Dấu Lạ Chân Thật

Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 15:29-39; Ma-thi-ơ 16:1-12; Mác 7:31-37; Mác 8:1-21. DA 404.1

“Đức Chúa Giê-su lìa bờ cõi thành Ty-rơ, qua thành Si-đôn và trải địa phận Đê-ca-bô-lơ, đến biển Ga-li-lê.” (Mác 7:31)

DA 404.2

Chính tại vùng Đê-ca-bô-lơ mà những người bị quỷ ám ở Giê-ra-sê đã được chữa lành. Tại đây, dân chúng vì hoảng sợ trước sự hủy diệt bầy heo nên đã nài ép Đức Chúa Giê-su rời khỏi họ. Nhưng họ đã lắng nghe những sứ giả mà Ngài để lại, và lòng họ dấy lên ước muốn được gặp Ngài. Khi Ngài lại đến vùng đó, một đám đông tụ tập quanh Ngài, và một người điếc, nói ngọng được đưa đến cùng Ngài. Đức Chúa Giê-su không, theo như thói quen của Ngài, chữa lành người ấy chỉ bằng một lời. Đem người ra khỏi đám đông, Ngài đặt ngón tay vào tai người, và rờ lưỡi người; ngước mắt lên trời, Ngài thở dài khi nghĩ đến những lỗ tai sẽ không chịu mở ra cho lẽ thật, những cái lưỡi từ chối nhìn nhận Đấng Cứu Chuộc. Khi nghe lời phán “Hãy mở ra,” miệng người ấy được phục hồi, và bất chấp mạng lịnh không được nói cho ai, người loan truyền khắp nơi câu chuyện về sự chữa lành của mình. DA 404.3

Đức Chúa Giê-su đi lên một ngọn núi, và tại đó đám đông kéo đến cùng Ngài, mang theo người đau yếu và què quặt, đặt họ dưới chân Ngài. Ngài chữa lành cho hết thảy; và dân chúng, dầu là dân ngoại, đã tôn vinh Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Trong ba ngày họ tiếp tục vây quanh Đấng Cứu Thế, ban đêm ngủ ngoài trời, và suốt cả ngày háo hức chen lấn để nghe lời của Đấng Christ, và xem các công việc của Ngài. Đến cuối ba ngày thì lương thực của họ đã cạn. Đức Chúa Giê-su không muốn để họ ra về với cái bụng đói, nên Ngài kêu gọi các môn đồ cho họ ăn. Một lần nữa các môn đồ bày tỏ sự chẳng tin của mình. Tại Bết-sai-đa họ đã thấy bằng cách nào, với phước lành của Đấng Christ, một số ít lương thực của họ đã đủ để nuôi đám đông; thế mà giờ đây họ không đem ra hết những gì mình có, để tin cậy nơi quyền năng Ngài làm cho nó hóa nhiều mà nuôi đám đông đang đói. Hơn nữa, những người Ngài nuôi tại Bết-sai-đa là người Do Thái; còn những người này là dân ngoại và người ngoại đạo. Thành kiến của người Do Thái vẫn còn mạnh mẽ trong lòng các môn đồ, nên họ thưa với Đức Chúa Giê-su rằng: “Có thể tìm bánh ở đâu trong đồng vắng nầy mà cho dân đông ăn no?” Nhưng vâng theo lời Ngài, họ đem đến cho Ngài những gì họ có—bảy cái bánh và hai con cá. Đám đông được cho ăn no, còn lại bảy giỏ lớn đầy những mảnh vụn. Bốn ngàn người đàn ông, chưa kể đàn bà và con trẻ, đã được giải khát như vậy, và Đức Chúa Giê-su cho họ về với tấm lòng vui mừng và biết ơn. DA 404.4

Rồi cùng các môn đồ lên một chiếc thuyền, Ngài vượt biển qua Ma-đa-la, ở cuối phía nam của đồng bằng Ghê-nê-xa-rết. Ở vùng biên giới Ty-rơ và Si-đôn, tâm linh Ngài đã được tươi mới bởi lòng tin cậy phó thác của người đàn bà Sy-rô Phê-ni-xi. Dân ngoại đạo của vùng Đê-ca-bô-lơ đã tiếp đón Ngài với niềm vui mừng. Giờ đây khi Ngài lại đặt chân lên Ga-li-lê, nơi quyền năng Ngài đã được biểu lộ cách rõ rệt nhất, nơi phần lớn các công việc thương xót của Ngài đã được thực hiện, và sự giảng dạy của Ngài đã được ban ra, thì Ngài lại gặp phải sự chẳng tin đầy khinh miệt. DA 405.1

Một phái đoàn người Pha-ri-si có thêm các đại diện của những người Sa-đu-sê giàu có và quyền quý gia nhập vào, là phe của các thầy tế lễ, những kẻ hoài nghi và giới quý tộc của dân tộc. Hai phái này vốn thù địch cay đắng với nhau. Người Sa-đu-sê tìm cách lấy lòng thế lực cầm quyền để duy trì địa vị và quyền lực của riêng mình. Trái lại, người Pha-ri-si nuôi dưỡng lòng căm ghét của dân chúng đối với người La-mã, mong mỏi thời điểm có thể trút bỏ ách của kẻ chinh phục. Nhưng giờ đây người Pha-ri-si và người Sa-đu-sê liên kết chống lại Đấng Christ. Đồng thanh tương ứng; và điều ác, dầu ở đâu, đều cấu kết với điều ác để hủy diệt điều thiện. DA 405.2

Bấy giờ người Pha-ri-si và người Sa-đu-sê đến cùng Đấng Christ, xin một dấu lạ từ trời. Khi trong thời Giô-suê, Y-sơ-ra-ên ra trận đánh dân Ca-na-an tại Bết-hô-rôn, mặt trời đã đứng yên theo lịnh của vị lãnh đạo cho đến khi thắng trận; và nhiều phép lạ tương tự đã được biểu lộ trong lịch sử của họ. Một dấu lạ như vậy đã được đòi hỏi nơi Đức Chúa Giê-su. Nhưng những dấu lạ ấy chẳng phải là điều người Do Thái cần. Không một bằng chứng bề ngoài nào có thể đem lại ích lợi cho họ. Điều họ cần không phải là sự khai sáng trí tuệ, mà là sự đổi mới thuộc linh. DA 406.1

Đức Chúa Giê-su phán: “Hỡi những kẻ giả hình, các ngươi có thể đoán sắc trời”—bằng việc xem xét bầu trời họ có thể tiên đoán thời tiết—“mà không có thể đoán được dấu chỉ của thời đại sao?” Chính lời của Đấng Christ, được phán ra bằng quyền năng của Đức Thánh Linh khiến họ cáo trách về tội lỗi, là dấu lạ mà Đức Chúa Trời đã ban cho sự cứu rỗi của họ. Và những dấu lạ trực tiếp từ trời đã được ban để chứng thực sứ mạng của Đấng Christ. Bài ca của các thiên sứ cho những kẻ chăn chiên, ngôi sao dẫn đường các nhà thông thái, chim bồ câu và tiếng phán từ trời lúc Ngài chịu báp-têm, đều là những chứng cớ cho Ngài. DA 406.2

“Đức Chúa Giê-su than thở trong lòng mà rằng: Làm sao dòng dõi nầy xin một dấu lạ?” “Sẽ chẳng cho dấu lạ chi hết, ngoài dấu lạ của đấng tiên tri Giô-na.” Như Giô-na đã ở trong bụng cá ba ngày ba đêm, thì Đấng Christ cũng phải ở “trong lòng đất” trong khoảng thời gian ấy. Và như sự rao giảng của Giô-na là một dấu lạ cho dân thành Ni-ni-ve, thì sự rao giảng của Đấng Christ cũng là một dấu lạ cho dòng dõi của Ngài. Nhưng thật khác biệt làm sao trong cách tiếp nhận lời ấy! Dân của thành lớn ngoại đạo đó run sợ khi nghe lời cảnh báo từ Đức Chúa Trời. Các vua và các quan trưởng hạ mình; kẻ cao trọng và kẻ thấp hèn cùng nhau kêu cầu Đức Chúa Trời trên trời, và sự thương xót của Ngài đã được ban cho họ.

“Vì Giô-na đã bị ở trong bụng cá lớn ba ngày ba đêm, cũng một thể ấy, Con người sẽ ở trong lòng đất ba ngày ba đêm. Đến ngày phán xét, dân thành Ni-ni-ve sẽ đứng dậy với dòng dõi này mà lên án nó, vì dân ấy đã nghe lời Giô-na giảng và ăn năn; mà đây này, có một người tôn trọng hơn Giô-na!” (Ma-thi-ơ 12:40,41)

DA 406.3

Mỗi phép lạ mà Đấng Christ làm là một dấu chỉ về thần tính của Ngài. Ngài đang làm chính công việc đã được báo trước về Đấng Mê-si; nhưng đối với người Pha-ri-si, những công việc thương xót này là một sự xúc phạm thực sự. Các lãnh đạo Do Thái nhìn sự đau khổ của loài người với thái độ thờ ơ vô tâm. Trong nhiều trường hợp, lòng ích kỷ và sự áp bức của họ đã gây ra chính nỗi khốn khổ mà Đấng Christ giải cứu. Bởi vậy các phép lạ của Ngài là một sự khiển trách đối với họ. DA 406.4

Điều khiến người Do Thái khước từ công việc của Đấng Cứu Thế lại chính là bằng chứng cao nhất về thần tính của Ngài. Ý nghĩa lớn lao nhất của các phép lạ Ngài được thấy trong sự kiện rằng chúng nhằm đem phước lành cho nhân loại. Bằng chứng cao nhất rằng Ngài đến từ Đức Chúa Trời ấy là đời sống Ngài đã bày tỏ bản tánh của Đức Chúa Trời. Ngài làm các công việc và phán những lời của Đức Chúa Trời. Một đời sống như vậy là phép lạ lớn nhất trong mọi phép lạ. DA 406.5

Khi sứ điệp về lẽ thật được trình bày trong thời đại chúng ta, có nhiều người, giống như người Do Thái, kêu lên rằng: Hãy tỏ cho chúng tôi một dấu lạ. Hãy làm cho chúng tôi một phép lạ. Đấng Christ đã không làm phép lạ nào theo lời đòi hỏi của người Pha-ri-si. Ngài đã không làm phép lạ nào trong đồng vắng để đáp lại những lời gièm siểm của Sa-tan. Ngài không ban cho chúng ta quyền năng để biện minh cho chính mình hay để thỏa mãn những đòi hỏi của lòng chẳng tin và sự kiêu ngạo. Nhưng tin lành không phải là không có dấu chỉ về nguồn gốc thiêng liêng của nó. Há chẳng phải là một phép lạ khi chúng ta có thể thoát khỏi ách nô lệ của Sa-tan sao? Lòng thù nghịch chống lại Sa-tan không phải là điều tự nhiên trong tấm lòng con người; nó được gieo trồng bởi ân điển của Đức Chúa Trời. Khi một người từng bị cai trị bởi một ý chí cứng đầu, ngỗ nghịch được giải thoát, và hết lòng buông mình theo sự lôi kéo của các cơ binh thiên thượng của Đức Chúa Trời, thì một phép lạ được thực hiện; cũng vậy khi một người từng ở dưới sự lừa dối mạnh mẽ đến chỗ hiểu được lẽ thật đạo đức. Mỗi lần một linh hồn được cải đạo, và học biết yêu mến Đức Chúa Trời cùng giữ các điều răn Ngài, thì lời hứa của Đức Chúa Trời được ứng nghiệm: “Ta cũng sẽ ban lòng mới cho các ngươi, và đặt thần mới trong các ngươi.” Ê-xê-chi-ên 36:26. Sự thay đổi trong tấm lòng con người, sự biến đổi bản tánh con người, là một phép lạ bày tỏ một Đấng Cứu Thế hằng sống, đang hành động để giải cứu các linh hồn. Một đời sống nhất quán trong Đấng Christ là một phép lạ lớn lao. Trong việc rao giảng lời của Đức Chúa Trời, dấu chỉ phải được biểu lộ ngày nay và mãi mãi ấy là sự hiện diện của Đức Thánh Linh, để làm cho lời ấy trở thành một quyền năng tái sanh đối với những người nghe. Đây là chứng cớ của Đức Chúa Trời trước thế gian về sứ mạng thiêng liêng của Con Ngài. DA 407.1

Những kẻ đòi hỏi một dấu lạ từ nơi Đức Chúa Giê-su đã cứng lòng trong sự chẳng tin đến nỗi họ không nhận ra trong tánh hạnh của Ngài hình ảnh giống như Đức Chúa Trời. Họ không chịu nhìn nhận rằng sứ mạng của Ngài là sự ứng nghiệm của Kinh Thánh. Trong ngụ ngôn về người giàu và La-xa-rơ, Đức Chúa Giê-su đã phán cùng người Pha-ri-si:

“Song Áp-ra-ham rằng: Nếu không nghe Môi-se và các đấng tiên tri, thì dầu có ai từ kẻ chết sống lại, chúng nó cũng chẳng tin vậy.” (Lu-ca 16:31)

Không một dấu lạ nào dầu được ban cho từ trời hay dưới đất có thể đem lại ích lợi gì cho họ. DA 407.2

Đức Chúa Giê-su “than thở trong lòng,” và quay lưng khỏi đám người hay bắt bẻ, Ngài cùng các môn đồ trở lại thuyền. Trong sự im lặng buồn bã, họ lại vượt qua biển hồ. Tuy nhiên, họ không trở về nơi đã ra đi, nhưng hướng đến Bết-sai-đa, gần nơi năm ngàn người đã được cho ăn. Khi đến bờ bên kia, Đức Chúa Giê-su phán: “Hãy giữ mình cẩn thận, đề phòng men của người Pha-ri-si và người Sa-đu-sê.” Từ thời Môi-se, người Do Thái đã quen dẹp bỏ men ra khỏi nhà mình trong mùa lễ Vượt Qua, và như vậy họ đã được dạy dỗ xem men như là hình bóng của tội lỗi. Tuy nhiên, các môn đồ không hiểu lời Đức Chúa Giê-su. Trong sự ra đi vội vã khỏi Ma-đa-la, họ đã quên đem theo bánh, và chỉ còn lại một ổ bánh mà thôi. Họ hiểu rằng Đấng Christ đang ám chỉ đến hoàn cảnh này, cảnh báo họ chớ mua bánh của người Pha-ri-si hay người Sa-đu-sê. Sự thiếu đức tin và sự hiểu biết thuộc linh thường khiến họ hiểu lầm lời của Ngài theo cách tương tự. Bấy giờ Đức Chúa Giê-su quở trách họ vì đã nghĩ rằng Đấng đã cho hàng ngàn người ăn với mấy con cá và mấy ổ bánh mạch nha, trong lời cảnh báo nghiêm trọng ấy lại chỉ có ý nói đến lương thực phần xác. Có sự nguy hiểm là lối lý luận xảo quyệt của người Pha-ri-si và người Sa-đu-sê sẽ làm dậy men các môn đồ Ngài bằng sự chẳng tin, khiến họ xem thường các công việc của Đấng Christ. DA 407.3

Các môn đồ có khuynh hướng nghĩ rằng Thầy của họ lẽ ra nên đáp ứng lời đòi hỏi một dấu lạ từ trời. Họ tin rằng Ngài hoàn toàn có thể làm được điều này, và một dấu lạ như thế sẽ làm cho kẻ thù của Ngài phải nín lặng. Họ không nhận ra sự giả hình của những kẻ hay bắt bẻ ấy. DA 408.1

Nhiều tháng sau, “khi một đoàn dân đông nhóm lại, đến nỗi giày đạp nhau,” Đức Chúa Giê-su lặp lại sự dạy dỗ ấy. “Đức Chúa Giê-su trước hết phán cùng môn đồ rằng: Hãy giữ mình về men của người Pha-ri-si, là sự giả hình.”

“Khi ấy, dân chúng nhóm lại kể hàng ngàn người, đến nỗi giày đạp nhau, Đức Chúa Giê-su mới trước hết phán cùng môn đồ rằng: Hãy giữ mình về men của người Pha-ri-si, là sự giả hình.” (Lu-ca 12:1)

DA 408.2

Men được bỏ vào bột làm việc một cách không thể nhận thấy, biến đổi cả khối bột theo bản chất của nó. Cũng vậy, nếu sự giả hình được phép tồn tại trong lòng, nó sẽ thấm vào tánh hạnh và đời sống. Một thí dụ nổi bật về sự giả hình của người Pha-ri-si mà Đấng Christ đã quở trách, là khi Ngài lên án tục lệ “Co-ban,” qua đó sự bỏ bê bổn phận làm con được che giấu dưới chiêu bài rộng rãi đối với đền thờ. Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si đang khéo léo gieo rắc những nguyên tắc lừa dối. Họ che giấu khuynh hướng thật của giáo lý mình, và lợi dụng mọi cơ hội để khéo léo nhồi nhét chúng vào tâm trí những người nghe. Những nguyên tắc sai lầm này, một khi được chấp nhận, hành động như men trong bột, thấm vào và biến đổi tánh hạnh. Chính sự dạy dỗ lừa dối này khiến cho dân chúng khó tiếp nhận lời của Đấng Christ. DA 408.3

Những ảnh hưởng tương tự đang hành động ngày nay qua những kẻ cố gắng giải thích luật pháp Đức Chúa Trời sao cho phù hợp với cách sống của họ. Hạng người này không công khai công kích luật pháp, nhưng đưa ra những lý thuyết suy đoán làm xói mòn các nguyên tắc của nó. Họ giải thích nó theo cách phá hủy hiệu lực của nó. DA 408.4

Sự giả hình của người Pha-ri-si là sản phẩm của lòng tư lợi. Sự tôn vinh bản thân là mục tiêu của đời sống họ. Chính điều này đã dẫn họ đến chỗ xuyên tạc và áp dụng sai Kinh Thánh, và làm họ mù lòa đối với mục đích sứ mạng của Đấng Christ. Chính điều ác tinh vi này mà các môn đồ của Đấng Christ cũng có nguy cơ ấp ủ. Những kẻ tự xếp mình vào hàng những người theo Đức Chúa Giê-su, nhưng chưa từ bỏ tất cả để trở thành môn đồ Ngài, đã bị ảnh hưởng rất nhiều bởi lối lý luận của người Pha-ri-si. Họ thường dao động giữa đức tin và sự chẳng tin, và họ không nhận ra những kho báu khôn ngoan giấu kín trong Đấng Christ. Ngay cả các môn đồ, dù bề ngoài đã từ bỏ tất cả vì Đức Chúa Giê-su, nhưng trong lòng vẫn chưa thôi tìm kiếm những điều lớn lao cho chính mình. Chính tinh thần này đã thúc đẩy sự tranh cãi về việc ai sẽ là người lớn nhất. Chính điều này đã chen vào giữa họ và Đấng Christ, khiến họ ít đồng cảm với sứ mạng hy sinh của Ngài, chậm hiểu sự mầu nhiệm của sự cứu chuộc. Như men, nếu được để hoàn thành công việc của nó, sẽ gây nên sự hư hoại và mục nát, thì tinh thần tư lợi, khi được ấp ủ, cũng gây nên sự ô uế và hủy hoại linh hồn như vậy. DA 409.1

Giữa vòng những người theo Chúa chúng ta ngày nay, cũng như xưa, tội lỗi tinh vi, lừa dối này lan tràn biết bao! Sự phục vụ của chúng ta đối với Đấng Christ, sự thông công của chúng ta với nhau, thường bị hư hoại bởi lòng khao khát thầm kín muốn đề cao bản thân! Ý tưởng tự mãn, và sự khao khát được người ta tán thưởng, sẵn sàng đến biết bao! Chính lòng yêu bản thân, sự khao khát một con đường dễ dàng hơn con đường Đức Chúa Trời đã chỉ định, dẫn đến việc thay thế các mệnh lệnh thiêng liêng bằng những lý thuyết và truyền thống của loài người. Đối với chính các môn đồ Ngài, Đấng Christ phán những lời cảnh báo: “Hãy giữ mình cẩn thận, đề phòng men của người Pha-ri-si.” DA 409.2

Đạo của Đấng Christ chính là sự chân thành. Lòng nhiệt thành vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời là động cơ được Đức Thánh Linh đặt vào; và chỉ có sự vận hành đầy quyền năng của Thánh Linh mới có thể đặt vào động cơ này. Chỉ có quyền năng của Đức Chúa Trời mới có thể xua đuổi lòng tư lợi và sự giả hình. Sự thay đổi này là dấu hiệu công việc của Ngài. Khi đức tin chúng ta tiếp nhận tiêu diệt tánh ích kỷ và sự giả vờ, khi nó dẫn chúng ta tìm kiếm sự vinh hiển của Đức Chúa Trời chứ không phải của chính mình, chúng ta có thể biết rằng nó thuộc về loại đúng đắn. “Lạy Cha, xin làm sáng danh Cha!”

“Cha ơi, xin làm sáng danh Cha! Bấy giờ có tiếng từ trên trời phán xuống rằng: Ta đã làm sáng danh rồi, ta còn làm cho sáng danh nữa!” (Giăng 12:28)

là âm điệu chủ đạo của đời sống Đấng Christ, và nếu chúng ta theo Ngài, đây sẽ là âm điệu chủ đạo của đời sống chúng ta. Ngài truyền chúng ta phải “bước đi như chính Ngài đã bước đi”; và “nầy tại sao chúng ta biết mình đã biết Ngài, ấy là tại chúng ta giữ các điều răn của Ngài.”

“Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm. Nầy tại sao chúng ta biết mình đã biết Ngài, ấy là tại chúng ta giữ các điều răn của Ngài.” (I Giăng 2:6,3)

DA 409.3