Ngài Được Hóa Hình
Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 17:1-8; Mác 9:2-8; Lu-ca 9:28-36. DA 419.1
Buổi chiều đang buông xuống khi Đức Chúa Giê-su gọi đến bên Ngài ba môn đồ, Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng, rồi dẫn họ băng qua những cánh đồng và đi lên một con đường gồ ghề, đến một sườn núi vắng vẻ. Đấng Cứu Thế và các môn đồ Ngài đã dành cả ngày để đi đường và giảng dạy, và việc leo núi càng làm tăng thêm sự mệt mỏi của họ. Đấng Christ đã cất gánh nặng khỏi tâm trí và thân thể của nhiều người đau khổ; Ngài đã truyền sức sống vào những thân thể suy nhược của họ; nhưng chính Ngài cũng mang lấy nhân tính, và cùng với các môn đồ, Ngài cũng mệt mỏi với cuộc leo dốc. DA 419.2
Ánh sáng của mặt trời đang lặn vẫn còn nán lại trên đỉnh núi, và tô điểm con đường họ đang đi bằng vinh quang tàn lụi của nó. Nhưng chẳng bao lâu ánh sáng tắt dần khỏi đồi cũng như thung lũng, mặt trời biến mất sau chân trời phía tây, và những lữ khách cô đơn bị bao phủ trong bóng tối của màn đêm. Sự u ám của cảnh vật chung quanh dường như hòa hợp với cuộc đời sầu khổ của họ, mà chung quanh ấy những đám mây đang tụ lại và dày thêm. DA 419.3
Các môn đồ không dám hỏi Đấng Christ Ngài đang đi đâu, hay với mục đích gì. Ngài thường dành trọn cả đêm trên núi để cầu nguyện. Đấng có bàn tay đã tạo nên núi non và thung lũng cảm thấy thư thái giữa thiên nhiên, và vui hưởng sự tĩnh lặng của nó. Các môn đồ theo Đấng Christ nơi Ngài dẫn đường; nhưng họ tự hỏi tại sao Thầy mình lại dẫn họ lên cuộc leo dốc nhọc nhằn này khi họ đang mệt mỏi, và khi chính Ngài cũng cần nghỉ ngơi. DA 419.4
Bỗng chốc Đấng Christ bảo họ rằng giờ đây họ không phải đi xa hơn nữa. Bước ra xa khỏi họ một chút, Người Sầu Khổ tuôn đổ lời cầu khẩn với tiếng kêu lớn và nước mắt. Ngài cầu xin sức lực để chịu đựng cuộc thử thách thay cho nhân loại. Chính Ngài phải nắm lấy quyền năng Toàn Năng một cách mới mẻ, vì chỉ như vậy Ngài mới có thể đối diện với tương lai. Và Ngài tuôn đổ lòng khao khát của mình cho các môn đồ, để trong giờ phút quyền lực của bóng tối, đức tin của họ không bị suy giảm. Sương móc đọng nhiều trên thân hình cúi xuống của Ngài, nhưng Ngài không để ý đến. Bóng đêm tụ dày chung quanh Ngài, nhưng Ngài chẳng màng đến sự u ám của nó. Cứ thế những giờ qua đi chậm chạp. Lúc đầu các môn đồ hiệp lời cầu nguyện cùng Ngài với lòng sốt sắng chân thành; nhưng sau một lúc họ bị mệt mỏi lấn át, và ngay cả khi cố giữ sự chú tâm vào cảnh tượng ấy, họ vẫn ngủ thiếp đi. Đức Chúa Giê-su đã nói cho họ biết về sự thống khổ của Ngài; Ngài đã đem họ theo để họ có thể hiệp cùng Ngài trong sự cầu nguyện; ngay cả lúc này Ngài đang cầu nguyện cho họ. Đấng Cứu Thế đã thấy sự u ám của các môn đồ, và đã khao khát làm vơi nhẹ nỗi sầu khổ của họ bằng một sự bảo đảm rằng đức tin của họ không phải là vô ích. Không phải tất cả, ngay cả trong số mười hai môn đồ, đều có thể nhận lãnh sự mặc khải mà Ngài mong muốn ban cho. Chỉ có ba người sẽ chứng kiến nỗi thống khổ của Ngài tại vườn Ghết-sê-ma-nê được chọn để ở cùng Ngài trên núi. Lúc này gánh nặng của lời cầu nguyện Ngài là họ có thể được ban cho một sự bày tỏ về vinh quang mà Ngài đã có với Đức Chúa Cha trước khi thế gian được dựng nên, để nước Ngài có thể được tỏ ra cho mắt loài người, và để các môn đồ Ngài được thêm sức để chiêm ngưỡng nó. Ngài nài xin rằng họ có thể chứng kiến một sự bày tỏ về thần tánh của Ngài, để an ủi họ trong giờ phút thống khổ tột cùng của Ngài bằng sự hiểu biết rằng Ngài chắc chắn là Con Đức Chúa Trời và rằng cái chết nhục nhã của Ngài là một phần trong kế hoạch cứu chuộc. DA 419.5
Lời cầu nguyện của Ngài được nhậm. Trong khi Ngài đang khiêm nhường cúi mình trên nền đá, bỗng nhiên các từng trời mở ra, các cổng vàng của thành Đức Chúa Trời mở rộng, và ánh sáng thánh khiết giáng xuống trên núi, bao phủ thân hình Đấng Cứu Thế. Thần tánh từ bên trong chiếu rọi xuyên qua nhân tánh, và gặp gỡ vinh quang đến từ trên cao. Đứng dậy từ tư thế phủ phục, Đấng Christ đứng trong sự uy nghi giống như Đức Chúa Trời. Nỗi thống khổ của linh hồn đã qua đi. Diện mạo Ngài giờ đây chiếu sáng “như mặt trời,” và y phục Ngài “trắng như ánh sáng.” DA 421.1
Các môn đồ, khi thức giấc, nhìn thấy luồng vinh quang chiếu sáng ngọn núi. Trong sự sợ hãi và kinh ngạc, họ chăm chú nhìn vào thân hình rạng ngời của Thầy mình. Khi họ có thể chịu đựng được ánh sáng kỳ diệu ấy, họ thấy rằng Đức Chúa Giê-su không đơn độc. Bên cạnh Ngài là hai thiên thể, đang trò chuyện thân mật với Ngài. Đó là Môi-se, người đã nói chuyện với Đức Chúa Trời trên núi Si-na-i; và Ê-li, người được ban cho đặc ân cao quý—một đặc ân chỉ ban cho một người khác nữa trong các con trai của A-đam—là không bao giờ phải chịu dưới quyền lực của sự chết. DA 421.2
Trên núi Phích-ga mười lăm thế kỷ trước, Môi-se đã đứng nhìn về Đất Hứa. Nhưng vì tội lỗi của ông tại Mê-ri-ba, ông không được vào đó. Niềm vui dẫn đạo quân Y-sơ-ra-ên vào cơ nghiệp của tổ phụ họ không dành cho ông. Lời nài xin thống thiết của ông,
“Tôi xin Chúa cho phép tôi đi qua xem xứ tốt tươi, núi đẹp đẽ này, và Li-ban ở bên kia sông Giô-đanh.” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 3:25)
đã bị từ chối. Niềm hy vọng đã soi sáng sự tăm tối của những năm lưu lạc trong sa mạc suốt bốn mươi năm phải bị khước từ. Một nấm mồ trong đồng vắng là đích đến của những năm lao nhọc và lo toan đè nặng tấm lòng. Nhưng Đấng “có thể làm trổi hơn vô cùng mọi việc chúng ta cầu xin hoặc suy tưởng” (Ê-phê-sô 3:20), đã đáp lời cầu nguyện của tôi tớ Ngài theo cách này. Môi-se đã chịu dưới quyền lực của sự chết, nhưng ông không phải ở lại trong mồ mả. Chính Đấng Christ đã gọi ông trở lại sự sống. Sa-tan kẻ cám dỗ đã đòi thân thể của Môi-se vì tội lỗi của ông; nhưng Đấng Christ là Đấng Cứu Thế đã đem ông ra khỏi mồ mả. Giu-đe 9. DA 421.3
Môi-se trên núi hóa hình là một nhân chứng cho sự đắc thắng của Đấng Christ trên tội lỗi và sự chết. Ông tượng trưng cho những người sẽ ra khỏi mồ mả trong sự sống lại của người công bình. Ê-li, người đã được cất lên trời mà không thấy sự chết, tượng trưng cho những người sẽ còn sống trên đất khi Đấng Christ tái lâm, và những người sẽ được “biến hóa, trong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót;” khi “thân thể hay chết nầy mặc lấy sự không hay chết,” và “thân thể hay hư nát nầy mặc lấy sự không hay hư nát.” 1 Cô-rinh-tô 15:51-53. Đức Chúa Giê-su được mặc lấy ánh sáng của thiên đàng, như Ngài sẽ hiện ra khi Ngài đến “lần thứ hai, không phải để cất tội lỗi đi nữa, nhưng để ban sự cứu rỗi.” Vì Ngài sẽ đến “trong sự vinh hiển của Cha mình với các thiên sứ thánh.” Hê-bơ-rơ 9:28; Mác 8:38. Lời hứa của Đấng Cứu Thế cho các môn đồ giờ đây đã được ứng nghiệm. Trên núi, nước vinh quang trong tương lai được biểu trưng thu nhỏ lại—Đấng Christ là Vua, Môi-se đại diện cho các thánh đồ sống lại, và Ê-li đại diện cho những người được cất lên. DA 421.4
Các môn đồ chưa hiểu được cảnh tượng ấy; nhưng họ vui mừng vì Vị Thầy nhẫn nại, Đấng nhu mì và khiêm nhường, Đấng đã lang thang đó đây như một khách lạ không nơi nương tựa, lại được những người được ưu ái của thiên đàng tôn kính. Họ tin rằng Ê-li đã đến để loan báo triều đại của Đấng Mê-si, và rằng nước của Đấng Christ sắp được thiết lập trên đất. Họ muốn xua tan mãi mãi ký ức về nỗi sợ hãi và thất vọng của mình. Tại đây, nơi vinh quang của Đức Chúa Trời được bày tỏ, họ khao khát được ở lại. Phi-e-rơ kêu lên: “Thưa Thầy, chúng ta ở lại đây thì tốt lắm: hãy đóng ba trại, một cái cho Thầy, một cái cho Môi-se, và một cái cho Ê-li.” Các môn đồ tin chắc rằng Môi-se và Ê-li đã được sai đến để bảo vệ Thầy của họ, và để thiết lập thẩm quyền của Ngài làm vua. DA 422.1
Nhưng trước khi nhận mão triều thiên phải có thập tự giá. Không phải sự đăng quang của Đấng Christ làm vua, mà là sự qua đời sẽ được hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem, mới là chủ đề của cuộc đàm đạo giữa họ với Đức Chúa Giê-su. Mang lấy sự yếu đuối của bản tính loài người, và gánh nặng nỗi buồn cùng tội lỗi của nó, Đức Chúa Giê-su bước đi cô độc giữa loài người. Khi bóng tối của cơn thử thách sắp đến đè nặng trên Ngài, Ngài cô đơn trong tâm linh, ở giữa một thế gian chẳng nhìn biết Ngài. Ngay cả những môn đồ yêu dấu của Ngài, đang chìm đắm trong sự nghi ngờ, nỗi buồn và những hy vọng đầy tham vọng của chính họ, cũng chưa hiểu được sự huyền nhiệm trong sứ mạng của Ngài. Ngài đã ngự giữa tình yêu thương và sự tương giao của thiên đàng; nhưng trong thế gian mà chính Ngài đã tạo dựng, Ngài lại cô độc. Bấy giờ thiên đàng đã sai các sứ giả đến cùng Đức Chúa Giê-su; không phải các thiên sứ, mà là những con người đã từng chịu đau khổ và buồn rầu, và là những người có thể đồng cảm với Đấng Cứu Thế trong cơn thử thách của đời sống trần gian của Ngài. Môi-se và Ê-li đã từng là những người cùng làm việc với Đấng Christ. Họ đã chia sẻ niềm khao khát của Ngài về sự cứu rỗi loài người. Môi-se đã cầu thay cho dân Y-sơ-ra-ên:
“nhưng bây giờ xin Chúa tha tội cho họ! Bằng không, hãy xóa tên tôi khỏi sách Ngài đã chép đi.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 32:32)
Ê-li đã từng biết đến sự cô đơn trong tâm linh, khi suốt ba năm rưỡi đói kém, ông đã gánh chịu sự thù ghét của cả dân tộc cùng nỗi khốn khổ của nó. Một mình ông đã đứng lên vì Đức Chúa Trời trên núi Cạt-mên. Một mình ông đã trốn vào đồng vắng trong sự đau đớn và tuyệt vọng. Những con người này, được chọn lựa cao hơn hết thảy các thiên sứ quanh ngai, đã đến để đàm đạo cùng Đức Chúa Giê-su về những cảnh tượng của sự thương khó của Ngài, và để an ủi Ngài bằng lời bảo đảm về sự đồng cảm của thiên đàng. Niềm hy vọng của thế gian, sự cứu rỗi của mỗi con người, chính là gánh nặng trong cuộc gặp gỡ của họ. DA 422.2
Vì bị giấc ngủ thắng hơn, các môn đồ chỉ nghe được rất ít những gì đã diễn ra giữa Đấng Christ và các sứ giả thiên đàng. Vì không tỉnh thức và cầu nguyện, họ đã không nhận được điều Đức Chúa Trời muốn ban cho họ — sự hiểu biết về những thương khó của Đấng Christ, và vinh quang sẽ theo sau đó. Họ đã đánh mất phước lành lẽ ra đã thuộc về họ qua việc chia sẻ sự hy sinh quên mình của Ngài. Lòng các môn đồ này chậm tin, ít trân trọng kho báu mà thiên đàng tìm cách làm cho họ được giàu có. DA 425.1
Tuy vậy, họ đã nhận được sự sáng lớn lao. Họ được bảo đảm rằng cả thiên đàng đều biết về tội lỗi của dân tộc Do Thái trong việc chối bỏ Đấng Christ. Họ được ban cho một cái nhìn sáng tỏ hơn về công việc của Đấng Cứu Chuộc. Họ thấy bằng chính mắt mình và nghe bằng chính tai mình những điều vượt quá sự hiểu biết của loài người. Họ là những người “mắt thấy sự oai nghiêm Ngài”
“Vả, khi chúng tôi đã làm cho anh em biết quyền phép và sự đến của Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc chúng ta, thì chẳng phải là theo những chuyện khéo đặt để, bèn là chính mắt chúng tôi đã ngó thấy sự oai nghiêm Ngài.” (II Phi-e-rơ 1:16)
và họ nhận ra rằng Đức Chúa Giê-su quả thật là Đấng Mê-si, là Đấng mà các tổ phụ và các tiên tri đã làm chứng, và rằng Ngài được cả vũ trụ thiên đàng công nhận là Đấng ấy. DA 425.2
Trong khi họ vẫn còn đang nhìn ngắm cảnh tượng trên núi, “một đám mây sáng rực che phủ những người ở đó; và có tiếng từ trong mây phán rằng: Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường; hãy nghe lời Con đó!” Khi họ chiêm ngưỡng đám mây vinh quang, sáng rực hơn cả đám mây từng đi trước các chi phái Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng; khi họ nghe tiếng phán của Đức Chúa Trời trong sự oai nghiêm đáng sợ khiến núi rúng động, các môn đồ ngã sấp xuống đất. Họ cứ nằm sấp, mặt giấu đi, cho đến khi Đức Chúa Giê-su đến gần, chạm vào họ, xua tan nỗi sợ hãi của họ bằng giọng nói quen thuộc của Ngài: “Hãy đứng dậy, đừng sợ!” Khi mạnh dạn ngước mắt lên, họ thấy vinh quang thiên đàng đã qua đi, các hình bóng của Môi-se và Ê-li đã biến mất. Họ ở trên núi, chỉ một mình với Đức Chúa Giê-su. DA 425.3