Bóng Hình Báo Trước Của Thập Tự Giá

Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 16:13-28; Mác 8:27-38; Lu-ca 9:18-27. DA 410.1

Công việc của Đấng Christ trên thế gian đang nhanh chóng tiến đến hồi kết. Trước mặt Ngài, hiện ra rõ ràng những cảnh tượng mà bước chân Ngài đang hướng tới. Ngay cả trước khi Ngài mang lấy bản tánh loài người, Ngài đã thấy trọn cả con đường mà Ngài phải đi qua để cứu vớt những gì đã hư mất. Mỗi nỗi đau xé nát lòng Ngài, mỗi lời sỉ nhục chất chồng trên đầu Ngài, mỗi sự thiếu thốn mà Ngài phải chịu đựng, đều bày ra trước mắt Ngài trước khi Ngài đặt sang một bên vương miện và áo bào hoàng gia, rồi bước xuống khỏi ngai, để lấy nhân tánh khoác lên thần tánh của Ngài. Con đường từ máng cỏ đến đồi Gô-gô-tha đều hiện ra trước mắt Ngài. Ngài biết nỗi thống khổ sẽ giáng trên Ngài. Ngài biết hết thảy, song Ngài vẫn phán:

“Bấy giờ tôi nói: Nầy tôi đến; Trong quyển sách đã có chép về tôi: Hỡi Đức Chúa Trời tôi, tôi lấy làm vui mừng làm theo ý muốn Chúa, Luật pháp Chúa ở trong lòng tôi.” (Thi-thiên 40:7,8)

DA 410.2

Luôn luôn trước mắt Ngài, Ngài thấy kết quả của sứ mạng Ngài. Đời sống nơi trần thế của Ngài, đầy dẫy lao khổ và sự hy sinh quên mình, được khích lệ bởi viễn cảnh rằng Ngài sẽ không chịu tất cả những đau đớn này một cách vô ích. Bằng việc ban sự sống của Ngài cho sự sống của loài người, Ngài sẽ giành lại thế gian về cùng lòng trung thành với Đức Chúa Trời. Mặc dầu trước hết Ngài phải chịu phép báp-têm bằng huyết; mặc dầu tội lỗi của thế gian sẽ đè nặng trên linh hồn vô tội của Ngài; mặc dầu bóng tối của nỗi thống khổ không sao tả xiết phủ trên Ngài; song vì sự vui mừng đã đặt trước mặt Ngài, Ngài chọn chịu đựng thập tự giá, khinh điều sỉ nhục. DA 410.3

Đối với những người bạn đồng hành được chọn trong chức vụ của Ngài, những cảnh tượng nằm trước mặt Ngài vẫn còn bị giấu kín; nhưng thì giờ đã gần kề khi họ phải chứng kiến sự thống khổ của Ngài. Họ phải thấy Đấng mà họ đã yêu thương và tin cậy bị nộp vào tay những kẻ thù nghịch Ngài, và bị treo trên thập tự giá tại đồi Gô-gô-tha. Chẳng bao lâu nữa Ngài phải lìa họ để đối diện với thế gian mà không có sự an ủi từ sự hiện diện hữu hình của Ngài. Ngài biết lòng thù ghét cay đắng và sự chẳng tin sẽ bắt bớ họ thể nào, và Ngài mong muốn chuẩn bị họ cho những thử thách của họ. DA 410.4

Bấy giờ Đức Chúa Giê-su và các môn đồ Ngài đã đến một trong những thành quanh vùng Sê-sa-rê Phi-líp. Họ đã ra khỏi địa giới Ga-li-lê, vào một vùng mà sự thờ thần tượng đang thịnh hành. Tại đây các môn đồ được rút khỏi ảnh hưởng chi phối của Do Thái Giáo, và được đưa đến tiếp xúc gần gũi hơn với sự thờ phượng của dân ngoại. Quanh họ là những hình thức mê tín hiện diện ở khắp các phần của thế giới. Đức Chúa Giê-su mong muốn rằng việc nhìn thấy những điều này có thể dẫn họ đến chỗ cảm nhận trách nhiệm của mình đối với dân ngoại. Trong thời gian lưu lại vùng này, Ngài cố gắng rút lui khỏi việc dạy dỗ dân chúng, và dành mình trọn vẹn hơn cho các môn đồ. DA 411.1

Ngài sắp sửa nói cho họ biết về sự khổ nạn đang chờ đợi Ngài. Nhưng trước hết Ngài đi riêng ra một mình, và cầu nguyện cho lòng họ được chuẩn bị để tiếp nhận những lời của Ngài. Khi trở lại cùng họ, Ngài không lập tức truyền đạt điều Ngài muốn tỏ ra. Trước khi làm điều ấy, Ngài cho họ một cơ hội xưng nhận đức tin của họ nơi Ngài, hầu cho họ được thêm sức cho thử thách sắp đến. Ngài hỏi: “Người ta nói Con Người là ai?” DA 411.2

Một cách buồn bã, các môn đồ buộc phải thừa nhận rằng dân Y-sơ-ra-ên đã thất bại trong việc nhận biết Đấng Mê-si của họ. Quả thật, một số người, khi thấy các phép lạ của Ngài, đã tuyên bố Ngài là Con vua Đa-vít. Đoàn dân đông đã được cho ăn tại Bết-sai-đa đã mong muốn tôn Ngài làm vua dân Y-sơ-ra-ên. Nhiều người sẵn lòng tiếp nhận Ngài như một tiên tri; nhưng họ không tin Ngài là Đấng Mê-si. DA 411.3

Bấy giờ Đức Chúa Giê-su đặt câu hỏi thứ hai, liên quan đến chính các môn đồ: “Còn các ngươi thì xưng ta là ai?” Phi-e-rơ thưa rằng: “Thầy là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống.” DA 411.4

Ngay từ đầu, Phi-e-rơ đã tin Đức Chúa Giê-su là Đấng Mê-si. Nhiều người khác đã bị cáo trách bởi lời rao giảng của Giăng Báp-tít, và đã tiếp nhận Đấng Christ, bắt đầu nghi ngờ về sứ mạng của Giăng khi ông bị bỏ tù và bị giết; và bấy giờ họ nghi ngờ rằng Đức Chúa Giê-su có phải là Đấng Mê-si mà họ đã trông đợi từ lâu hay không. Nhiều môn đồ đã từng nồng nhiệt mong đợi Đức Chúa Giê-su lên ngôi Đa-vít đã lìa bỏ Ngài khi họ nhận ra rằng Ngài không có ý định như vậy. Nhưng Phi-e-rơ và các bạn đồng hành của ông không quay khỏi lòng trung thành của mình. Đường lối hay thay đổi của những kẻ hôm qua tán dương rồi hôm nay lên án không hủy hoại được đức tin của người thật sự theo Đấng Cứu Thế. Phi-e-rơ tuyên bố: “Thầy là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống.” Ông không chờ những vinh dự vương giả đăng quang cho Chúa mình, nhưng tiếp nhận Ngài trong sự hạ mình của Ngài. DA 411.5

Phi-e-rơ đã bày tỏ đức tin của mười hai sứ đồ. Song các môn đồ vẫn còn xa mới hiểu được sứ mạng của Đấng Christ. Sự chống đối và xuyên tạc của các thầy tế lễ và các quan trưởng, dầu không thể khiến họ lìa khỏi Đấng Christ, vẫn gây cho họ sự bối rối lớn lao. Họ chưa thấy rõ con đường của mình. Ảnh hưởng của sự dạy dỗ thuở ban đầu, sự dạy dỗ của các thầy thông giáo, quyền lực của truyền thống, vẫn còn ngăn trở tầm nhìn của họ về lẽ thật. Thỉnh thoảng những tia sáng quý báu từ Đức Chúa Giê-su chiếu rọi trên họ, song họ thường giống như những người dò dẫm giữa bóng tối. Nhưng trong ngày này, trước khi họ phải đối diện với thử thách lớn lao của đức tin mình, Đức Thánh Linh giáng trên họ cách quyền năng. Trong một thời gian ngắn, mắt họ được quay khỏi “những sự thấy được” để chiêm ngưỡng “những sự không thấy được.”

“bởi chúng ta chẳng chăm sự thấy được, nhưng chăm sự không thấy được; vì những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời không cùng vậy.” (II Cô-rinh-tô 4:18)

Bên dưới lớp vỏ nhân tánh, họ nhận ra vinh quang của Con Đức Chúa Trời. DA 412.1

Đức Chúa Giê-su đáp cùng Phi-e-rơ rằng: “Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi có phước đó; vì chẳng phải thịt và huyết tỏ cho ngươi biết điều nầy đâu, bèn là Cha ta ở trên trời vậy.” DA 412.2

Lẽ thật mà Phi-e-rơ đã xưng nhận là nền tảng của đức tin người tín đồ. Đó là điều mà chính Đấng Christ đã tuyên bố là sự sống đời đời. Nhưng việc sở hữu sự hiểu biết này không phải là cơ sở để tự tôn vinh. Chẳng phải bởi sự khôn ngoan hay lòng tốt nào của riêng ông mà điều ấy được tỏ ra cho Phi-e-rơ. Loài người không bao giờ, tự chính mình, có thể đạt đến sự hiểu biết về điều thiêng liêng. “Sự ấy cao bằng các từng trời: anh sẽ làm gì được? Sâu hơn âm phủ: anh hiểu biết sao đặng?”

“Sự ấy vốn cao bằng các từng trời: Vậy ông sẽ làm gì? Sâu hơn âm phủ: ông hiểu biết sao đặng?” (Gióp 11:8)

Chỉ có thần linh của sự làm con nuôi mới có thể tỏ cho chúng ta những điều sâu nhiệm của Đức Chúa Trời, là điều “mắt chưa thấy, tai chưa nghe, và lòng người chưa nghĩ đến.” “Đức Chúa Trời đã dùng Đức Thánh Linh để bày tỏ những sự đó cho chúng ta, vì Đức Thánh Linh dò xét mọi sự, cả đến sự sâu nhiệm của Đức Chúa Trời nữa.”

“Song le, như có chép rằng: Ấy là sự mắt chưa thấy, tai chưa nghe, Và lòng người chưa nghĩ đến, Nhưng Đức Chúa Trời đã sắm sẵn điều ấy cho những người yêu mến Ngài. Đức Chúa Trời đã dùng Đức Thánh Linh để bày tỏ những sự đó cho chúng ta, vì Đức Thánh Linh dò xét mọi sự, cả đến sự sâu nhiệm của Đức Chúa Trời nữa.” (I Cô-rinh-tô 2:9,10)

“Đức Giê-hô-va kết bạn thiết cùng người kính sợ Ngài;” và việc Phi-e-rơ nhận ra vinh quang của Đấng Christ là bằng chứng rằng ông đã được “Đức Chúa Trời dạy dỗ.”

“Đức Giê-hô-va kết bạn thiết cùng người kính sợ Ngài, Tỏ cho người ấy biết giao ước của Ngài.” (Thi-thiên 25:14)

“Các sách tiên tri có chép rằng: Ai nấy đều sẽ được Đức Chúa Trời dạy dỗ. Hễ ai đã nghe Cha và học theo Ngài thì đến cùng ta.” (Giăng 6:45)

Thật vậy, “hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi có phước đó; vì chẳng phải thịt và huyết tỏ cho ngươi biết điều nầy đâu.” DA 412.3

Đức Chúa Giê-su tiếp tục: “Còn ta, ta bảo ngươi rằng: Ngươi là Phi-e-rơ, ta sẽ lập Hội Thánh ta trên đá nầy, các cửa âm phủ chẳng thắng được hội đó.” Chữ Phi-e-rơ có nghĩa là một hòn đá—một hòn đá lăn lóc. Phi-e-rơ không phải là vầng đá mà trên đó Hội Thánh được dựng nên. Các cửa âm phủ quả đã thắng được ông khi ông chối Chúa mình với những lời rủa sả và thề thốt. Hội Thánh được dựng trên Đấng mà các cửa âm phủ không thể thắng được. DA 412.4

Hàng thế kỷ trước khi Đấng Cứu Thế giáng lâm, Môi-se đã chỉ về Vầng Đá của sự cứu rỗi Y-sơ-ra-ên. Tác giả Thi thiên đã hát về “hòn đá về sức lực tôi.” Ê-sai đã viết: “Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta đặt tại Si-ôn một hòn đá để làm nền, là đá đã thử nghiệm, là đá góc quí báu, là nền bền vững.”

“Công việc của Hòn Đá là trọn vẹn; Vì các đường lối Ngài là công bình. Ấy là Đức Chúa Trời thành tín và vô tội; Ngài là công bình và chánh trực.” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 32:4)

“Sự cứu rỗi và sự vinh hiển tôi ở nơi Đức Chúa Trời; Hòn đá về sức lực tôi, và nơi nương náu mình cũng đều ở nơi Đức Chúa Trời.” (Thi-thiên 62:7)

“Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta đặt tại Si-ôn một hòn đá để làm nền, là đá đã thử nghiệm, là đá góc quí báu, làm nền bền vững: ai tin sẽ chẳng gấp rút.” (Ê-sai 28:16)

Chính Phi-e-rơ, viết bởi sự cảm thúc, áp dụng lời tiên tri này cho Đức Chúa Giê-su. Ông nói: “Nếu anh em đã nếm biết Chúa là ngọt ngào. Hãy đến gần Ngài, là hòn đá sống, bị người ta loại ra, song được chọn và quí trước mặt Đức Chúa Trời, và anh em cũng như đá sống, được xây nên nhà thiêng liêng.”

“nếu anh em đã nếm biết Chúa là ngọt ngào. Hãy đến gần Ngài, là hòn đá sống, bị người ta loại ra, song được chọn và quí trước mặt Đức Chúa Trời, và anh em cũng như đá sống, được xây nên nhà thiêng liêng, làm chức tế lễ thánh, đặng dâng của tế lễ thiêng liêng, nhờ Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc mà đẹp ý Đức Chúa Trời.” (I Phi-e-rơ 2:3-5)

DA 413.1

“Vì, chẳng ai có thể lập một nền khác ngoài nền đã lập, là Đức Chúa Giê-su Christ.”

“Vì, chẳng ai có thể lập một nền khác ngoài nền đã lập, là Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc.” (I Cô-rinh-tô 3:11)

Đức Chúa Giê-su phán: “Ta sẽ lập Hội Thánh ta trên đá nầy.” Trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời, và tất cả các bậc thông sáng trên trời, trước sự hiện diện của đạo binh vô hình của âm phủ, Đấng Christ đã lập Hội Thánh Ngài trên Vầng Đá sống. Vầng Đá ấy là chính Ngài—thân thể của chính Ngài, đã vì chúng ta mà bị bẻ ra và giập nát. Đối với Hội Thánh được dựng trên nền tảng này, các cửa âm phủ chẳng thắng được. DA 413.2

Hội Thánh trông thật yếu ớt biết bao khi Đấng Christ phán những lời này! Chỉ có một nhóm nhỏ các tín đồ, là những người mà mọi quyền lực của ma quỷ và kẻ ác sẽ nhắm vào; thế nhưng những người theo Đấng Christ không phải sợ hãi. Được xây dựng trên Vầng Đá là sức mạnh của họ, họ không thể bị đánh đổ. DA 413.3

Trong sáu ngàn năm, đức tin đã được xây dựng trên Đấng Christ. Trong sáu ngàn năm, những cơn lụt lội và bão tố của cơn thịnh nộ của Sa-tan đã đập vào Vầng Đá của sự cứu rỗi chúng ta; nhưng Vầng Đá ấy vẫn đứng vững không lay chuyển. DA 413.4

Phi-e-rơ đã bày tỏ lẽ thật là nền tảng cho đức tin của Hội Thánh, và giờ đây Đức Chúa Giê-su tôn trọng ông như đại diện cho toàn thể những người tin. Ngài phán: “Ta sẽ giao chìa khóa nước thiên đàng cho ngươi: hễ điều gì mà ngươi buộc dưới đất, thì cũng sẽ buộc ở trên trời; và điều gì mà ngươi mở dưới đất, thì cũng sẽ mở ở trên trời.” DA 413.5

“Chìa khóa nước thiên đàng” chính là những lời của Đấng Christ. Tất cả các lời của Kinh Thánh đều là của Ngài, và đều được bao gồm ở đây. Những lời này có quyền năng mở và đóng thiên đàng. Chúng tuyên bố những điều kiện mà con người được tiếp nhận hay bị khước từ. Như vậy, công việc của những người rao giảng Lời Đức Chúa Trời là mùi của sự sống dẫn đến sự sống hoặc mùi của sự chết dẫn đến sự chết. Sứ mạng của họ mang nặng những kết quả đời đời. DA 413.6

Đấng Cứu Thế không giao công việc của tin lành cho riêng Phi-e-rơ. Vào một thời điểm sau đó, khi lặp lại những lời đã phán với Phi-e-rơ, Ngài áp dụng chúng trực tiếp cho Hội Thánh. Và về thực chất cũng những lời ấy đã được phán với mười hai môn đồ như những đại diện của những người tin. Nếu Đức Chúa Giê-su đã ban một thẩm quyền đặc biệt nào đó cho một trong các môn đồ trên những người khác, thì hẳn chúng ta đã không thấy họ thường tranh cãi với nhau xem ai là người lớn nhất. Hẳn họ đã phục theo ý muốn của Thầy mình, và tôn trọng người mà Ngài đã chọn. DA 414.1

Thay vì chỉ định một người làm đầu họ, Đấng Christ phán với các môn đồ: “Các ngươi đừng chịu người ta gọi mình bằng thầy;” “cũng đừng chịu ai gọi mình là chủ; vì các ngươi chỉ có một Chủ, là Đấng Christ.”

“Nhưng các ngươi đừng chịu người ta gọi mình bằng thầy; vì các ngươi chỉ có một Thầy, và các ngươi hết thảy đều là anh em. Cũng đừng chịu ai gọi mình là chủ; vì các ngươi chỉ có một Chủ, là Đấng Cơ-đốc.” (Ma-thi-ơ 23:8,10)

DA 414.2

“Đấng Christ là đầu mọi người.” Đức Chúa Trời, là Đấng đã đặt muôn vật dưới chân Đấng Cứu Thế, “đã ban cho Đấng Christ làm đầu Hội Thánh, Hội Thánh là thân thể của Đấng Christ, tức là sự đầy đủ của Đấng gồm tóm mọi sự trong mọi loài.”

“Dầu vậy, tôi muốn anh em biết Đấng Cơ-đốc là đầu mọi người; người đàn ông là đầu người đàn bà; và Đức Chúa Trời là đầu của Đấng Cơ-đốc.” (I Cô-rinh-tô 11:3)

“Ngài đã bắt muôn vật phục dưới chân Đấng Cơ-đốc, và ban cho Đấng Cơ-đốc làm đầu Hội Thánh, Hội Thánh là thân thể của Đấng Cơ-đốc, tức là sự đầy đủ của Đấng gồm tóm mọi sự trong mọi loài.” (Ê-phê-sô 1:22,23)

Hội Thánh được xây dựng trên Đấng Christ làm nền tảng; Hội Thánh phải vâng phục Đấng Christ làm đầu mình. Hội Thánh không được nương cậy vào con người, hay bị con người kiểm soát. Nhiều người tuyên bố rằng một địa vị tin cẩn trong Hội Thánh cho họ thẩm quyền để áp đặt người khác phải tin gì và phải làm gì. Đức Chúa Trời không chuẩn nhận lời tuyên bố này. Đấng Cứu Thế phán: “Hết thảy các ngươi đều là anh em.” Tất cả đều bị phơi bày trước cám dỗ, và đều có thể sai lầm. Chúng ta không thể nương cậy vào bất cứ một tạo vật hữu hạn nào để được dẫn dắt. Vầng Đá của đức tin là sự hiện diện sống động của Đấng Christ trong Hội Thánh. Trên đó, người yếu đuối nhất có thể nương cậy, và những kẻ tự cho mình là mạnh mẽ nhất sẽ chứng tỏ là yếu đuối nhất, trừ khi họ lấy Đấng Christ làm nguồn năng lực của mình. “Đáng rủa thay là kẻ nhờ cậy loài người, lấy loài xác thịt làm cánh tay.” Chúa “là Vầng Đá, công việc Ngài là trọn vẹn.” “Phước thay cho mọi người nương náu mình nơi Ngài!”

“Đức Giê-hô-va phán như vầy: Đáng rủa thay là kẻ nhờ cậy loài người, lấy loài xác thịt làm cánh tay, lòng lìa khỏi Đức Giê-hô-va.” (Giê-rê-mi 17:5)

“Công việc của Hòn Đá là trọn vẹn; Vì các đường lối Ngài là công bình. Ấy là Đức Chúa Trời thành tín và vô tội; Ngài là công bình và chánh trực.” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 32:4)

“Hãy hôn Con, e Người nổi giận, Và các ngươi hư mất trong đường chăng; Vì cơn thạnh nộ Người hòng nổi lên. Phàm kẻ nào nương náu mình nơi Người có phước thay!” (Thi-thiên 2:12)

DA 414.3

Sau lời xưng nhận của Phi-e-rơ, Đức Chúa Giê-su căn dặn các môn đồ đừng nói cho ai biết rằng Ngài là Đấng Christ. Lời căn dặn này được ban ra vì sự chống đối quyết liệt của các thầy thông giáo và người Pha-ri-si. Hơn thế nữa, dân chúng, và ngay cả các môn đồ, có một quan niệm sai lầm về Đấng Mê-si đến nỗi việc công bố Ngài một cách công khai sẽ không cho họ một ý niệm chân thật nào về bản tánh hay công việc của Ngài. Nhưng ngày qua ngày Ngài đang bày tỏ chính mình cho họ như Đấng Cứu Thế, và như vậy Ngài mong muốn ban cho họ một quan niệm chân thật về Ngài là Đấng Mê-si. DA 414.4

Các môn đồ vẫn còn trông đợi Đấng Christ sẽ trị vì như một vị vua trần thế. Mặc dầu Ngài đã giấu kín ý định mình lâu như vậy, họ vẫn tin rằng Ngài sẽ không mãi ở trong cảnh nghèo khó và tăm tối; thời điểm đã gần kề khi Ngài sẽ thiết lập vương quốc của Ngài. Còn việc lòng thù ghét của các thầy tế lễ và các thầy thông thái sẽ không bao giờ được khắc phục, việc Đấng Christ sẽ bị chính dân tộc của Ngài khước từ, bị kết án như một kẻ lừa dối, và bị đóng đinh như một kẻ gian ác—một ý tưởng như thế các môn đồ chưa bao giờ ấp ủ. Nhưng giờ phút của quyền lực bóng tối đang đến gần, và Đức Chúa Giê-su phải mở ra cho các môn đồ thấy cuộc tranh chiến trước mắt họ. Ngài buồn rầu khi tiên liệu sự thử thách ấy. DA 415.1

Cho đến lúc đó, Ngài đã kiêng không cho họ biết bất cứ điều gì liên quan đến sự thương khó và sự chết của Ngài. Trong cuộc trò chuyện với Ni-cô-đem, Ngài đã phán: “Xưa Môi-se treo con rắn lên nơi đồng vắng thể nào, thì Con người cũng phải bị treo lên dường ấy, hầu cho hễ ai tin đến Ngài đều được sự sống đời đời.”

“Xưa Môi-se treo con rắn lên nơi đồng vắng thể nào, thì Con người cũng phải bị treo lên dường ấy, hầu cho hễ ai tin đến Ngài đều được sự sống đời đời.” (Giăng 3:14,15)

Nhưng các môn đồ đã không nghe điều này, và dầu họ có nghe, họ cũng sẽ không hiểu. Nhưng giờ đây họ đã ở với Đức Chúa Giê-su, lắng nghe lời Ngài, chứng kiến các việc làm của Ngài, cho đến nỗi, mặc dầu hoàn cảnh khiêm hạ chung quanh Ngài, và sự chống đối của các thầy tế lễ cùng dân chúng, họ có thể hiệp với lời chứng của Phi-e-rơ: “Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống.” Giờ đây thời điểm đã đến để bức màn che giấu tương lai được vén lên. “Từ đó, Đức Chúa Giê-su mới tỏ cho môn đồ biết rằng mình phải đi đến thành Giê-ru-sa-lem, phải chịu tại đó nhiều sự khốn khổ bởi những người trưởng lão, thầy tế lễ cả, cùng thầy thông giáo, và phải bị giết, đến ngày thứ ba phải sống lại.” DA 415.2

Các môn đồ lắng nghe, lặng người vì đau buồn và kinh ngạc. Đấng Christ đã chấp nhận lời Phi-e-rơ thừa nhận Ngài là Con Đức Chúa Trời; và giờ đây những lời Ngài chỉ về sự thương khó và sự chết của Ngài dường như không thể hiểu nổi. Phi-e-rơ không thể giữ im lặng. Ông nắm lấy Thầy mình, như thể muốn kéo Ngài lại khỏi số phận sắp xảy đến, mà kêu lên: “Hỡi Chúa, Đức Chúa Trời nào nỡ vậy! Sự đó sẽ không xảy đến cho Chúa đâu!” DA 415.3

Phi-e-rơ yêu mến Chúa mình; nhưng Đức Chúa Giê-su không khen ngợi ông vì đã bày tỏ lòng ao ước che chở Ngài khỏi sự thương khó như vậy. Những lời của Phi-e-rơ không phải là những lời có thể giúp đỡ và an ủi Đức Chúa Giê-su trong cơn thử thách lớn lao trước mắt Ngài. Chúng không hòa hợp với mục đích ân điển của Đức Chúa Trời đối với một thế gian hư mất, cũng không hòa hợp với bài học hi sinh chính mình mà Đức Chúa Giê-su đã đến để dạy qua chính tấm gương của Ngài. Phi-e-rơ không muốn thấy thập tự giá trong công việc của Đấng Christ. Ấn tượng mà lời ông tạo ra trực tiếp đối nghịch với điều mà Đấng Christ muốn tạo ra trong tâm trí những người theo Ngài, và Đấng Cứu Thế cảm động mà thốt ra một trong những lời quở trách nghiêm khắc nhất từng được phán ra từ môi miệng Ngài: “Ớ Sa-tan, hãy lui ra đằng sau ta! Ngươi làm gương xấu cho ta; vì ngươi chẳng nghĩ đến việc Đức Chúa Trời, song nghĩ đến việc người ta.” DA 415.4

Sa-tan đang cố làm Đức Chúa Giê-su nản lòng, và làm Ngài quay khỏi sứ mạng của Ngài; còn Phi-e-rơ, trong tình thương mù quáng của mình, đang lên tiếng cho sự cám dỗ. Chúa của sự ác là tác giả của ý tưởng ấy. Sự xúi giục của hắn ở đằng sau lời cầu khẩn bồng bột đó. Trong đồng vắng, Sa-tan đã đề nghị ban cho Đấng Christ quyền cai trị thế giới với điều kiện Ngài từ bỏ con đường hạ mình và hi sinh. Giờ đây hắn đang trình bày cùng một sự cám dỗ ấy cho môn đồ của Đấng Christ. Hắn đang tìm cách ghim chặt ánh mắt Phi-e-rơ vào sự vinh hiển trần thế, để ông không thể nhìn thấy thập tự giá mà Đức Chúa Giê-su muốn hướng mắt ông đến. Và qua Phi-e-rơ, Sa-tan lại một lần nữa ép sự cám dỗ lên Đức Chúa Giê-su. Nhưng Đấng Cứu Thế không để ý đến nó; ý nghĩ của Ngài là dành cho môn đồ Ngài. Sa-tan đã xen vào giữa Phi-e-rơ và Thầy của ông, để lòng người môn đồ không cảm động trước hình ảnh Đấng Christ chịu hạ mình vì ông. Những lời của Đấng Christ được phán ra, không phải với Phi-e-rơ, nhưng với kẻ đang cố tách ông ra khỏi Đấng Cứu Chuộc của mình. “Ớ Sa-tan, hãy lui ra đằng sau ta.” Đừng xen vào giữa Ta và đầy tớ lầm lạc của Ta nữa. Hãy để Ta đối diện với Phi-e-rơ, hầu cho Ta có thể bày tỏ cho ông sự mầu nhiệm của tình yêu Ta. DA 416.1

Đối với Phi-e-rơ, đó là một bài học cay đắng, một bài học mà ông chỉ học được cách chậm chạp, rằng con đường của Đấng Christ trên thế gian phải đi qua sự thống khổ và sỉ nhục. Người môn đồ này lùi bước khỏi sự dự phần với Chúa mình trong sự thương khó. Nhưng giữa lò lửa nóng bỏng, ông phải học biết phước hạnh của điều đó. Về sau rất lâu, khi thân hình hoạt bát của ông đã còng xuống dưới gánh nặng của tuổi tác và lao nhọc, ông đã viết:

“Hỡi kẻ rất yêu dấu, khi anh em bị trong lò lửa thử thách, chớ lấy làm lạ như mình gặp một việc khác thường. Nhưng anh em có phần trong sự thương khó của Đấng Cơ-đốc bao nhiêu, thì hãy vui mừng bấy nhiêu, hầu cho đến ngày vinh hiển của Ngài hiện ra, thì anh em cũng được vui mừng nhảy nhót.” (I Phi-e-rơ 4:12,13)

DA 416.2

Bấy giờ Đức Chúa Giê-su giải thích cho các môn đồ rằng đời sống tự khước từ chính mình của Ngài là một gương mẫu cho điều mà đời sống họ phải noi theo. Cùng với các môn đồ, Ngài gọi đến quanh Ngài những người vẫn còn nán lại gần đó, và phán: “Nếu ai muốn theo Ta, thì phải tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo Ta.” Thập tự giá gắn liền với quyền lực của La-mã. Đó là dụng cụ của hình thức tử hình tàn nhẫn và nhục nhã nhất. Những tội phạm hèn hạ nhất bị buộc phải vác thập tự giá đến nơi hành hình; và thường khi nó sắp được đặt lên vai họ, họ chống cự lại với sự dữ tợn liều lĩnh, cho đến khi họ bị khuất phục, và dụng cụ tra tấn ấy bị trói chặt vào họ. Nhưng Đức Chúa Giê-su truyền cho những kẻ theo Ngài hãy vác thập tự giá mà theo Ngài. Đối với các môn đồ, lời Ngài, dù chỉ được hiểu cách mơ hồ, đã chỉ về sự phục tùng của họ đối với sự sỉ nhục cay đắng nhất—sự phục tùng cho đến chết vì cớ Đấng Christ. Không có sự tự đầu phục nào trọn vẹn hơn mà lời của Đấng Cứu Thế có thể vẽ ra. Nhưng tất cả những điều này, Ngài đã chấp nhận vì họ. Đức Chúa Giê-su không coi thiên đàng là nơi đáng ao ước trong khi chúng ta bị hư mất. Ngài lìa bỏ chốn thiên đình để sống một đời sống bị sỉ nhục và lăng nhục, và một cái chết nhục nhã. Đấng vốn giàu có trong kho báu vô giá của thiên đàng đã trở nên nghèo khó, để bởi sự nghèo khó của Ngài mà chúng ta được giàu có. Chúng ta phải bước theo con đường Ngài đã đi. DA 416.3

Tình yêu thương dành cho các linh hồn mà Đấng Christ đã chết thay có nghĩa là sự đóng đinh bản ngã. Người làm con cái Đức Chúa Trời từ nay phải xem chính mình như một mắt xích trong sợi dây xích được thả xuống để cứu thế gian, là một với Đấng Christ trong kế hoạch thương xót của Ngài, cùng đi với Ngài để tìm và cứu kẻ bị hư mất. Người Cơ-đốc phải luôn luôn nhận thức rằng mình đã hiến dâng chính mình cho Đức Chúa Trời, và rằng trong tánh hạnh mình phải bày tỏ Đấng Christ cho thế gian. Sự hi sinh chính mình, lòng cảm thông, tình yêu thương được tỏ ra trong đời sống của Đấng Christ phải tái hiện trong đời sống của người làm việc cho Đức Chúa Trời. DA 417.1

“Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất; còn ai vì cớ Ta và đạo Tin lành mà mất sự sống, thì sẽ cứu được sự sống ấy.” Tánh ích kỷ là sự chết. Không một bộ phận nào của thân thể có thể sống nếu nó chỉ giới hạn sự phục vụ của mình cho riêng nó. Trái tim, nếu không gửi máu nuôi sự sống đến tay và đầu, sẽ nhanh chóng mất đi sức lực của nó. Như máu nuôi sự sống của chúng ta thể nào, tình yêu thương của Đấng Christ cũng được phân phối khắp mọi phần trong thân thể huyền nhiệm của Ngài thể ấy. Chúng ta là chi thể của nhau, và linh hồn nào từ chối chia sẻ thì sẽ hư mất. Và Đức Chúa Giê-su phán: “Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? Hay là người ấy sẽ lấy chi mà đổi linh hồn mình lại?” DA 417.2

Vượt khỏi cảnh nghèo khó và sỉ nhục của hiện tại, Ngài chỉ cho các môn đồ về sự ngự đến của Ngài trong vinh hiển, không phải trong sự huy hoàng của một ngai vàng trần thế, mà với vinh hiển của Đức Chúa Trời và các đạo binh thiên đàng. Và rồi, Ngài phán: “Ngài sẽ thưởng cho từng người tùy việc họ làm.” Rồi để khích lệ họ, Ngài ban lời hứa: “Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, trong các ngươi đứng đây, có một vài kẻ sẽ không chết trước khi thấy Con Người ngự đến trong nước Ngài.” Nhưng các môn đồ không hiểu lời Ngài. Vinh hiển ấy dường như còn xa vời. Mắt họ chăm chú vào quang cảnh gần hơn, là đời sống trần thế của sự nghèo khó, sỉ nhục, và thương khó. Phải chăng những kỳ vọng rực rỡ của họ về nước Đấng Mê-si phải bị từ bỏ? Lẽ nào họ sẽ không thấy Chúa mình được tôn lên ngai Đa-vít sao? Có thể nào Đấng Christ phải sống như một kẻ lang thang khiêm nhường, không nhà cửa, để bị khinh dể, bị chối bỏ, và bị giết chết chăng? Nỗi buồn đè nặng tấm lòng họ, vì họ yêu mến Thầy mình. Sự nghi ngờ cũng giày vò tâm trí họ, vì dường như không thể hiểu nổi rằng Con Đức Chúa Trời lại phải chịu sự sỉ nhục tàn nhẫn như vậy. Họ thắc mắc tại sao Ngài lại tự nguyện đi lên Giê-ru-sa-lem để gặp sự đối xử mà Ngài đã nói với họ rằng Ngài sẽ phải nhận lấy tại đó. Làm sao Ngài có thể cam chịu số phận như vậy, và để họ lại trong sự tối tăm còn lớn hơn cảnh mà họ đã dò dẫm trước khi Ngài tỏ mình ra cho họ? DA 417.3

Các môn đồ lý luận rằng tại vùng Sê-sa-rê Phi-líp, Đấng Christ ở ngoài tầm với của Hê-rốt và Cai-phe. Ngài chẳng có gì phải sợ hãi nơi lòng thù ghét của người Do Thái hay quyền lực của người La-mã. Tại sao không làm việc tại đó, cách xa người Pha-ri-si? Tại sao Ngài phải phó mình cho sự chết? Nếu Ngài phải chết, thì làm sao nước Ngài có thể được thiết lập vững chắc đến nỗi các cửa âm phủ không thắng được? Đối với các môn đồ, đây quả thật là một điều huyền bí. DA 418.1

Ngay lúc ấy họ đang đi dọc theo bờ biển Ga-li-lê tiến về thành mà nơi đó mọi hi vọng của họ sẽ bị tan vỡ. Họ chẳng dám can gián Đấng Christ, nhưng họ trò chuyện với nhau bằng giọng nói thấp và buồn bã về điều tương lai sẽ ra sao. Ngay cả giữa những thắc mắc của mình, họ vẫn bám lấy ý nghĩ rằng một tình huống bất ngờ nào đó có thể ngăn được số phận dường như đang chờ đợi Chúa họ. Cứ thế, họ buồn rầu và nghi ngờ, hi vọng và sợ hãi, suốt sáu ngày dài và u ám. DA 418.2