợi thế của con người để đạt được sự hiểu biết về lẽ thật, dù lớn lao đến đâu, cũng chẳng đem lại ích lợi gì cho người ấy trừ khi tấm lòng mở ra để tiếp nhận lẽ thật, và có sự đầu phục đầy lương tâm đối với mọi thói quen và việc làm chống nghịch lại các nguyên tắc của nó. Đối với những ai nhường mình cho Đức Chúa Trời như vậy, với lòng khao khát chân thành muốn biết và làm theo ý muốn Ngài, lẽ thật được bày tỏ như là quyền năng của Đức Chúa Trời cho sự cứu rỗi của họ. Những người nầy sẽ có thể phân biệt giữa người nói cho Đức Chúa Trời, và người chỉ nói theo ý mình. Người Pha-ri-si đã không đặt ý chí mình về phía ý muốn của Đức Chúa Trời. Họ chẳng tìm kiếm sự biết lẽ thật, mà chỉ tìm cớ nào đó để lảng tránh nó; Đấng Christ chỉ ra rằng đây chính là lý do họ không hiểu lời dạy của Ngài. DA 455.4

Bây giờ Ngài đưa ra một thử nghiệm để có thể phân biệt người thầy chân thật với kẻ lừa dối: “Kẻ nói theo ý mình, thì tìm vinh hiển riêng mình; nhưng kẻ tìm vinh hiển của Đấng đã sai mình đến, mới là chân thật, và chẳng có điều gì không công bình trong người.” Giăng 7:18. Kẻ tìm kiếm vinh hiển riêng mình thì chỉ nói theo ý mình. Tinh thần tìm kiếm bản thân để lộ nguồn gốc của nó. Nhưng Đấng Christ tìm kiếm vinh hiển của Đức Chúa Trời. Ngài rao truyền lời của Đức Chúa Trời. Đây là bằng chứng về thẩm quyền của Ngài với tư cách là người thầy dạy lẽ thật. DA 456.1

Đức Chúa Giê-su ban cho các thầy ra-bi một bằng chứng về thần tánh của Ngài bằng cách cho thấy Ngài đọc được lòng họ. Kể từ khi chữa lành tại Bê-tết-đa, họ đã âm mưu giết Ngài. Như vậy chính họ đang vi phạm luật pháp mà họ tuyên bố là đang bảo vệ. “Môi-se há chẳng ban luật pháp cho các ngươi sao?” Ngài phán, “Mà trong các ngươi không có một ai tuân theo luật pháp! Cớ sao các ngươi kiếm thế giết ta?” DA 456.2

Như một tia chớp lóe nhanh, những lời nầy bày tỏ cho các thầy ra-bi thấy hố hủy diệt mà họ sắp lao mình vào. Trong giây lát họ tràn đầy kinh hãi. Họ thấy rằng họ đang xung đột với Quyền Năng Vô Hạn. Nhưng họ chẳng chịu nghe lời cảnh cáo. Để duy trì ảnh hưởng của mình trên dân chúng, những mưu định giết người của họ phải được giấu kín. Lảng tránh câu hỏi của Đức Chúa Giê-su, họ kêu lên rằng, “Ngươi bị quỉ ám; ai là người tìm thế giết ngươi?” Họ ám chỉ rằng những việc kỳ diệu của Đức Chúa Giê-su là do một tà linh xui khiến. DA 456.3

Đối với lời ám chỉ nầy, Đấng Christ chẳng để tâm. Ngài tiếp tục cho thấy rằng việc chữa lành tại Bê-tết-đa của Ngài hài hòa với luật pháp về ngày Sa-bát, và được biện minh bởi chính cách giải nghĩa luật pháp mà người Do Thái áp dụng. Ngài phán, “Môi-se đã truyền phép cắt bì cho các ngươi;… và các ngươi làm phép cắt bì cho người đàn ông trong ngày Sa-bát!” Theo luật pháp, mỗi đứa trẻ phải được cắt bì vào ngày thứ tám. Nếu thời điểm ấn định rơi vào ngày Sa-bát, thì nghi lễ vẫn phải được thực hiện. Vậy thì việc khiến một người “được lành mạnh cả và mình trong ngày Sa-bát” lại càng phù hợp với tinh thần của luật pháp biết bao. Và Ngài cảnh cáo họ “Đừng cứ bề ngoài mà xét đoán, nhưng phải xét đoán theo lẽ công bình.” DA 456.4

Các nhà cầm quyền bị làm cho nín lặng; và nhiều người trong dân chúng kêu lên rằng, “Đó có phải là người mà người ta tìm giết chăng? Kìa, người nói tự do, mà không ai nói chi người hết. Có lẽ các quan đã nhận thật người là Đấng Christ?” DA 457.1

Nhiều người trong số những kẻ nghe Đấng Christ là dân cư tại Giê-ru-sa-lem, và họ không phải không biết những âm mưu của các nhà cầm quyền chống lại Ngài, đã cảm thấy bị thu hút đến với Ngài bởi một quyền năng không cưỡng nổi. Lòng họ thấm thía niềm tin chắc rằng Ngài là Con Đức Chúa Trời. Nhưng Sa-tan đã sẵn sàng gieo sự nghi ngờ; và con đường cho điều nầy đã được chuẩn bị sẵn bởi chính những quan niệm sai lầm của họ về Đấng Mê-si và sự đến của Ngài. Người ta thường tin rằng Đấng Christ sẽ sanh ra tại Bết-lê-hem, nhưng rồi sau một thời gian Ngài sẽ biến mất, và vào lần hiện ra thứ hai chẳng ai biết Ngài từ đâu đến. Có không ít người cho rằng Đấng Mê-si sẽ chẳng có mối liên hệ tự nhiên nào với loài người. Và bởi vì quan niệm phổ biến về vinh hiển của Đấng Mê-si không khớp với Đức Chúa Giê-su người Na-xa-rét, nên nhiều người để tâm đến lời gợi ý rằng, “Tuy nhiên, chúng ta biết người nầy từ đâu lại; song khi Đấng Christ sẽ đến, thì không ai biết Ngài từ đâu đến.” DA 457.2

Trong khi họ đang dao động giữa nghi ngờ và đức tin như vậy, Đức Chúa Giê-su nắm bắt được ý nghĩ của họ và đáp lại họ rằng: “Các ngươi quen ta, các ngươi biết ta từ đâu lại! Ta đã đến chẳng phải tự ta, nhưng Đấng đã sai ta đến là thật, mà các ngươi không biết Ngài.” Họ tự cho mình biết rõ nguồn gốc của Đấng Christ phải là gì, nhưng họ hoàn toàn không biết về nó. Nếu họ đã sống thuận theo ý muốn của Đức Chúa Trời, thì hẳn họ đã nhận biết Con Ngài khi Ngài được tỏ ra cho họ. DA 457.3

Những kẻ nghe không thể nào không hiểu lời của Đấng Christ. Rõ ràng đó là sự lặp lại lời tuyên bố mà Ngài đã đưa ra trước mặt Tòa Công Luận nhiều tháng trước đó, khi Ngài xưng mình là Con Đức Chúa Trời. Như các nhà cầm quyền khi ấy đã tìm cách giết Ngài, thì nay họ cũng tìm cách bắt Ngài; nhưng họ bị ngăn cản bởi một quyền năng vô hình, là quyền năng đặt giới hạn cho cơn thạnh nộ của họ, phán cùng họ rằng, Ngươi đến đây thôi, không được đi xa hơn nữa. DA 457.4

Trong dân chúng có nhiều người tin Ngài, và họ nói rằng, “Khi Đấng Christ đến, sẽ có làm nhiều phép lạ hơn người nầy đã làm chăng?” Các nhà lãnh đạo người Pha-ri-si, là những kẻ đang lo lắng theo dõi diễn biến của sự việc, nghe được những lời bày tỏ thiện cảm trong đám đông. Họ vội vã đến cùng các thầy tế lễ cả, và đặt kế hoạch bắt Ngài. Tuy nhiên, họ sắp đặt để bắt Ngài lúc Ngài ở một mình; vì họ không dám bắt Ngài trước mặt dân chúng. Một lần nữa Đức Chúa Giê-su tỏ ra rằng Ngài đọc được mưu định của họ. “Ta còn ở với các ngươi ít lâu nữa,” Ngài phán, “rồi ta sẽ về cùng Đấng đã sai ta đến. Các ngươi sẽ kiếm ta, mà chẳng thấy, và nơi ta ở, các ngươi không thể đến được.” Chẳng bao lâu nữa Ngài sẽ tìm được nơi ẩn náu vượt khỏi tầm khinh miệt và thù ghét của họ. Ngài sẽ thăng thiên về cùng Đức Chúa Cha, để lại được các thiên sứ tôn thờ; và nơi đó những kẻ giết Ngài chẳng bao giờ có thể đến được. DA 457.5

Các thầy ra-bi mỉa mai nói rằng, “Thế thì người sẽ đi đâu mà ta không tìm được? Có phải người sẽ đi đến cùng những kẻ lưu lạc trong dân Gờ-réc và dạy dân Gờ-réc chăng?” Những kẻ bắt bẻ nầy nào ngờ rằng trong những lời chế nhạo của họ, họ đang phác họa sứ mạng của Đấng Christ! Cả ngày dài Ngài đã giơ tay ra với một dân không vâng phục và hay cãi lẽ; thế nhưng Ngài sẽ được tìm thấy bởi những kẻ chẳng tìm kiếm Ngài; giữa một dân không kêu cầu danh Ngài, Ngài sẽ được tỏ ra. Rô-ma 10:20, 21. DA 458.1

Nhiều người tin chắc rằng Đức Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời đã bị các thầy tế lễ và các thầy thông giáo dẫn dắt sai lạc bởi những lý luận giả dối. Các giáo sư này đã nhắc đi nhắc lại với hiệu quả lớn những lời tiên tri về Đấng Mê-si, rằng Ngài sẽ “cai trị tại núi Si-ôn, tại Giê-ru-sa-lem, và sẽ được vinh hiển trước mặt các trưởng lão Ngài;” rằng Ngài sẽ “quản hạt từ biển nầy tới biển kia, từ sông cho đến cùng trái đất.” Ê-sai 24:23; Thi-thiên 72:8. Rồi họ làm những sự so sánh khinh miệt giữa vinh quang được mô tả ở đây với hình dáng khiêm hèn của Đức Chúa Giê-su. Chính những lời tiên tri đã bị xuyên tạc đến nỗi tán đồng cho điều sai lầm. Nếu dân chúng chân thành nghiên cứu Lời ấy cho chính mình, họ đã không bị dẫn dắt sai lạc. Chương sáu mươi mốt của sách Ê-sai chứng tỏ rằng Đấng Christ phải làm chính công việc mà Ngài đã làm. Chương năm mươi ba trình bày sự khước từ và sự thương khó của Ngài trong thế gian, và chương năm mươi chín mô tả tính cách của các thầy tế lễ và các thầy thông giáo. DA 458.2

Đức Chúa Trời không ép buộc con người từ bỏ sự không tin của họ. Trước mắt họ là ánh sáng và bóng tối, lẽ thật và sự sai lầm. Họ phải quyết định mình sẽ chấp nhận điều nào. Tâm trí con người được ban cho khả năng phân biệt giữa đúng và sai. Đức Chúa Trời định liệu rằng con người không quyết định theo sự bốc đồng, nhưng theo sức nặng của bằng chứng, cẩn thận so sánh Kinh Thánh với Kinh Thánh. Nếu người Do Thái gạt bỏ thành kiến của họ và so sánh lời tiên tri đã được ghi chép với những sự kiện đặc trưng cho đời sống của Đức Chúa Giê-su, họ đã nhận thấy một sự hòa hợp tuyệt đẹp giữa các lời tiên tri và sự ứng nghiệm của chúng trong đời sống và chức vụ của người Ga-li-lê khiêm hèn ấy. DA 458.3

Ngày nay nhiều người bị lừa dối cùng một cách như người Do Thái. Các giáo sư tôn giáo đọc Kinh Thánh dưới ánh sáng của sự hiểu biết và truyền thống của riêng họ; còn dân chúng không tự tra xem Kinh Thánh cho chính mình và tự xét đoán đâu là lẽ thật; nhưng họ phó mặc sự phán đoán của mình và giao linh hồn họ cho các lãnh đạo. Sự rao giảng và dạy dỗ Lời của Ngài là một trong những phương tiện mà Đức Chúa Trời đã định để truyền bá ánh sáng; nhưng chúng ta phải đem sự dạy dỗ của mỗi người ra thử nghiệm với Kinh Thánh. Bất cứ ai cầu nguyện và nghiên cứu Kinh Thánh, ao ước biết lẽ thật để vâng theo, sẽ nhận được sự soi sáng thiêng liêng. Người ấy sẽ hiểu được Kinh Thánh. “Nếu ai khứng làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời, thì sẽ biết đạo lý.” Giăng 7:17. DA 459.1

Vào ngày cuối của kỳ lễ, những lính được các thầy tế lễ và các quan trưởng sai đi để bắt Đức Chúa Giê-su đã trở về mà không có Ngài. Họ giận dữ hạch hỏi: “Sao các ngươi không điệu người đến?” Với gương mặt nghiêm trang, họ đáp: “Chẳng hề có người nào đã nói như người nầy.” DA 459.2

Dầu lòng họ cứng cỏi, họ đã được làm cho tan chảy bởi những lời của Ngài. Trong khi Ngài đang giảng dạy trong sân đền thờ, họ đã nán lại gần đó để bắt lấy điều gì có thể dùng để chống lại Ngài. Nhưng khi họ lắng nghe, mục đích vì đó họ được sai đi đã bị quên mất. Họ đứng như những người bị mê hoặc. Đấng Christ đã bày tỏ chính mình Ngài cho linh hồn họ. Họ thấy điều mà các thầy tế lễ và các quan trưởng không chịu thấy—nhân tánh tràn ngập vinh quang của thần tánh. Họ trở về, lòng đầy dẫy ý nghĩ này, bị cảm động bởi những lời Ngài đến nỗi khi bị hỏi: “Sao các ngươi không điệu người đến?” họ chỉ có thể đáp: “Chẳng hề có người nào đã nói như người nầy.” DA 459.3

Các thầy tế lễ và các quan trưởng, khi lần đầu tiên đến trước mặt Đấng Christ, cũng đã cảm thấy sự thuyết phục như vậy. Lòng họ đã rúng động sâu xa, và ý nghĩ này đã ép buộc họ: “Chẳng hề có người nào đã nói như người nầy.” Nhưng họ đã dập tắt sự thuyết phục của Đức Thánh Linh. Bây giờ, tức giận vì ngay cả những tay sai của luật pháp cũng bị ảnh hưởng bởi người Ga-li-lê đáng ghét ấy, họ kêu lên: “Các ngươi cũng đã bị phỉnh dỗ sao? Có một người nào trong các quan hay là trong những người Pha-ri-si tin đến người đó chăng? Song lũ dân nầy không biết luật chi cả, thật là dân đáng rủa!” DA 459.4

Những người mà sứ điệp lẽ thật được nói cho hiếm khi hỏi: “Điều ấy có thật không?” nhưng lại hỏi: “Ai là người chủ trương nó?” Vô số người đánh giá nó bằng số người chấp nhận nó; và câu hỏi vẫn còn được nêu ra: “Có người học thức hoặc lãnh đạo tôn giáo nào đã tin chăng?” Con người ngày nay không thuận với sự tin kính chân thật hơn so với thời của Đấng Christ. Họ cũng đang chăm chú tìm kiếm điều tốt lành thuộc đất, mà bỏ bê của cải đời đời; và việc số đông không sẵn lòng chấp nhận lẽ thật, hoặc lẽ thật không được những người vĩ đại của thế gian, hay ngay cả các lãnh đạo tôn giáo tiếp nhận, không phải là một luận chứng chống lại lẽ thật. DA 459.5

Một lần nữa các thầy tế lễ và các quan trưởng tiến hành lập mưu để bắt Đức Chúa Giê-su. Họ thúc giục rằng nếu Ngài còn được để cho tự do lâu hơn, Ngài sẽ kéo dân chúng xa khỏi các lãnh đạo đã được lập, và đường lối an toàn duy nhất là làm cho Ngài im lặng không chậm trễ. Đang giữa cuộc tranh luận sôi nổi, họ bỗng bị chặn lại. Ni-cô-đem hỏi: “Luật chúng ta há bắt tội một người nào chưa tra hỏi đến, và chưa biết điều người ấy đã làm, hay sao?” Sự im lặng bao trùm hội đồng. Những lời của Ni-cô-đem chạm đến lương tâm họ. Họ không thể kết án một người mà không xét hỏi. Nhưng không chỉ vì lý do này mà các quan trưởng kiêu ngạo cứ im lặng, nhìn chằm chằm vào người đã dám lên tiếng bênh vực công lý. Họ giật mình và bực bội rằng một người trong hàng ngũ của họ lại bị tính cách của Đức Chúa Giê-su tác động đến mức nói một lời để bênh vực Ngài. Hồi phục lại từ sự kinh ngạc, họ nói với Ni-cô-đem bằng lời mỉa mai cay độc: “Ngươi cũng là người Ga-li-lê sao? Ngươi hãy tra xét, sẽ thấy rằng chẳng có tiên tri nào từ xứ Ga-li-lê mà ra hết.” DA 460.1

Tuy nhiên lời phản đối ấy đã có kết quả là chặn lại tiến trình của hội đồng. Các quan trưởng không thể thực hiện mục đích của họ và kết án Đức Chúa Giê-su mà không xét hỏi. Bị thất bại trong lúc ấy, “ai nấy đều trở về nhà mình. Đức Chúa Giê-su lên trên núi Ô-li-ve.” DA 460.2

Từ sự náo động và rối loạn của thành phố, từ những đám đông háo hức và các thầy thông giáo phản trắc, Đức Chúa Giê-su lui về nơi yên tĩnh của những vườn ô-li-ve, nơi Ngài có thể ở một mình với Đức Chúa Trời. Nhưng vào lúc sáng sớm Ngài trở lại đền thờ, và khi dân chúng tụ họp quanh Ngài, Ngài ngồi xuống và dạy dỗ họ. DA 460.3

Ngài chẳng bao lâu bị gián đoạn. Một nhóm người Pha-ri-si và các thầy thông giáo đến gần Ngài, lôi theo một người đàn bà đang khiếp sợ mà với những giọng nói cứng cỏi, háo hức, họ cáo buộc đã vi phạm điều răn thứ bảy. Đẩy bà vào trước mặt Đức Chúa Giê-su, họ nói với Ngài, với vẻ tôn kính giả dối: “Trong luật pháp Môi-se có truyền cho chúng ta rằng nên ném đá những hạng người như vậy; còn thầy, thì nghĩ sao?” DA 460.4

Sự tôn kính giả vờ của họ che giấu một âm mưu thâm sâu để hủy diệt Ngài. Họ đã chộp lấy cơ hội này để bảo đảm sự kết án Ngài, nghĩ rằng bất cứ quyết định nào Ngài đưa ra, họ cũng sẽ tìm được cớ để buộc tội Ngài. Nếu Ngài tha bổng người đàn bà, Ngài có thể bị cáo là khinh dể luật pháp Môi-se. Nếu Ngài tuyên bố bà đáng chết, Ngài có thể bị tố cáo với người La-mã là kẻ tiếm đoạt quyền hành vốn chỉ thuộc về họ. DA 460.5

Đức Chúa Giê-su nhìn cảnh tượng ấy trong giây lát—nạn nhân run rẩy trong nỗi nhục nhã của mình, những vị chức sắc với gương mặt cứng cỏi, không có cả đến lòng thương xót của con người. Tâm linh tinh khiết không tì vết của Ngài rút lui khỏi cảnh tượng ấy. Ngài biết rõ vì mục đích gì mà trường hợp này được đem đến cho Ngài. Ngài đọc thấy tấm lòng, và biết tính cách và lịch sử đời sống của mỗi người trước mặt Ngài. Những kẻ tự xưng là người gìn giữ công lý này chính là kẻ đã dẫn nạn nhân của họ vào tội lỗi, để họ có thể giăng bẫy cho Đức Chúa Giê-su. Không tỏ dấu hiệu nào rằng Ngài đã nghe câu hỏi của họ, Ngài cúi xuống, và chăm chú nhìn xuống đất, bắt đầu viết trên bụi đất. DA 461.1

Sốt ruột vì sự chậm trễ và vẻ thờ ơ của Ngài, những kẻ buộc tội đến gần hơn, thúc giục Ngài chú ý đến vấn đề. Nhưng khi mắt họ, dõi theo mắt của Đức Chúa Giê-su, rơi xuống nền đất nơi chân Ngài, sắc mặt họ thay đổi. Tại đó, được viết ra trước mặt họ, là những điều bí mật tội lỗi trong chính đời sống họ. Dân chúng đang nhìn xem thấy sự thay đổi đột ngột của vẻ mặt, và xô tới để khám phá xem điều gì mà họ đang chăm chú nhìn với sự kinh ngạc và hổ thẹn như vậy. DA 461.2

Với tất cả những lời tuyên xưng tôn kính luật pháp, các thầy thông giáo này, khi đưa ra lời buộc tội người đàn bà, lại đang xem thường các điều khoản của luật ấy. Việc tố cáo bà là bổn phận của người chồng, và những kẻ phạm tội phải bị trừng phạt ngang nhau. Hành động của những kẻ buộc tội hoàn toàn không có thẩm quyền. Tuy nhiên, Đức Chúa Giê-su đối phó với họ trên chính lập trường của họ. Luật pháp quy định rằng trong hình phạt ném đá, các nhân chứng của vụ việc phải là người đầu tiên ném đá. Bấy giờ Ngài đứng dậy, và chăm chú nhìn vào các trưởng lão đang mưu mô, Đức Chúa Giê-su phán: “Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy trước nhứt ném đá vào người.” Rồi cúi xuống, Ngài tiếp tục viết trên đất. DA 461.3

Ngài đã không gạt bỏ luật pháp ban truyền qua Môi-se, cũng chẳng vi phạm thẩm quyền của La-mã. Những kẻ tố cáo đã bị đánh bại. Giờ đây, chiếc áo thánh khiết giả tạo của họ đã bị lột ra, họ đứng đó, có tội và bị kết án, trước sự Hiện Diện của Đấng Thanh Sạch Vô Cùng. Họ run sợ rằng những điều gian ác giấu kín trong đời sống mình sẽ bị phơi bày trước đám đông; và lần lượt từng người, cúi đầu và mắt nhìn xuống, họ lén lút bỏ đi, để lại nạn nhân của họ với Đấng Cứu Thế đầy lòng thương xót. DA 461.4

Đức Chúa Giê-su đứng dậy, nhìn người đàn bà và phán: “Hỡi đàn bà kia, những kẻ cáo ngươi ở đâu? Không ai định tội ngươi sao? Người thưa rằng: Lạy Chúa, không ai hết. Đức Chúa Giê-su phán rằng: Ta cũng không định tội ngươi; hãy đi, đừng phạm tội nữa.” DA 461.5

Người đàn bà đã đứng trước mặt Đức Chúa Giê-su, co rúm vì sợ hãi. Lời Ngài, “Ai trong các ngươi là người vô tội, hãy trước nhứt ném đá vào người,” đã đến với bà như một bản án tử hình. Bà không dám ngước mắt nhìn lên gương mặt của Đấng Cứu Thế, nhưng lặng lẽ chờ đợi số phận mình. Bà kinh ngạc khi thấy những kẻ tố cáo mình lui đi, câm lặng và bối rối; rồi những lời đầy hy vọng vang đến tai bà, “Ta cũng không định tội ngươi; hãy đi, đừng phạm tội nữa.” Lòng bà tan chảy, và bà gieo mình xuống nơi chân Đức Chúa Giê-su, nức nở bày tỏ tình yêu thương biết ơn, và với những giọt nước mắt đắng cay xưng nhận tội lỗi mình. DA 462.1

Đối với bà, đây là khởi đầu của một đời sống mới, một đời sống thanh sạch và bình an, tận hiến cho việc phụng sự Đức Chúa Trời. Trong việc nâng dậy linh hồn sa ngã này, Đức Chúa Giê-su đã thực hiện một phép lạ lớn hơn cả việc chữa lành căn bệnh thể xác trầm trọng nhất; Ngài đã chữa lành căn bệnh thuộc linh dẫn đến sự chết đời đời. Người đàn bà ăn năn này đã trở thành một trong những môn đồ trung kiên nhất của Ngài. Với tình yêu thương và lòng tận tụy hy sinh, bà đã đáp đền lòng thương xót tha thứ của Ngài. DA 462.2

Trong hành động tha thứ cho người đàn bà này và khích lệ bà sống một đời sống tốt đẹp hơn, bản tánh của Đức Chúa Giê-su chiếu rạng trong vẻ đẹp của sự công bình trọn vẹn. Trong khi Ngài không khỏa lấp tội lỗi, cũng chẳng làm nhẹ đi ý thức về tội, Ngài không tìm cách kết án, nhưng để cứu rỗi. Thế gian chỉ có sự khinh miệt và chế nhạo dành cho người đàn bà lầm lỗi này; nhưng Đức Chúa Giê-su phán những lời an ủi và hy vọng. Đấng Vô Tội thương xót sự yếu đuối của kẻ có tội, và đưa tay cứu giúp bà. Trong khi những người Pha-ri-si giả hình lên án, thì Đức Chúa Giê-su bảo bà, “Hãy đi, đừng phạm tội nữa.” DA 462.3

Không phải môn đồ của Đấng Christ là người, với ánh mắt ngoảnh đi, quay lưng lại với những kẻ lầm lỗi, để mặc họ không ngăn cản đeo đuổi con đường sa đọa của mình. Những kẻ hấp tấp tố cáo người khác, và sốt sắng đưa họ ra trước công lý, thường trong chính đời sống mình lại còn nhiều tội lỗi hơn họ. Người ta ghét kẻ có tội, mà lại yêu tội lỗi. Đấng Christ ghét tội lỗi, nhưng yêu kẻ có tội. Đây sẽ là tinh thần của tất cả những ai theo Ngài. Tình yêu thương Cơ-đốc thì chậm chê trách, mau nhận biết sự ăn năn, sẵn lòng tha thứ, khích lệ, đặt kẻ lạc lối vào con đường thánh khiết, và giữ vững bước chân họ trên con đường ấy. DA 462.4