Tại Lễ Lều Tạm

Chương này dựa trên Giăng 7:1-15, 37-39. DA 447.1

Mỗi năm ba lần, người Do Thái được lệnh phải nhóm họp tại Giê-ru-sa-lem vì mục đích tôn giáo. Ẩn mình trong trụ mây, Đấng Lãnh Đạo vô hình của Y-sơ-ra-ên đã ban ra những chỉ thị liên quan đến những cuộc nhóm họp này. Trong thời gian dân Do Thái bị lưu đày, họ không thể giữ những lễ này; nhưng khi dân sự được phục hồi về xứ sở của mình, việc giữ những lễ kỷ niệm này lại được khởi sự một lần nữa. Đó là ý định của Đức Chúa Trời rằng những lễ kỷ niệm này phải nhắc dân sự nhớ đến Ngài. Nhưng ngoại trừ một số ít, các thầy tế lễ và những người lãnh đạo của dân tộc đã đánh mất mục đích này. Đấng đã thiết lập những cuộc nhóm họp quốc gia này và hiểu rõ ý nghĩa của chúng đã chứng kiến sự bại hoại của chúng. DA 447.2

Lễ Lều Tạm là cuộc nhóm họp kết thúc trong năm. Đó là ý định của Đức Chúa Trời rằng vào dịp này dân sự phải suy gẫm về lòng nhân từ và sự thương xót của Ngài. Cả xứ đã được đặt dưới sự dẫn dắt của Ngài, nhận lãnh phước hạnh của Ngài. Ngày và đêm sự coi sóc của Ngài vẫn tiếp tục. Mặt trời và mưa đã khiến cho đất sanh sản hoa lợi. Từ các thung lũng và đồng bằng của xứ Pa-lét-tin, mùa gặt đã được thâu trữ. Các trái ô-li-ve đã được hái, và dầu quý báu được chứa trong các bình. Cây chà là đã đem lại sản vật của nó. Những chùm nho tím đã được đạp trong bồn ép rượu. DA 447.3

Lễ kéo dài bảy ngày, và để cử hành lễ ấy, cư dân của xứ Pa-lét-tin, cùng với nhiều người từ các xứ khác, đã rời nhà mình mà đến Giê-ru-sa-lem. Từ xa và gần, dân sự kéo đến, tay cầm một dấu hiệu của niềm vui mừng. Già và trẻ, giàu và nghèo, ai nấy đều đem một vật gì đó làm của lễ dâng tạ ơn lên Đấng đã lấy sự nhân từ Ngài mà đội mão cho năm, và làm cho các lối đi của Ngài đượm nhuần dầu mỡ. Mọi thứ có thể làm vui mắt và bày tỏ niềm vui chung đều được mang từ rừng về; thành phố mang dáng vẻ của một khu rừng xinh đẹp. DA 448.1

Lễ này không chỉ là sự tạ ơn về mùa gặt, mà còn là lễ kỷ niệm sự che chở chăm sóc của Đức Chúa Trời trên Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng. Để tưởng nhớ đời sống lều trại của họ, dân Y-sơ-ra-ên trong kỳ lễ đã ở trong các trại hoặc lều tạm làm bằng nhánh cây xanh. Những trại này được dựng lên trên các đường phố, trong các hành lang đền thờ, hoặc trên các mái nhà. Các đồi núi và thung lũng bao quanh Giê-ru-sa-lem cũng rải rác những nơi cư ngụ đầy lá xanh này, và dường như rộn ràng người. DA 448.2

Với bài thánh ca và sự tạ ơn, những người thờ phượng đã cử hành dịp này. Một ít lâu trước kỳ lễ là Ngày Đại Lễ Chuộc Tội, khi đó, sau khi xưng tội mình, dân sự được tuyên bố là đã được hòa thuận với Thiên Đàng. Như thế con đường đã được dọn sẵn cho niềm vui mừng của kỳ lễ.

“Ha-lê-lu-gia! Hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì Ngài là thiện; Sự nhân từ Ngài còn đến đời đời.” (Thi-thiên 106:1)

vang lên một cách khải hoàn, trong khi đủ mọi loại âm nhạc, hòa lẫn với tiếng reo hô-sa-na, đệm theo lời ca xướng hợp nhất. Đền thờ là trung tâm của niềm vui chung. Đây là sự huy hoàng của các nghi lễ tế sinh. Tại đây, đứng hai bên các bậc thang bằng đá cẩm thạch trắng của tòa nhà thánh, ca đoàn người Lê-vi dẫn dắt phần thánh nhạc. Đoàn dân thờ phượng đông đảo, phất các nhánh chà là và sim, cất tiếng hòa theo và họa lại điệp khúc; và một lần nữa giai điệu được tiếp nối bởi những giọng hát gần và xa, cho đến khi các đồi núi bao quanh đều vang vọng lời ca ngợi. DA 448.3

Ban đêm, đền thờ và hành lang của nó rực sáng với ánh đèn nhân tạo. Âm nhạc, sự phất các nhánh chà là, những tiếng hô-sa-na vui mừng, đám đông dân chúng rộng lớn, mà trên họ ánh sáng tỏa xuống từ những ngọn đèn treo, hàng ngũ các thầy tế lễ, và vẻ uy nghi của các nghi lễ, tất cả kết hợp lại để tạo nên một cảnh tượng gây ấn tượng sâu sắc cho người chứng kiến. Nhưng nghi lễ gây ấn tượng nhất của kỳ lễ, nghi lễ khơi dậy niềm vui mừng lớn nhất, là nghi lễ kỷ niệm một biến cố trong cuộc hành trình nơi đồng vắng. DA 448.4

Vào lúc rạng đông đầu tiên, các thầy tế lễ thổi một hồi kèn bạc dài và chói tai, và những tiếng kèn đáp lại, cùng những tiếng reo vui mừng của dân chúng từ các trại của họ, vang vọng qua đồi núi và thung lũng, chào đón ngày lễ. Rồi thầy tế lễ múc từ dòng nước chảy của suối Xết-rôn một bình nước, và nâng nó lên cao, trong khi các tiếng kèn vang lên, ông bước lên các bậc thang rộng lớn của đền thờ, giữ nhịp theo âm nhạc bằng bước chân chậm rãi và khoan thai, vừa đi vừa ca xướng,

“Hỡi Giê-ru-sa-lem, chân chúng ta dừng lại Trong các cửa ngươi.” (Thi-thiên 122:2)

DA 448.5

Ông mang bình đến bàn thờ, vốn chiếm vị trí trung tâm trong hành lang của các thầy tế lễ. Tại đây có hai chậu bạc, mỗi chậu có một thầy tế lễ đứng bên. Bình nước được đổ vào chậu này, và một bình rượu vào chậu kia; và nước trong cả hai chảy vào một ống dẫn thông với suối Xết-rôn, và được dẫn đến Biển Chết. Sự bày tỏ nước thánh này tượng trưng cho dòng suối mà theo mạng lịnh của Đức Chúa Trời đã vọt ra từ tảng đá để làm dịu cơn khát của con cái Y-sơ-ra-ên. Rồi những điệu ca hân hoan vang lên,

“Nầy, Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi tôi; tôi sẽ tin cậy và không sợ hãi. Vì Đức Giê-hô-va, chính Đức Giê-hô-va, là sức mạnh của tôi, lời ca tụng của tôi; Ngài đã nên sự cứu rỗi tôi. Vậy nên các ngươi sẽ vui vẻ mà múc nước nơi các nguồn sự cứu;” (Ê-sai 12:2,3)

DA 449.1

Khi các con trai của Giô-sép chuẩn bị tham dự Lễ Lều Tạm, họ thấy rằng Đấng Christ không có động thái nào biểu lộ ý định tham dự của Ngài. Họ lo lắng quan sát Ngài. Kể từ khi chữa lành tại Bê-tết-đa, Ngài đã không tham dự các cuộc nhóm họp quốc gia. Để tránh sự xung đột vô ích với những người lãnh đạo tại Giê-ru-sa-lem, Ngài đã giới hạn công việc của Ngài trong xứ Ga-li-lê. Việc Ngài dường như xao lãng những cuộc nhóm họp tôn giáo lớn, và sự thù hằn mà các thầy tế lễ và các thầy thông giáo bày tỏ đối với Ngài, là một nguyên nhân gây hoang mang cho những người chung quanh Ngài, và ngay cả cho chính các môn đồ và bà con của Ngài. Trong sự giảng dạy của mình, Ngài đã chú trọng đến các phước lành của sự vâng giữ luật pháp Đức Chúa Trời, vậy mà chính Ngài dường như lại thờ ơ đối với việc thờ phượng đã được Đức Chúa Trời thiết lập. Việc Ngài hòa mình với người thâu thuế và những kẻ có tiếng xấu khác, sự Ngài coi thường những nghi thức của các thầy thông giáo, và sự tự do mà Ngài gạt bỏ những đòi hỏi theo truyền thống liên quan đến ngày Sa-bát, tất cả dường như đặt Ngài vào thế đối nghịch với các nhà cầm quyền tôn giáo, làm dấy lên nhiều thắc mắc. Các em trai Ngài cho rằng đó là một sai lầm khi Ngài làm xa lánh những bậc vĩ nhân và những người học thức của dân tộc. Họ cảm thấy rằng những người này hẳn phải đúng, và rằng Đức Chúa Giê-su đã sai lầm khi tự đặt mình vào thế đối nghịch với họ. Nhưng họ đã chứng kiến đời sống không chỗ trách được của Ngài, và dù không xếp mình vào hàng môn đồ của Ngài, họ đã bị ấn tượng sâu sắc bởi các việc làm của Ngài. Sự nổi tiếng của Ngài tại Ga-li-lê làm thỏa lòng tham vọng của họ; họ vẫn hy vọng rằng Ngài sẽ bày tỏ một bằng chứng về quyền năng của Ngài, là điều sẽ khiến cho người Pha-ri-si thấy rằng Ngài chính là Đấng mà Ngài xưng nhận. Sẽ ra sao nếu Ngài là Đấng Mê-si, là Vua của Y-sơ-ra-ên! Họ ấp ủ ý nghĩ này với niềm thỏa mãn đầy kiêu hãnh. DA 450.1

Họ lo lắng về điều này đến nỗi họ thúc giục Đấng Christ đi đến Giê-ru-sa-lem. Họ nói: “Hãy đi khỏi đây, mà qua xứ Giu-đê, để cho các môn đồ Thầy cũng được xem công việc Thầy làm. Vì không ai làm việc gì cách kín giấu mà lại muốn tỏ mình ra. Nếu Thầy làm những sự đó, thì hãy tỏ mình cho thiên hạ.” Chữ “nếu” biểu lộ sự nghi ngờ và lòng vô tín. Họ gán cho Ngài sự hèn nhát và yếu đuối. Nếu Ngài biết rằng Ngài là Đấng Mê-si, thì tại sao có sự dè dặt và bất động kỳ lạ này? Nếu Ngài thật sự có quyền năng như thế, tại sao không mạnh dạn đi đến Giê-ru-sa-lem mà khẳng định những lời tuyên xưng của Ngài? Tại sao không thực hiện tại Giê-ru-sa-lem những việc kỳ diệu được đồn về Ngài tại Ga-li-lê? Họ nói: Đừng ẩn mình trong những tỉnh hẻo lánh và thực hiện những việc làm quyền năng của Thầy vì ích lợi của những nông dân và ngư phủ ngu dốt. Hãy ra mắt tại kinh đô, chiếm được sự ủng hộ của các thầy tế lễ và những người cai trị, và liên hiệp cả dân tộc trong việc thiết lập vương quốc mới. DA 450.2

Các em trai này của Đức Chúa Giê-su lý luận theo động cơ ích kỷ thường thấy trong lòng những kẻ tham vọng phô trương. Tinh thần này là tinh thần thống trị của thế gian. Họ phật lòng vì rằng, thay vì tìm kiếm một ngai vàng tạm thời, Đấng Christ đã tuyên bố mình là bánh sự sống. Họ vô cùng thất vọng khi rất nhiều môn đồ của Ngài lìa bỏ Ngài. Chính họ cũng quay lưng khỏi Ngài để tránh thập tự giá của việc thừa nhận điều mà các việc làm của Ngài bày tỏ—rằng Ngài là Đấng được Đức Chúa Trời sai đến. DA 451.1

“Đức Chúa Giê-su phán cùng họ rằng: Thì giờ Ta chưa đến; nhưng thì giờ các ngươi vẫn sẵn cả. Thế gian chẳng ghét các ngươi được; nhưng ghét Ta, vì Ta làm chứng về thế gian rằng công việc nó là ác. Các ngươi hãy lên dự lễ nầy, còn Ta chưa lên dự lễ đó, vì thì giờ Ta chưa trọn. Ngài phán như vậy rồi, cứ ở lại xứ Ga-li-lê.” Các em Ngài đã nói với Ngài bằng giọng điệu ra lệnh, vạch ra con đường mà Ngài phải đi. Ngài trả lại lời quở trách của họ, xếp họ chung không phải với các môn đồ đã từ bỏ mình, mà với thế gian. Ngài phán: “Thế gian chẳng ghét các ngươi được, nhưng ghét Ta, vì Ta làm chứng về thế gian rằng công việc nó là ác.” Thế gian không ghét những kẻ có cùng tinh thần với nó; nó yêu họ như là người của nó. DA 451.2

Đối với Đấng Christ, thế gian không phải là nơi của sự an nhàn và tự đề cao mình. Ngài không rình cơ hội để chiếm lấy quyền lực và vinh hiển của nó. Nó chẳng dành cho Ngài phần thưởng nào như vậy. Đó là nơi Đức Chúa Cha của Ngài đã sai Ngài đến. Ngài đã được ban cho để sự sống của thế gian, để hoàn thành kế hoạch cứu chuộc cao cả. Ngài đang hoàn thành công việc của mình cho nhân loại sa ngã. Nhưng Ngài không được tự phụ, không được lao vào nguy hiểm, không được làm cho cơn khủng hoảng đến sớm. Mỗi biến cố trong công việc của Ngài đều có giờ đã định. Ngài phải kiên nhẫn chờ đợi. Ngài biết rằng mình sẽ phải nhận lấy lòng thù ghét của thế gian; Ngài biết rằng công việc của mình sẽ dẫn đến cái chết; nhưng nếu phơi bày mình ra quá sớm thì sẽ không hợp với ý muốn của Đức Chúa Cha. DA 451.3

Từ Giê-ru-sa-lem, tin tức về các phép lạ của Đấng Christ đã lan đến khắp nơi mà người Do Thái tản lạc; và dù trong nhiều tháng Ngài đã vắng mặt nơi các kỳ lễ, lòng quan tâm đến Ngài vẫn không giảm bớt. Nhiều người từ khắp các nơi trên thế giới đã đến dự Lễ Lều Tạm với hy vọng được thấy Ngài. Khi kỳ lễ bắt đầu, có nhiều người dò hỏi về Ngài. Người Pha-ri-si và các quan trưởng trông đợi Ngài đến, mong có cơ hội để lên án Ngài. Họ lo lắng hỏi: “Người ở đâu?” nhưng chẳng ai biết. Ý nghĩ về Ngài chiếm trọn tâm trí mọi người. Vì sợ các thầy tế lễ và các quan trưởng, không ai dám nhìn nhận Ngài là Đấng Mê-si, nhưng khắp nơi đều có sự bàn luận âm thầm mà sốt sắng về Ngài. Nhiều người bênh vực Ngài là Đấng được Đức Chúa Trời sai đến, trong khi những kẻ khác lại tố cáo Ngài là kẻ lừa dối dân chúng. DA 451.4

Trong khi đó, Đức Chúa Giê-su đã lặng lẽ đến Giê-ru-sa-lem. Ngài đã chọn một con đường ít người qua lại để đi, hầu tránh những lữ khách từ khắp nơi đang lên thành. Nếu Ngài nhập vào một trong những đoàn lữ hành lên dự lễ, thì sự chú ý của công chúng sẽ đổ dồn vào Ngài khi Ngài vào thành, và một cuộc biểu dương của dân chúng ủng hộ Ngài sẽ khiến chính quyền chống lại Ngài. Chính để tránh điều nầy mà Ngài đã chọn đi một mình. DA 452.1

Giữa kỳ lễ, khi sự xôn xao về Ngài lên đến tột đỉnh, Ngài bước vào sân đền thờ trước mặt đoàn dân đông. Vì Ngài vắng mặt nơi kỳ lễ, có người đã quả quyết rằng Ngài không dám tự đặt mình vào quyền của các thầy tế lễ và các quan trưởng. Hết thảy đều kinh ngạc trước sự hiện diện của Ngài. Mọi tiếng nói đều im bặt. Ai nấy đều lấy làm lạ về sự uy nghi và lòng can đảm trong phong thái của Ngài giữa những kẻ thù đầy thế lực đang khát máu Ngài. DA 452.2

Đứng như vậy, là trung tâm thu hút của đoàn dân đông đảo ấy, Đức Chúa Giê-su phán cùng họ theo cách chưa từng có người nào làm. Những lời của Ngài cho thấy một sự hiểu biết về luật pháp và các định chế của Y-sơ-ra-ên, về việc tế lễ và sự dạy dỗ của các tiên tri, vượt xa sự hiểu biết của các thầy tế lễ và các thầy thông giáo. Ngài phá vỡ những rào cản của hình thức và truyền thống. Những cảnh tượng của đời sống tương lai dường như trải ra trước mặt Ngài. Như một Đấng nhìn thấy những điều vô hình, Ngài nói về những điều thuộc đất và thuộc trời, thuộc người và thuộc thần, với thẩm quyền chắc chắn. Lời của Ngài rất rõ ràng và đầy thuyết phục; và một lần nữa, như tại Ca-bê-na-um, dân chúng đều kinh ngạc về sự dạy dỗ của Ngài;

“Mọi người đều cảm động về sự dạy dỗ của Ngài; vì Ngài dùng quyền phép mà phán.” (Lu-ca 4:32)

Qua nhiều cách diễn đạt khác nhau, Ngài cảnh báo những kẻ nghe Ngài về tai họa sẽ giáng xuống mọi kẻ chối bỏ những phước lành mà Ngài đến để ban cho họ. Ngài đã ban cho họ mọi bằng chứng có thể có rằng Ngài đến từ Đức Chúa Trời, và đã làm mọi nỗ lực có thể để đem họ đến chỗ ăn năn. Ngài sẽ không bị chính dân tộc mình chối bỏ và giết hại nếu Ngài có thể cứu họ khỏi tội ác của một hành động như vậy. DA 452.3

Mọi người đều lấy làm lạ về sự hiểu biết của Ngài về luật pháp và các lời tiên tri; và câu hỏi truyền từ người nầy sang người khác: “Người nầy chưa từng học, làm sao biết được Kinh Thánh?” Không ai được xem là đủ tư cách làm một giáo sư tôn giáo trừ phi người ấy đã học trong các trường của thầy thông giáo, và cả Đức Chúa Giê-su lẫn Giăng Báp-tít đều bị xem là dốt nát vì họ chưa nhận được sự huấn luyện nầy. Những kẻ nghe họ đều kinh ngạc về sự hiểu biết Kinh Thánh của họ, dù “chưa từng học.” Bởi loài người thì thật họ chưa từng học; nhưng Đức Chúa Trời của trời là Thầy của họ, và từ Ngài họ đã nhận được sự khôn ngoan cao nhất. DA 453.1

Khi Đức Chúa Giê-su phán dạy trong sân đền thờ, dân chúng bị mê mẩn lắng nghe. Chính những kẻ hung dữ nhất chống lại Ngài lại cảm thấy mình bất lực không thể làm hại Ngài. Trong lúc ấy, mọi mối quan tâm khác đều bị quên đi. DA 453.2

Ngày qua ngày Ngài dạy dỗ dân chúng, cho đến ngày cuối cùng, “là ngày trọng thể của kỳ lễ.” Buổi sáng của ngày nầy, dân chúng đã mệt mỏi vì mùa lễ kéo dài. Bỗng nhiên Đức Chúa Giê-su cất tiếng, vang dội khắp các sân đền thờ: DA 453.3

“Nếu người nào khát, hãy đến cùng Ta mà uống. Kẻ nào tin Ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh Thánh đã chép vậy.” Tình trạng của dân chúng làm cho lời kêu gọi nầy rất mạnh mẽ. Họ đã bị cuốn vào một cảnh huy hoàng và lễ hội liên tục, mắt họ bị chói lòa bởi ánh sáng và màu sắc, tai họ được thưởng thức âm nhạc du dương nhất; nhưng trong tất cả vòng nghi lễ ấy chẳng có gì đáp ứng được nhu cầu của tâm linh, chẳng có gì làm thỏa lòng khao khát của linh hồn về điều không hề hư mất. Đức Chúa Giê-su mời họ đến và uống nơi suối nguồn sự sống, là nước sẽ ở trong họ thành một mạch nước văng ra cho đến sự sống đời đời. DA 453.4

Sáng hôm ấy thầy tế lễ đã cử hành nghi lễ kỷ niệm việc đập vào tảng đá trong đồng vắng. Tảng đá ấy là biểu tượng của Đấng mà qua sự chết của Ngài sẽ làm cho những dòng sông cứu rỗi hằng sống tuôn chảy đến mọi kẻ đang khát. Lời của Đấng Christ là nước sự sống. Tại đó, trước sự hiện diện của đoàn dân đông tụ họp, Ngài biệt riêng mình ra để chịu bị đánh, hầu cho nước sự sống có thể tuôn chảy đến thế gian. Khi đánh Đấng Christ, Sa-tan tưởng có thể tiêu diệt Chúa của sự sống; nhưng từ tảng đá bị đánh ấy lại tuôn ra nước hằng sống. Khi Đức Chúa Giê-su phán cùng dân chúng như vậy, lòng họ rung động với một sự kính sợ lạ lùng, và nhiều người sẵn sàng kêu lên, như người đàn bà Sa-ma-ri:

“Người đàn bà thưa: Lạy Chúa, xin cho tôi nước ấy, để cho tôi không khát và không đến đây múc nước nữa.” (Giăng 4:15)

DA 454.1

Đức Chúa Giê-su biết những nhu cầu của linh hồn. Sự xa hoa, giàu có và vinh dự không thể làm thỏa lòng. “Nếu người nào khát, hãy đến cùng Ta.” Người giàu, người nghèo, người sang, người hèn đều được tiếp đón như nhau. Ngài hứa làm nhẹ tâm trí nặng nề, an ủi kẻ buồn rầu và ban hy vọng cho kẻ ngã lòng. Nhiều người trong số những kẻ nghe Đức Chúa Giê-su đang than khóc về những hy vọng tan vỡ, nhiều người đang nuôi một nỗi đau thầm kín, nhiều người đang tìm cách làm thỏa lòng khao khát bồn chồn của mình bằng những điều của thế gian và sự khen ngợi của loài người; nhưng khi đã đạt được tất cả, họ nhận ra rằng mình chỉ nhọc công để đến một bể nứt, mà từ đó họ không thể làm dịu cơn khát. Giữa cảnh hân hoan lấp lánh, họ đứng đó, bất mãn và buồn bã. Tiếng kêu bất ngờ ấy, “Nếu người nào khát,” đã làm họ giật mình khỏi sự suy tư sầu não, và khi họ lắng nghe những lời tiếp theo, tâm trí họ bừng lên một hy vọng mới. Đức Thánh Linh bày tỏ biểu tượng trước mặt họ cho đến khi họ nhìn thấy trong đó sự ban cho vô giá của sự cứu rỗi. DA 454.2

Tiếng kêu gọi của Đấng Christ đến với linh hồn đang khát vẫn còn vang vọng, và nó kêu gọi chúng ta với quyền năng còn lớn hơn cả những người đã nghe nó trong đền thờ vào ngày cuối cùng của kỳ lễ ấy. Nguồn suối được mở ra cho tất cả mọi người. Những kẻ mệt mỏi và kiệt sức được ban cho ngụm nước tươi mới của sự sống đời đời. Đức Chúa Giê-su vẫn còn kêu lên rằng: “Nếu người nào khát, hãy đến cùng ta mà uống.”

“Thánh Linh và vợ mới cùng nói: Hãy đến! Kẻ nào nghe cũng hãy nói rằng: Hãy đến! Ai khát, khá đến. Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không.” (Khải-huyền 22:17)

“nhưng uống nước ta sẽ cho, thì chẳng hề khát nữa. Nước ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó, văng ra cho đến sự sống đời đời.” (Giăng 4:14)

DA 454.3