Ai Là Lớn Hơn Hết?
Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 17:22-27; Ma-thi-ơ 18:1-20; Mác 9:30-50; Lu-ca 9:46-48. DA 432.1
Khi trở về thành Ca-bê-na-um, Đức Chúa Giê-su không đến những nơi quen thuộc mà Ngài đã từng giảng dạy dân chúng, nhưng cùng các môn đồ lặng lẽ tìm đến ngôi nhà sẽ là chỗ trú ngụ tạm thời của Ngài. Trong thời gian còn lại của chuyến lưu lại xứ Ga-li-lê, mục đích của Ngài là dạy dỗ các môn đồ hơn là làm việc cho đoàn dân đông. DA 432.2
Trong chuyến hành trình qua xứ Ga-li-lê, Đấng Christ lại cố gắng chuẩn bị tâm trí các môn đồ cho những cảnh tượng sắp đến với Ngài. Ngài nói với họ rằng Ngài sẽ lên thành Giê-ru-sa-lem để chịu chết và sống lại. Rồi Ngài thêm vào lời thông báo lạ lùng và trang nghiêm rằng Ngài sẽ bị phản nộp vào tay kẻ thù. Ngay cả lúc này các môn đồ vẫn không hiểu lời Ngài. Mặc dù bóng tối của một nỗi buồn lớn phủ trên họ, một tinh thần ganh đua vẫn nảy sinh trong lòng họ. Họ tranh luận với nhau ai sẽ được kể là lớn nhất trong nước thiên đàng. Họ nghĩ có thể giấu Đức Chúa Giê-su cuộc tranh cãi này, và họ không đến gần bên Ngài như thường lệ, nhưng tụt lại phía sau, vì thế Ngài đi trước họ khi vào thành Ca-bê-na-um. Đức Chúa Giê-su đọc thấu tư tưởng họ, và Ngài khao khát khuyên bảo và dạy dỗ họ. Nhưng để làm điều đó Ngài chờ đợi một giờ phút yên tĩnh, khi lòng họ sẵn sàng tiếp nhận lời Ngài. DA 432.3
Ít lâu sau khi họ đến thành, người thu thuế đền thờ đến hỏi Phi-e-rơ rằng: “Thầy ngươi có nộp thuế chăng?” Khoản thuế này không phải là thuế dân sự, nhưng là một sự đóng góp tôn giáo mà mỗi người Do Thái buộc phải nộp hằng năm để duy trì đền thờ. Việc từ chối nộp thuế sẽ bị coi là bất trung với đền thờ — theo sự đánh giá của các thầy thông giáo thì đó là một tội rất nặng. Thái độ của Đấng Cứu Thế đối với các luật lệ của thầy thông giáo, cùng những lời quở trách thẳng thắn của Ngài đối với những kẻ bảo vệ truyền thống, đã tạo cớ cho lời buộc tội rằng Ngài đang tìm cách lật đổ sự thờ phượng nơi đền thờ. Giờ đây kẻ thù của Ngài thấy có cơ hội bôi nhọ Ngài. Nơi người thu thuế họ tìm được một đồng minh sẵn lòng. DA 432.4
Phi-e-rơ thấy trong câu hỏi của người thu thuế một sự ám chỉ động chạm đến lòng trung thành của Đấng Christ đối với đền thờ. Vì hăng hái cho danh dự của Thầy mình, ông vội vàng trả lời, không hỏi ý Ngài, rằng Đức Chúa Giê-su sẽ nộp thuế. DA 433.1
Nhưng Phi-e-rơ chỉ hiểu một phần mục đích của người hỏi mình. Có một số hạng người được coi là miễn nộp thuế. Trong thời Môi-se, khi người Lê-vi được biệt riêng cho việc phục vụ đền thánh, họ không được cho phần sản nghiệp nào giữa dân chúng. Chúa phán: “Lê-vi không có phần, cũng không có sản nghiệp chung với anh em mình; Đức Giê-hô-va là sản nghiệp của người.” Phục truyền luật lệ ký 10:9. Vào thời Đấng Christ, các thầy tế lễ và người Lê-vi vẫn được coi là biệt riêng cách đặc biệt cho đền thờ, và không buộc phải đóng góp khoản thuế hằng năm để duy trì đền thờ. Các tiên tri cũng được miễn khoản đóng góp này. Khi đòi Đức Chúa Giê-su nộp thuế, các thầy thông giáo đã gạt bỏ tư cách của Ngài là một tiên tri hay một thầy dạy, và đối xử với Ngài như với bất cứ người tầm thường nào. Việc Ngài từ chối nộp thuế sẽ bị xuyên tạc là bất trung với đền thờ; còn mặt khác, việc Ngài nộp thuế sẽ được coi là biện minh cho sự khước từ Ngài như một tiên tri. DA 433.2
Chỉ ít lâu trước đó, Phi-e-rơ đã xưng nhận Đức Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời; nhưng giờ đây ông đã bỏ lỡ một cơ hội để bày tỏ phẩm cách của Thầy mình. Bằng câu trả lời với người thu thuế rằng Đức Chúa Giê-su sẽ nộp thuế, ông thực ra đã chuẩn nhận quan niệm sai lầm về Ngài mà các thầy tế lễ và những người cai trị đang cố gắng phổ biến. DA 433.3
Khi Phi-e-rơ vào nhà, Đấng Cứu Thế không nhắc đến điều đã xảy ra, nhưng hỏi: “Hỡi Si-môn, ngươi nghĩ sao? Các vua thế gian thu thuế và lãnh cống của ai? của con trai mình hay là của người ngoài?” Phi-e-rơ thưa: “Của người ngoài.” Đức Chúa Giê-su phán: “Vậy thì các con trai được miễn thuế.” Trong khi dân chúng của một nước bị đánh thuế để cấp dưỡng cho vua mình, thì chính các con trai của vua được miễn. Cũng vậy, dân Y-sơ-ra-ên, dân tự xưng là dân của Đức Chúa Trời, bị buộc phải duy trì sự thờ phượng Ngài; nhưng Đức Chúa Giê-su, Con Đức Chúa Trời, không hề ở dưới sự ràng buộc ấy. Nếu các thầy tế lễ và người Lê-vi được miễn vì mối liên hệ của họ với đền thờ, thì Ngài lại càng được miễn hơn biết bao, là Đấng mà đền thờ chính là nhà của Cha Ngài. DA 433.4
Nếu Đức Chúa Giê-su nộp thuế mà không phản đối, thì Ngài thực ra đã thừa nhận tính chính đáng của sự đòi hỏi đó, và như vậy đã chối bỏ thần tánh của Ngài. Nhưng dù Ngài thấy nên đáp ứng sự đòi hỏi, Ngài vẫn phủ nhận cơ sở mà sự đòi hỏi đó dựa vào. Trong việc chu cấp cho khoản thuế, Ngài đã đưa ra bằng chứng về phẩm cách thiên thượng của Ngài. Điều ấy được tỏ rõ rằng Ngài là một với Đức Chúa Trời, và do đó không ở dưới sự đóng thuế như một thần dân tầm thường của nước này. DA 434.1
“Hãy ra biển,” Ngài chỉ dẫn Phi-e-rơ, “câu cá, bắt lấy con cá nào dính câu trước hết, banh miệng nó ra, sẽ thấy một đồng bạc; hãy lấy đem nộp thuế cho ta với ngươi.” DA 434.2
Mặc dù Ngài đã khoác nhân tánh lên thần tánh của mình, nhưng trong phép lạ này Ngài đã bày tỏ vinh hiển của Ngài. Điều rõ ràng là đây chính là Đấng đã phán qua Đa-vít: “Vì hết thảy thú rừng đều thuộc về ta, các bầy súc vật tại trên ngàn núi cũng vậy. Ta biết hết các chim của núi, mọi vật hay động trong đồng ruộng thuộc về ta. Nếu ta đói, ta chẳng nói cho ngươi hay; vì thế gian và muôn vật ở trong, đều thuộc về ta.” Thi thiên 50:10-12. DA 434.3
Trong khi Đức Chúa Giê-su tỏ rõ rằng Ngài không có nghĩa vụ phải nộp thuế, Ngài không tranh luận với người Do Thái về vấn đề này; vì họ sẽ xuyên tạc lời Ngài, và quay những lời ấy chống lại Ngài. Để khỏi gây cớ vấp phạm bởi sự từ chối nộp thuế, Ngài đã làm điều mà lẽ ra không thể đòi buộc Ngài cách chính đáng. Bài học này sẽ rất quý giá cho các môn đồ. Những thay đổi rõ rệt sắp sửa diễn ra trong mối liên hệ của họ với sự thờ phượng nơi đền thờ, và Đấng Christ dạy họ chớ đặt mình vào sự chống đối không cần thiết với trật tự đã được thiết lập. Trong khả năng có thể, họ phải tránh gây cớ cho sự xuyên tạc đức tin của mình. Mặc dù những người Cơ-đốc không được hi sinh một nguyên tắc nào của lẽ thật, họ nên tránh tranh luận mỗi khi có thể làm được. DA 434.4
Khi Đấng Christ và các môn đồ ở một mình trong nhà, trong lúc Phi-e-rơ đã ra biển, Đức Chúa Giê-su gọi những người còn lại đến cùng Ngài và hỏi: “Lúc đi đường, các ngươi tranh luận với nhau về việc gì vậy?” Sự hiện diện của Đức Chúa Giê-su, cùng câu hỏi của Ngài, đặt vấn đề trong một ánh sáng hoàn toàn khác với khi họ đang tranh cãi dọc đường. Sự hổ thẹn và lòng tự lên án khiến họ lặng thinh. Đức Chúa Giê-su đã phán với họ rằng Ngài sẽ chịu chết vì cớ họ, và tham vọng ích kỷ của họ tương phản đau đớn với tình yêu thương vị tha của Ngài. DA 434.5
Khi Đức Chúa Giê-su nói với họ rằng Ngài sẽ bị giết và sẽ sống lại, Ngài đang cố gắng dẫn họ vào cuộc trò chuyện về thử thách lớn lao của đức tin họ. Nếu họ đã sẵn sàng tiếp nhận điều Ngài muốn tỏ cho họ biết, thì họ đã được cứu khỏi nỗi thống khổ và tuyệt vọng cay đắng. Lời Ngài hẳn sẽ đem lại sự an ủi trong giờ phút mất mát và thất vọng. Nhưng mặc dù Ngài đã nói rõ ràng về điều đang chờ đợi Ngài, việc Ngài nhắc đến sự kiện rằng Ngài sắp lên thành Giê-ru-sa-lem một lần nữa lại khơi dậy hi vọng của họ rằng nước sắp được thiết lập. Điều này đã dẫn đến những câu hỏi về việc ai sẽ giữ các chức vị cao nhất. Khi Phi-e-rơ từ biển trở về, các môn đồ thuật cho ông câu hỏi của Đấng Cứu Thế, và cuối cùng một người trong họ dám hỏi Đức Chúa Giê-su: “Ai là lớn hơn hết trong nước thiên đàng?” DA 435.1
Đấng Cứu Thế gọi các môn đồ tụ họp lại quanh Ngài và phán với họ: “Nếu ai muốn làm đầu, thì sẽ làm rốt hết và làm tôi tớ mọi người.” Trong những lời này có một sự trang nghiêm và sâu sắc mà các môn đồ còn lâu mới hiểu thấu. Điều mà Đấng Christ nhận biết thì họ không thể thấy. Họ không hiểu bản chất nước của Đấng Christ, và sự thiếu hiểu biết này dường như là nguyên nhân của cuộc tranh cãi giữa họ. Nhưng nguyên nhân thật sự nằm sâu hơn. Bằng cách giải thích bản chất của nước Ngài, Đấng Christ có thể tạm thời dập tắt cuộc tranh giành của họ; nhưng điều này sẽ không chạm đến nguyên nhân nằm bên dưới. Ngay cả sau khi họ đã nhận được sự hiểu biết đầy đủ nhất, bất cứ vấn đề nào về thứ bậc cũng có thể khơi dậy lại sự rắc rối. Như vậy, tai họa sẽ giáng xuống Hội Thánh sau khi Đấng Christ ra đi. Cuộc tranh giành địa vị cao nhất là kết quả của chính cái tinh thần đã khởi đầu cuộc đại tranh chiến nơi các thế giới ở trên cao, và đã đem Đấng Christ từ thiên đàng xuống để chịu chết. Trước mắt Ngài hiện lên hình ảnh của Lu-xi-phe, “sao mai”, trong sự vinh hiển vượt trỗi hơn tất cả các thiên sứ vây quanh ngôi, và được liên kết trong mối quan hệ mật thiết nhất với Con Đức Chúa Trời. Lu-xi-phe đã nói: “Ta sẽ làm như Đấng Rất Cao”
“Hỡi sao mai, con trai của sáng sớm kia, sao ngươi từ trời sa xuống! Hỡi kẻ giày đạp các nước kia, ngươi bị chặt xuống đất là thể nào! Ta sẽ lên trên cao những đám mây, làm ra mình bằng Đấng Rất Cao.” (Ê-sai 14:12,14)
và lòng ham muốn tự tôn cao đã đem sự tranh giành vào các sân triều thiên đàng, và đã đày đuổi vô số cơ binh của Đức Chúa Trời. Nếu Lu-xi-phe thật sự muốn nên giống như Đấng Rất Cao, hắn hẳn đã không bao giờ rời bỏ địa vị được chỉ định cho mình ở thiên đàng; vì tinh thần của Đấng Rất Cao được tỏ ra trong sự phục vụ vô vị kỷ. Lu-xi-phe ham muốn quyền năng của Đức Chúa Trời, nhưng không ham muốn tánh hạnh của Ngài. Hắn tìm kiếm cho mình địa vị cao nhất, và mọi tạo vật bị thúc đẩy bởi tinh thần của hắn cũng sẽ làm như vậy. Như thế, sự xa cách, bất hòa, và tranh giành ắt sẽ không thể tránh khỏi. Quyền thống trị trở thành phần thưởng cho kẻ mạnh nhất. Nước của Sa-tan là một nước của vũ lực; mỗi cá nhân xem mọi kẻ khác như một chướng ngại cản đường tiến thân của chính mình, hoặc như một bậc thang để chính hắn leo lên một địa vị cao hơn. DA 435.2
Trong khi Lu-xi-phe cho rằng việc bằng Đức Chúa Trời là điều phải nắm giữ, thì Đấng Christ, là Đấng Cao Trọng, “đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự.” Phi-líp 2:7, 8. Bấy giờ thập tự giá đang ở ngay trước mặt Ngài; và chính các môn đồ của Ngài lại đầy dẫy lòng tự tìm kiếm bản thân—đúng là nguyên tắc của nước Sa-tan—đến nỗi họ không thể đồng cảm với Chúa mình, hay thậm chí không hiểu được Ngài khi Ngài nói về sự hạ mình của Ngài vì họ. DA 436.1
Rất dịu dàng, nhưng với sự nhấn mạnh trang nghiêm, Đức Chúa Giê-su cố gắng sửa chữa điều xấu xa ấy. Ngài chỉ cho thấy nguyên tắc nào ngự trị trong nước thiên đàng, và sự cao trọng thật sự gồm những gì, theo tiêu chuẩn của các sân triều thiên đàng. Những kẻ bị thúc đẩy bởi sự kiêu ngạo và lòng ham mê danh vọng chỉ nghĩ đến bản thân, và đến những phần thưởng mà họ sẽ nhận được, hơn là cách họ phải dâng lại cho Đức Chúa Trời những ân tứ mà họ đã nhận. Họ sẽ không có chỗ trong nước thiên đàng, vì họ đã đồng hàng với những kẻ theo Sa-tan. DA 436.2
Trước sự vinh hiển là sự khiêm nhường. Để giao cho một người địa vị cao trọng trước mặt loài người, Thiên đàng chọn người làm việc nào, giống như Giăng Báp-tít, nhận lấy một chỗ thấp hèn trước mặt Đức Chúa Trời. Người môn đồ giống trẻ con nhất là người hữu hiệu nhất trong công việc cho Đức Chúa Trời. Các đấng thông sáng trên trời có thể cộng tác với người nào tìm kiếm, không phải để tôn cao bản thân, mà để cứu các linh hồn. Ai cảm nhận sâu sắc nhất nhu cầu cần sự giúp đỡ thiêng liêng sẽ nài xin điều đó; và Đức Thánh Linh sẽ ban cho người ấy những thoáng nhìn về Đức Chúa Giê-su, là điều sẽ làm vững mạnh và nâng đỡ linh hồn. Từ sự thông công với Đấng Christ, người ấy sẽ đi ra để làm việc cho những kẻ đang hư mất trong tội lỗi của họ. Người ấy được xức dầu cho sứ mạng của mình; và người ấy thành công ở những nơi mà nhiều kẻ học thức và khôn ngoan về trí tuệ phải thất bại. DA 436.3
Nhưng khi người ta tự tôn cao bản thân, cảm thấy rằng họ là điều cần thiết cho sự thành công của kế hoạch vĩ đại của Đức Chúa Trời, thì Chúa khiến họ bị gạt sang một bên. Điều này làm rõ ràng rằng Chúa không lệ thuộc vào họ. Công việc không ngừng lại vì sự loại bỏ họ khỏi nó, nhưng vẫn tiến tới với quyền năng lớn hơn. DA 436.4
Đối với các môn đồ của Đức Chúa Giê-su, chỉ được dạy dỗ về bản chất nước Ngài là chưa đủ. Điều họ cần là một sự thay đổi tấm lòng để đem họ vào sự hòa hợp với các nguyên tắc của nước ấy. Gọi một đứa trẻ nhỏ đến với Ngài, Đức Chúa Giê-su đặt nó ở giữa họ; rồi dịu dàng ôm đứa nhỏ vào vòng tay, Ngài phán: “Nếu các ngươi không đổi lại và nên như đứa trẻ, thì chẳng được vào nước thiên đàng đâu.” Sự đơn sơ, sự quên mình, và tình yêu tin cậy của một đứa trẻ nhỏ là những đức tánh mà Thiên đàng quý trọng. Đây là những đặc điểm của sự cao trọng thật sự. DA 437.1
Một lần nữa, Đức Chúa Giê-su giải thích cho các môn đồ rằng nước Ngài không được đặc trưng bởi phẩm cách và sự phô trương trần thế. Dưới chân Đức Chúa Giê-su, tất cả những sự phân biệt này đều bị quên đi. Người giàu và người nghèo, kẻ học thức và kẻ dốt nát, gặp nhau, không hề nghĩ đến giai cấp hay địa vị trỗi hơn của thế gian. Tất cả đều gặp nhau như những linh hồn được mua bằng huyết, cùng lệ thuộc vào Đấng đã cứu chuộc họ về cho Đức Chúa Trời. DA 437.2
Linh hồn chân thành, ăn năn thống hối là quý báu trong mắt Đức Chúa Trời. Ngài đặt dấu ấn của chính Ngài trên loài người, không phải theo cấp bậc, không phải theo sự giàu có, không phải theo sự cao trọng về trí tuệ của họ, mà theo sự hiệp một của họ với Đấng Christ. Chúa của sự vinh hiển hài lòng với những kẻ có lòng nhu mì và khiêm nhường. Đa-vít thưa rằng: “Chúa cũng đã ban cho tôi sự cứu rỗi làm khiên;… và sự nhân từ Chúa”—như một yếu tố trong tánh hạnh con người—“đã làm tôi nên sang trọng.” Thi thiên 18:35. DA 437.3
Đức Chúa Giê-su phán: “Hễ ai vì danh ta chịu tiếp một đứa trẻ trong những đứa trẻ này, tức là chịu tiếp ta; còn ai chịu tiếp ta, thì chẳng phải chịu tiếp ta, bèn là chịu tiếp Đấng đã sai ta vậy.” “Đức Giê-hô-va phán như vầy: Trời là ngai ta, đất là bệ chân ta… Nầy là kẻ mà ta đoái đến: tức là kẻ nghèo khó, có lòng ăn năn đau đớn, nghe lời nói ta mà run.” Ê-sai 66:1, 2. DA 437.4
Những lời của Đấng Cứu Thế đánh thức trong lòng các môn đồ một cảm giác tự nghi ngờ bản thân. Không một ai bị chỉ ra cách đặc biệt trong câu trả lời; nhưng Giăng được dẫn đến chỗ tự hỏi liệu trong một trường hợp, hành động của mình có đúng hay không. Với tinh thần của một đứa trẻ, ông đặt vấn đề ấy trước Đức Chúa Giê-su. Ông thưa: “Thưa Thầy, chúng tôi từng thấy có người nhân danh Thầy mà trừ quỷ, người ấy không theo chúng ta, nên chúng tôi đã cấm.” DA 437.5
Gia-cơ và Giăng đã nghĩ rằng khi ngăn cản người ấy, họ đã nhắm đến sự vinh hiển của Chúa mình; nhưng họ bắt đầu thấy rằng họ ghen tị cho chính mình. Họ thừa nhận lỗi lầm của mình, và chấp nhận lời quở trách của Đức Chúa Giê-su: “Đừng cấm làm chi; vì chẳng ai cùng trong một lúc, vừa nhân danh ta làm phép lạ, vừa nói xấu ta được.” Không một ai tỏ ra thân thiện với Đấng Christ trong bất cứ cách nào lại đáng bị xua đuổi. Có nhiều người đã được cảm động sâu xa bởi tánh hạnh và công việc của Đấng Christ, và lòng họ đang mở ra với Ngài trong đức tin; và các môn đồ, là những kẻ không thể đọc được động cơ, phải cẩn thận đừng làm nản lòng những linh hồn này. Khi Đức Chúa Giê-su không còn hiện diện cách thân thể giữa họ nữa, và công việc được giao vào tay họ, họ không được dung dưỡng một tinh thần hẹp hòi, loại trừ, mà phải bày tỏ chính cái lòng cảm thông rộng lớn mà họ đã thấy nơi Thầy mình. DA 437.6
Sự kiện rằng một người không hợp với mọi ý tưởng hay quan điểm riêng của chúng ta sẽ không biện minh cho việc chúng ta cấm người ấy làm việc cho Đức Chúa Trời. Đấng Christ là Thầy Vĩ Đại; chúng ta không được phán xét hay ra lệnh, nhưng trong sự khiêm nhường, mỗi người phải ngồi dưới chân Đức Chúa Giê-su, và học theo Ngài. Mỗi linh hồn mà Đức Chúa Trời đã làm cho sẵn lòng là một dòng kênh qua đó Đấng Christ sẽ bày tỏ tình yêu tha thứ của Ngài. Chúng ta phải cẩn thận biết bao kẻo làm nản lòng một trong những người mang ánh sáng của Đức Chúa Trời, và do đó cản trở những tia sáng mà Ngài muốn chiếu ra cho thế gian! DA 438.1
Sự khắc nghiệt hay lạnh lùng mà một môn đồ tỏ ra đối với người mà Đấng Christ đang lôi kéo đến—một hành động như việc Giăng cấm một người làm phép lạ nhân danh Đấng Christ—có thể khiến cho bước chân người ấy rẽ vào con đường của kẻ thù, và làm hư mất một linh hồn. Đức Chúa Giê-su phán rằng thà người làm điều ấy, “buộc cối đá vào cổ mình mà bị quăng xuống biển còn hơn.” Và Ngài phán thêm:
“Nếu tay ngươi làm cho ngươi phạm tội, hãy chặt nó đi; thà rằng một tay mà vào sự sống, còn hơn đủ hai tay mà sa xuống địa ngục, trong lửa chẳng hề tắt. Lại nếu chân ngươi làm cho ngươi phạm tội, hãy chặt nó đi; thà rằng què chân mà vào sự sống, còn hơn đủ hai chân mà bị quăng vào địa ngục.” (Mác 9:43-45)
DA 438.2
Tại sao lại có lời nghiêm trọng đến thế, không lời nào có thể mạnh mẽ hơn? Bởi vì “Con Người đã đến để cứu sự đã mất.” Lẽ nào các môn đồ Ngài lại tỏ ra ít quan tâm đến linh hồn của đồng loại mình hơn là Đấng Tôn Nghiêm của thiên đàng đã tỏ ra hay sao? Mỗi linh hồn đã được trả bằng một giá vô hạn, và tội lỗi thật khủng khiếp biết bao khi khiến cho một linh hồn quay lưng lại với Đấng Christ, đến nỗi tình yêu thương, sự hạ mình và sự thống khổ của Đấng Cứu Thế trở nên vô ích đối với người ấy. DA 438.3
“Khốn nạn cho thế gian vì sự gây nên phạm tội! Vì sự gây nên phạm tội phải có; song khốn nạn thay cho ai là kẻ gây nên phạm tội!” (Ma-thi-ơ 18:7)
Thế gian, được Sa-tan xúi giục, chắc chắn sẽ chống đối những kẻ theo Đấng Christ, và tìm cách phá hủy đức tin của họ; nhưng khốn thay cho kẻ đã mang lấy danh Đấng Christ mà lại bị thấy đang làm công việc ấy. Chúa chúng ta bị sỉ nhục bởi những kẻ xưng mình phục vụ Ngài, nhưng lại trình bày sai lệch về bản tính của Ngài; và vô số người bị lừa dối, bị dẫn vào những nẻo đường sai trật. DA 438.4
Bất cứ thói quen hay tập tục nào dẫn đến tội lỗi, và gây sỉ nhục cho Đấng Christ, thì tốt hơn nên bỏ đi, dầu phải hy sinh đến đâu. Điều gì làm sỉ nhục Đức Chúa Trời thì không thể đem ích lợi cho linh hồn. Phước lành của thiên đàng không thể nào đồng hành với bất cứ ai vi phạm những nguyên tắc đời đời của lẽ phải. Và chỉ một tội lỗi được nuông chiều cũng đủ làm bại hoại bản tính, và dẫn người khác lầm lạc. Nếu phải chặt bỏ tay hay chân, hoặc thậm chí móc bỏ con mắt, để cứu thân thể khỏi sự chết, thì chúng ta lại càng phải sốt sắng biết bao hơn để loại bỏ tội lỗi, là điều đem sự chết đến cho linh hồn! DA 439.1
Trong nghi lễ tế tự, muối được thêm vào mọi của lễ. Điều này, cũng như việc dâng hương, biểu thị rằng chỉ sự công bình của Đấng Christ mới có thể làm cho sự thờ phượng được Đức Chúa Trời chấp nhận. Khi đề cập đến tập tục này, Đức Chúa Giê-su phán: “Vì mỗi người sẽ bị muối bằng lửa.” “Các ngươi hãy có muối trong lòng mình, lại hãy hòa thuận cùng nhau.” Tất cả những ai muốn dâng chính mình “làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời” (Rô-ma 12:1), đều phải nhận lấy muối cứu rỗi, là sự công bình của Đấng Cứu Thế chúng ta. Bấy giờ họ trở nên “muối của đất,” ngăn chặn điều ác giữa loài người, như muối giữ cho khỏi hư thối (Ma-thi-ơ 5:13). Nhưng nếu muối đã mất mùi; nếu chỉ có sự xưng nhận lòng tin kính, mà không có tình yêu thương của Đấng Christ, thì chẳng có quyền năng làm điều thiện. Đời sống ấy không thể đem một ảnh hưởng cứu rỗi nào đến cho thế gian. Đức Chúa Giê-su phán rằng năng lực và hiệu quả của các ngươi trong việc xây dựng nước Ta tùy thuộc vào việc các ngươi nhận lấy Thánh Linh Ta. Các ngươi phải dự phần trong ân điển Ta, để trở nên mùi thơm của sự sống cho được sống. Bấy giờ sẽ chẳng còn sự ganh đua, chẳng còn sự tìm kiếm tư lợi, chẳng còn ước muốn chiếm địa vị cao nhất. Các ngươi sẽ có tình yêu thương không kiếm tư lợi mình, mà tìm sự ích lợi cho kẻ khác. DA 439.2
Hãy để tội nhân ăn năn dán mắt vào “Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi” (Giăng 1:29); và bởi sự chiêm ngưỡng, người ấy được biến đổi. Nỗi sợ hãi của người biến thành niềm vui, sự nghi ngờ biến thành hy vọng. Lòng biết ơn nảy nở. Tấm lòng chai đá tan vỡ. Một dòng tình yêu thương tràn vào linh hồn. Đấng Christ ở trong người trở nên một mạch nước văng ra cho đến sự sống đời đời. Khi chúng ta thấy Đức Chúa Giê-su, một Người sầu khổ và từng trải sự buồn bực, đang lao nhọc để cứu kẻ hư mất, bị khinh dể, chê bai, nhạo báng, bị xua đuổi từ thành này sang thành khác cho đến khi sứ mạng Ngài được hoàn thành; khi chúng ta nhìn thấy Ngài trong vườn Ghết-sê-ma-nê, mồ hôi rơi xuống như những giọt máu lớn, và trên thập tự giá chết trong sự thống khổ—khi chúng ta thấy điều này, cái tôi sẽ không còn đòi hỏi được công nhận nữa. Ngước nhìn Đức Chúa Giê-su, chúng ta sẽ hổ thẹn về sự lạnh lùng, sự uể oải, sự tìm kiếm tư lợi của mình. Chúng ta sẽ sẵn lòng làm bất cứ điều gì hoặc không là gì cả, miễn sao chúng ta có thể hết lòng phục vụ Chủ. Chúng ta sẽ vui mừng vác thập tự giá mà theo Đức Chúa Giê-su, mà chịu thử thách, sỉ nhục, hay bắt bớ vì cớ Ngài yêu dấu. DA 439.3
“Vậy chúng ta là kẻ mạnh, phải gánh vác sự yếu đuối cho những kẻ kém sức, chớ làm cho đẹp lòng mình” (Rô-ma 15:1). Không một linh hồn nào tin nơi Đấng Christ, dầu đức tin người có thể yếu ớt, và bước chân người chập chững như đứa trẻ thơ, lại đáng bị xem thường. Bởi mọi điều đã ban cho chúng ta sự thuận lợi hơn người khác—dầu đó là sự giáo dục và tao nhã, sự cao quý của nhân cách, sự huấn luyện theo tinh thần Cơ-đốc, hay kinh nghiệm tôn giáo—chúng ta đều mắc nợ những kẻ kém phước hơn; và, trong khả năng của mình, chúng ta phải phục vụ họ. Nếu chúng ta là kẻ mạnh, chúng ta phải nâng đỡ tay những kẻ yếu. Các thiên sứ vinh hiển, là những đấng hằng chiêm ngưỡng mặt Cha trên trời, vui mừng phục vụ những đứa trẻ nhỏ của Ngài. Những linh hồn run sợ, mang nhiều nét tánh tình đáng chê trách, là sự chăm sóc đặc biệt của họ. Các thiên sứ luôn hiện diện nơi cần đến họ nhất, ở cùng những kẻ phải chiến đấu cam go nhất với cái tôi của mình, và những kẻ có hoàn cảnh nản lòng nhất. Và trong sự phục vụ này, những môn đồ chân thật của Đấng Christ sẽ hợp tác. DA 440.1
Nếu một trong những đứa trẻ nhỏ này bị thắng hơn, và phạm lỗi cùng bạn, thì việc của bạn là tìm cách khôi phục người ấy. Đừng chờ người ấy ra sức làm điều hòa giải trước. Đức Chúa Giê-su phán: “Các ngươi tưởng thế nào? Nếu người nào có một trăm con chiên, một con bị lạc mất đi, thì há chẳng để chín mươi chín con lại trên núi, mà đi kiếm con đã lạc mất sao? Quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu người kiếm lại được, thì lấy làm vui mừng về con đó hơn chín mươi chín con không lạc. Cũng thể ấy, Cha các ngươi ở trên trời không muốn cho một đứa nào trong những đứa trẻ nhỏ này phải hư mất.” DA 440.2
Với tinh thần mềm mại, “giữ lấy mình, e cũng bị dỗ dành chăng” (Ga-la-ti 6:1), hãy đến cùng người lầm lạc, và “khi chỉ có ngươi với người, hãy trách người về lỗi ấy.” Đừng làm cho người ấy hổ thẹn bằng cách phô bày lỗi lầm người trước mặt kẻ khác, cũng đừng đem sỉ nhục đến cho Đấng Christ bằng cách công bố tội lỗi hay sai lầm của một người mang danh Ngài. Lắm khi phải nói lẽ thật cách thẳng thắn cho người lầm lạc; phải dẫn người thấy được lỗi mình, để người có thể sửa đổi. Nhưng bạn không được xét đoán hay kết án. Đừng tìm cách bào chữa cho mình. Hãy để mọi nỗ lực của bạn nhằm khôi phục người ấy. Khi chữa lành những vết thương của linh hồn, cần đến sự đụng chạm dịu dàng nhất, sự nhạy cảm tinh tế nhất. Chỉ có tình yêu thương tuôn chảy từ Đấng Chịu Thống Khổ tại Gô-gô-tha mới có thể giúp ích ở đây. Với lòng thương xót dịu dàng, hãy để anh em đối xử với anh em, biết rằng nếu bạn thành công, bạn sẽ “cứu linh hồn khỏi sự chết” và “che đậy vô số tội lỗi” (Gia-cơ 5:20). DA 440.3
Nhưng dầu nỗ lực này cũng có thể vô ích. Bấy giờ, Đức Chúa Giê-su phán: “hãy mời một hai người đi với ngươi.” Có thể ảnh hưởng kết hợp của họ sẽ thắng hơn nơi mà ảnh hưởng của người thứ nhất đã không thành công. Vì không phải là một bên trong vụ rắc rối, họ sẽ dễ hành động cách công bằng hơn, và điều này khiến lời khuyên của họ có sức nặng hơn đối với người lầm lạc. DA 441.1
Nếu người ấy không nghe họ, thì khi đó, và chỉ đến khi đó, vấn đề mới được đưa ra trước toàn thể hội chúng các tín đồ. Hãy để các thành viên của Hội Thánh, là những người đại diện cho Đấng Christ, hiệp một trong sự cầu nguyện và lời nài xin đầy yêu thương để người phạm lỗi được phục hồi. Đức Thánh Linh sẽ phán qua các tôi tớ Ngài, nài xin kẻ lạc lối trở về cùng Đức Chúa Trời. Sứ đồ Phao-lô, nói bởi sự soi dẫn, đã phán:
“Vậy chúng tôi làm chức khâm sai của Đấng Cơ-đốc, cũng như Đức Chúa Trời bởi chúng tôi mà khuyên bảo. Chúng tôi nhân danh Đấng Cơ-đốc mà nài xin anh em: Hãy hòa thuận lại với Đức Chúa Trời.” (II Cô-rinh-tô 5:20)
Kẻ nào khước từ lời mời gọi chung này thì đã cắt đứt sợi dây ràng buộc mình với Đấng Christ, và vì vậy đã tự tách mình ra khỏi sự thông công của Hội Thánh. Đức Chúa Giê-su phán, từ nay về sau, “hãy coi người ấy như kẻ ngoại và kẻ thâu thuế vậy.” Nhưng người ấy không bị xem là bị cắt đứt khỏi lòng thương xót của Đức Chúa Trời. Đừng để người ấy bị các anh em trước kia khinh dể hay bỏ mặc, nhưng hãy đối xử với người ấy bằng sự dịu dàng và lòng trắc ẩn, như một trong những con chiên lạc mà Đấng Christ vẫn còn đang tìm kiếm để đem về ràn của Ngài. DA 441.2
Lời chỉ dạy của Đấng Christ về cách đối xử với những kẻ lầm lạc lặp lại dưới hình thức cụ thể hơn lời dạy đã ban cho dân Y-sơ-ra-ên qua Môi-se:
“Chớ có lòng ghen ghét anh em mình; hãy sửa dạy kẻ lân cận mình, đừng vì cớ họ mà phải mắc tội.” (Lê-vi Ký 19:17)
Nghĩa là, nếu một người sao lãng bổn phận mà Đấng Christ đã truyền dạy, là cố gắng phục hồi những kẻ đang ở trong sự lầm lạc và tội lỗi, thì người ấy trở thành kẻ dự phần trong tội lỗi đó. Đối với những điều ác mà lẽ ra chúng ta có thể ngăn chặn, chúng ta cũng phải chịu trách nhiệm y như thể chính chúng ta đã phạm những việc ấy. DA 441.3
Nhưng chính với người làm điều sai trái mà chúng ta phải trình bày điều sai trái đó. Chúng ta không được biến nó thành đề tài để bình phẩm và chỉ trích lẫn nhau; ngay cả sau khi đã trình lên Hội Thánh, chúng ta cũng không được tự do thuật lại cho người khác. Sự hiểu biết về những lỗi lầm của các Cơ-đốc nhân chỉ là cớ vấp phạm cho thế gian vô tín; và bằng cách cứ chú tâm vào những điều này, chính chúng ta chỉ chuốc lấy tai hại; vì bởi sự ngắm xem mà chúng ta được biến đổi. Trong khi chúng ta tìm cách sửa chữa những lỗi lầm của một anh em, Thần của Đấng Christ sẽ dẫn dắt chúng ta che chở người ấy, càng nhiều càng tốt, khỏi sự chỉ trích của ngay cả chính anh em mình, huống chi là khỏi lời lên án của thế gian vô tín. Chính chúng ta cũng lầm lạc, và cần đến lòng thương xót và sự tha thứ của Đấng Christ, và y như chúng ta mong muốn Ngài đối xử với mình thế nào, Ngài cũng truyền cho chúng ta đối xử với nhau như vậy. DA 441.4
“Hễ điều gì mà các ngươi buộc dưới đất thì cũng sẽ buộc ở trên trời, và điều gì mà các ngươi mở dưới đất thì cũng sẽ mở ở trên trời.” Anh em đang hành động như những sứ giả của thiên đàng, và kết quả công việc của anh em là cho cõi đời đời. DA 442.1
Nhưng chúng ta không phải gánh vác trách nhiệm lớn lao này một mình. Bất cứ nơi nào lời Ngài được vâng theo với tấm lòng chân thành, thì nơi đó Đấng Christ ngự. Ngài không chỉ hiện diện trong các buổi nhóm của Hội Thánh, mà bất cứ nơi nào các môn đồ, dù ít ỏi đến đâu, nhóm họp nhân danh Ngài, thì Ngài cũng sẽ có ở đó. Và Ngài phán: “Nếu hai người trong các ngươi thuận nhau ở dưới đất mà cầu xin không cứ việc chi, thì Cha ta ở trên trời sẽ cho họ.” DA 442.2
Đức Chúa Giê-su phán “Cha ta ở trên trời,” như để nhắc nhở các môn đồ rằng trong khi bởi nhân tánh của Ngài, Ngài liên kết với họ, dự phần trong những thử thách của họ, và đồng cảm với họ trong những đau khổ của họ, thì bởi thần tánh của Ngài, Ngài lại kết nối với ngôi của Đấng Vô Hạn. Lời bảo đảm diệu kỳ thay! Các đấng thông sáng trên thiên đàng hiệp cùng loài người trong sự cảm thương và lao nhọc để cứu lấy cái đã mất. Và tất cả quyền năng của thiên đàng được đem đến để kết hợp với khả năng con người trong việc lôi kéo các linh hồn đến cùng Đấng Christ. DA 442.3