Những Hàng Rào Bị Phá Đổ

Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 15:21-28; Mác 7:24-30. DA 399.1

Sau cuộc gặp gỡ với người Pha-ri-si, Đức Chúa Giê-su lìa khỏi Ca-bê-na-um, băng qua xứ Ga-li-lê, và đi đến vùng đồi núi nơi biên giới Phê-ni-xi. Nhìn về phía tây, Ngài có thể trông thấy, trải rộng trên đồng bằng phía dưới, những thành cổ Ty-rơ và Si-đôn, với các đền thờ tà thần, những cung điện nguy nga và các chợ buôn bán, cùng những bến cảng đầy tàu thuyền. Xa hơn nữa là biển Địa Trung Hải mênh mông màu xanh, mà trên đó các sứ giả của tin lành sẽ mang tin mừng đến các trung tâm của những đế quốc lớn trên thế giới. Nhưng thời điểm ấy chưa đến. Công việc trước mắt Ngài lúc bấy giờ là chuẩn bị cho các môn đồ trong sứ mạng của họ. Khi đến vùng này, Ngài hy vọng tìm được sự yên tĩnh mà Ngài đã không có được ở Bết-sai-đa. Tuy nhiên, đó không phải là mục đích duy nhất của Ngài trong chuyến đi này. DA 399.2

“Xảy có một người đàn bà xứ Ca-na-an, từ xứ ấy đến, mà kêu lên rằng: Lạy Chúa, là con cháu vua Đa-vít, xin thương xót tôi cùng! Con gái tôi mắc quỉ ám, khốn cực lắm.” (Ma-thi-ơ 15:22)

Dân cư của vùng này thuộc dòng dõi Ca-na-an cổ xưa. Họ là những kẻ thờ thần tượng, và bị người Do Thái khinh dể và ghét bỏ. Người đàn bà đến với Đức Chúa Giê-su lúc này thuộc về hạng người đó. Bà là một người ngoại giáo, và vì thế bị loại khỏi những đặc ân mà người Do Thái được hưởng hằng ngày. Có nhiều người Do Thái sống giữa dân Phê-ni-xi, và tin tức về công việc của Đấng Christ đã lan đến vùng này. Một số người đã nghe lời Ngài và chứng kiến những việc kỳ diệu Ngài làm. Người đàn bà này đã nghe về vị tiên tri, mà theo đồn đại, có thể chữa lành mọi thứ bệnh tật. Khi nghe về quyền năng của Ngài, niềm hy vọng nảy nở trong lòng bà. Được tình yêu của một người mẹ thúc đẩy, bà quyết định trình bày trường hợp của con gái mình lên Ngài. Bà cương quyết mang nỗi đau khổ của mình đến với Đức Chúa Giê-su. Ngài phải chữa lành cho con bà. Bà đã tìm sự giúp đỡ nơi các thần ngoại giáo, nhưng chẳng được giải thoát. Và đôi lúc bà bị cám dỗ nghĩ rằng: Vị thầy người Do Thái này có thể làm gì cho ta? Nhưng tin đã đến rằng Ngài chữa lành mọi thứ bệnh tật, dù cho những kẻ đến với Ngài để cầu cứu là người giàu hay người nghèo. Bà quyết không đánh mất niềm hy vọng duy nhất của mình. DA 399.3

Đấng Christ biết hoàn cảnh của người đàn bà này. Ngài biết bà đang khao khát được gặp Ngài, và Ngài đặt chính mình trên đường đi của bà. Bằng cách chăm sóc nỗi buồn của bà, Ngài có thể đưa ra một minh họa sống động cho bài học mà Ngài định dạy dỗ. Vì mục đích này mà Ngài đã đem các môn đồ đến vùng này. Ngài muốn họ thấy sự dốt nát đang tồn tại trong các thành phố và làng mạc gần kề đất Y-sơ-ra-ên. Dân tộc đã được ban cho mọi cơ hội để hiểu biết lẽ thật lại không hề biết đến nhu cầu của những kẻ chung quanh họ. Không một nỗ lực nào được thực hiện để giúp đỡ những linh hồn trong sự tăm tối. Bức tường ngăn cách mà sự kiêu căng của người Do Thái đã dựng lên cũng đã ngăn cản chính các môn đồ khỏi lòng cảm thương đối với thế giới ngoại giáo. Nhưng những rào cản này sẽ phải bị phá đổ. DA 400.1

Đấng Christ không trả lời ngay lời cầu xin của người đàn bà. Ngài tiếp nhận người đại diện của một chủng tộc bị khinh dể này theo cách mà người Do Thái thường làm. Qua điều này, Ngài muốn các môn đồ phải ghi nhớ thái độ lạnh lùng và vô tâm mà người Do Thái sẽ đối xử với một trường hợp như vậy, được tỏ ra qua sự tiếp đón người đàn bà của Ngài, và cách thức đầy lòng thương xót mà Ngài muốn họ đối phó với nỗi khổ đau như thế, được biểu lộ qua việc Ngài sau đó chấp thuận lời thỉnh cầu của bà. DA 400.2

Nhưng dù Đức Chúa Giê-su không trả lời, người đàn bà vẫn không mất đức tin. Khi Ngài tiếp tục đi, dường như chẳng nghe bà, bà vẫn theo Ngài, không ngừng nài xin. Bực bội vì sự nài nỉ của bà, các môn đồ xin Đức Chúa Giê-su đuổi bà đi. Họ thấy Thầy mình đối xử với bà cách lãnh đạm, vì thế họ cho rằng sự thành kiến của người Do Thái đối với dân Ca-na-an làm vui lòng Ngài. Nhưng người mà bà đang khẩn cầu là một Đấng Cứu Thế đầy lòng thương xót, và để đáp lại lời thỉnh cầu của các môn đồ, Đức Chúa Giê-su phán: “Ta chịu sai đến đây, chỉ vì các con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên mà thôi.” Dù câu trả lời này dường như phù hợp với sự thành kiến của người Do Thái, nhưng đó là một lời quở trách ngầm đối với các môn đồ, mà về sau họ hiểu ra như một lời nhắc nhở về điều Ngài thường nói với họ—rằng Ngài đến thế gian để cứu hết thảy những ai chịu tiếp nhận Ngài. DA 400.3

Người đàn bà càng tha thiết hơn nài xin trường hợp của mình, bà phục dưới chân Đấng Christ và kêu lên: “Lạy Chúa, xin cứu giúp con.” Đức Chúa Giê-su, vẫn dường như khước từ lời nài xin của bà, theo sự thành kiến vô tình của người Do Thái, đáp rằng: “Không nên lấy bánh của con cái mà quăng cho chó con ăn.” Điều này thực chất là khẳng định rằng việc ban phát một cách hào phóng những phước lành dành cho dân được Đức Chúa Trời ưu ái cho những người ngoại và xa lạ với Y-sơ-ra-ên là không công bằng. Câu trả lời này hẳn sẽ làm nản lòng hoàn toàn một kẻ tìm kiếm kém tha thiết hơn. Nhưng người đàn bà thấy rằng cơ hội của bà đã đến. Đằng sau sự khước từ bề ngoài của Đức Chúa Giê-su, bà nhận thấy một lòng thương xót mà Ngài không thể giấu được. Bà đáp: “Lạy Chúa, thật như vậy, song mấy con chó con ăn những miếng bánh vụn trên bàn chủ nó rớt xuống.” Trong khi con cái trong nhà ngồi ăn tại bàn của cha, thì cả những con chó cũng không bị bỏ đói. Chúng có quyền đối với những miếng bánh vụn rớt từ chiếc bàn dư dật. Cũng vậy, dù có nhiều phước lành dành cho Y-sơ-ra-ên, há chẳng còn một phước lành cho bà sao? Bà bị xem như một con chó, vậy chẳng phải bà cũng có quyền của một con chó để được một miếng bánh vụn từ sự dư dật của Ngài sao? DA 401.1

Đức Chúa Giê-su vừa rời khỏi cánh đồng lao động của mình vì các thầy thông giáo và người Pha-ri-si đang tìm cách giết Ngài. Họ lằm bằm và phàn nàn. Họ tỏ ra sự chẳng tin và lòng cay đắng, và chối bỏ sự cứu rỗi đã được ban cho họ cách nhưng không. Tại đây, Đấng Christ gặp một người thuộc chủng tộc bất hạnh và bị khinh dể, là chủng tộc chưa được ưu đãi với ánh sáng của Lời Đức Chúa Trời; thế mà bà lập tức thuận phục dưới ảnh hưởng thiêng liêng của Đấng Christ, và có một đức tin trọn vẹn nơi khả năng của Ngài để ban cho điều bà cầu xin. Bà nài xin những miếng bánh vụn rớt từ bàn của Chủ. Nếu bà có thể được đặc ân của một con chó, thì bà cũng sẵn lòng bị xem là một con chó. Bà không có thành kiến hay kiêu hãnh về dân tộc hoặc tôn giáo nào ảnh hưởng đến hành động của bà, và bà lập tức công nhận Đức Chúa Giê-su là Đấng Cứu Chuộc, và có thể làm hết thảy những gì bà cầu xin nơi Ngài. DA 401.2

Đấng Cứu Thế lấy làm hài lòng. Ngài đã thử nghiệm đức tin của bà nơi Ngài. Qua cách đối xử với bà, Ngài đã cho thấy rằng người từng bị xem là kẻ bị loại bỏ khỏi Y-sơ-ra-ên không còn là người xa lạ nữa, mà là một con cái trong nhà của Đức Chúa Trời. Là một con cái, bà có đặc ân được dự phần trong những món quà của Đức Chúa Cha. Đấng Christ giờ đây chấp thuận lời cầu xin của bà, và hoàn tất bài học cho các môn đồ. Quay sang bà với ánh mắt đầy thương xót và yêu thương, Ngài phán: “Hỡi đàn bà kia, ngươi có đức tin lớn; việc phải xảy ra theo ý ngươi muốn.” Từ giờ đó, con gái bà được lành. Quỷ dữ chẳng còn quấy nhiễu nó nữa. Người đàn bà ra về, công nhận Đấng Cứu Thế của mình, và vui mừng vì lời cầu nguyện được nhậm. DA 401.3

Đây là phép lạ duy nhất mà Đức Chúa Giê-su đã làm trong chuyến đi này. Chính vì để thực hiện hành động này mà Ngài đã đến vùng biên giới Ty-rơ và Si-đôn. Ngài muốn cứu giúp người đàn bà đau khổ, và đồng thời để lại một gương mẫu trong công việc thương xót của Ngài đối với một người thuộc dân tộc bị khinh dể, vì lợi ích của các môn đồ khi Ngài không còn ở cùng họ nữa. Ngài muốn dẫn dắt họ ra khỏi tính bài ngoại của người Do Thái để quan tâm đến việc làm cho những người khác ngoài dân tộc của họ. DA 402.1

Đức Chúa Giê-su khao khát bày tỏ những mầu nhiệm sâu thẳm của lẽ thật đã bị che giấu qua các thời đại, rằng dân ngoại sẽ được đồng kế tự với người Do Thái, và “dự phần về lời hứa của Ngài trong Đức Chúa Giê-su bởi tin lành.”

“Lẽ mầu nhiệm đó tức là: Dân ngoại là kẻ đồng kế tự, là các chi của đồng một thể, đều có phần chung với chúng ta về lời hứa đã nhờ Tin lành mà lập trong Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc;” (Ê-phê-sô 3:6)

Lẽ thật này các môn đồ chậm hiểu, và vị Thầy thiêng liêng đã ban cho họ hết bài học này đến bài học khác. Trong việc tưởng thưởng đức tin của thầy đội tại Ca-bê-na-um, và rao giảng tin lành cho dân cư thành Si-kha, Ngài đã đưa ra bằng chứng rằng Ngài không có cùng sự hẹp hòi của người Do Thái. Nhưng dân Sa-ma-ri có chút hiểu biết về Đức Chúa Trời; và thầy đội đã tỏ lòng tử tế với Y-sơ-ra-ên. Giờ đây Đức Chúa Giê-su đưa các môn đồ tiếp xúc với một người ngoại giáo, mà họ cho rằng chẳng có lý do gì hơn bất kỳ ai trong dân tộc của bà để mong được Ngài ưu ái. Ngài sẽ ban một gương mẫu về cách một người như thế nên được đối xử ra sao. Các môn đồ đã nghĩ rằng Ngài ban phát quá rộng rãi những món quà ân điển của Ngài. Ngài sẽ cho thấy rằng tình yêu thương của Ngài không bị giới hạn bởi chủng tộc hay dân tộc nào. DA 402.2

Khi Ngài phán: “Ta chẳng được sai đến cùng ai khác ngoài những con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên,” Ngài đã nói lên một sự thật, và trong công việc Ngài làm cho người đàn bà Ca-na-an, Ngài đang làm trọn sứ mạng của mình. Người đàn bà này là một trong những con chiên lạc mất mà dân Y-sơ-ra-ên đáng lẽ phải giải cứu. Đó là công việc đã được giao phó cho họ, công việc mà họ đã sao lãng, và chính công việc ấy Đấng Christ đang thực hiện. DA 402.3

Hành động này đã mở rộng tâm trí của các môn đồ một cách đầy đủ hơn về công việc đang chờ đợi họ giữa vòng dân ngoại. Họ thấy một cánh đồng hữu ích rộng lớn ở ngoài xứ Giu-đê. Họ thấy những linh hồn đang mang lấy những nỗi buồn mà những người được ưu đãi hơn không hề biết đến. Giữa vòng những kẻ mà họ đã được dạy phải khinh dể, có những linh hồn khao khát sự giúp đỡ từ Đấng Chữa Lành quyền năng, đói khát ánh sáng của lẽ thật, là điều đã được ban cho người Do Thái cách dư dật. DA 402.4

Về sau, khi người Do Thái lại càng kiên quyết quay lưng với các môn đồ, vì họ tuyên bố Đức Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế của thế gian, và khi bức tường ngăn cách giữa người Do Thái và dân ngoại đã bị phá đổ bởi sự chết của Đấng Christ, thì bài học này, cùng những bài học tương tự chỉ về công việc tin lành không bị giới hạn bởi phong tục hay quốc tịch, đã có một ảnh hưởng mạnh mẽ trên những đại diện của Đấng Christ, trong việc hướng dẫn công lao của họ. DA 402.5

Chuyến viếng thăm Phê-ni-xi của Đấng Cứu Thế và phép lạ được thực hiện tại đó còn có một mục đích rộng lớn hơn nữa. Công việc được hoàn thành không chỉ vì người đàn bà đau khổ, cũng chẳng phải chỉ vì các môn đồ của Ngài và những người tiếp nhận công lao của họ; nhưng cũng để “cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Giê-su là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin thì nhờ danh Ngài mà được sự sống.” Giăng 20:31. Chính những thế lực đã ngăn cản con người đến với Đấng Christ một ngàn tám trăm năm trước vẫn còn đang hoạt động ngày nay. Tinh thần đã dựng lên bức tường ngăn cách giữa người Do Thái và dân ngoại vẫn còn hoạt động. Sự kiêu ngạo và thành kiến đã xây dựng những bức tường chia rẽ vững chắc giữa các tầng lớp khác nhau của loài người. Đấng Christ và sứ mạng của Ngài đã bị trình bày sai lạc, và vô số người cảm thấy rằng thực ra họ bị ngăn cách khỏi chức vụ của tin lành. Nhưng đừng để họ cảm thấy rằng họ bị ngăn cách khỏi Đấng Christ. Không có rào cản nào mà con người hay Sa-tan có thể dựng lên mà đức tin lại không thể xuyên qua được. DA 403.1

Trong đức tin, người đàn bà Phê-ni-xi đã lao mình chống lại những rào cản đã được dựng lên giữa người Do Thái và dân ngoại. Bất chấp sự nản lòng, không màng đến những hình thức bên ngoài có thể khiến bà nghi ngờ, bà đã tin cậy nơi tình yêu thương của Đấng Cứu Thế. Đó chính là cách mà Đấng Christ mong muốn chúng ta tin cậy nơi Ngài. Các phước lành của sự cứu rỗi dành cho mọi linh hồn. Không có gì ngoài sự lựa chọn của chính mình mới có thể ngăn cản bất cứ ai trở thành người dự phần trong lời hứa nơi Đấng Christ qua tin lành. DA 403.2

Sự phân biệt giai cấp là điều đáng ghét đối với Đức Chúa Trời. Ngài chẳng màng đến bất cứ điều gì thuộc tính chất này. Trong mắt Ngài, linh hồn của mọi người đều có giá trị ngang nhau. Ngài “đã làm cho muôn dân sanh ra bởi chỉ một dòng máu, để ở khắp trên mặt đất, và đã định trước thì giờ đời người ta cùng giới hạn chỗ ở, hầu cho tìm kiếm Đức Chúa Trời, và hết sức rờ tìm cho được, dẫu Ngài chẳng ở xa mỗi một người trong chúng ta.” Không phân biệt tuổi tác, địa vị, quốc tịch, hay đặc ân tôn giáo, hết thảy đều được mời đến cùng Ngài để được sống. “Hễ ai tin Ngài sẽ chẳng bị hổ thẹn. Vì chẳng có sự phân biệt nào.” “Tại đây không còn người Giu-đa hoặc người Gờ-réc, không còn kẻ tôi mọi hoặc người tự chủ.” “Kẻ giàu và người nghèo gặp nhau; Đức Giê-hô-va đã dựng nên cả hai.” “Cũng một Chúa chung cho mọi người, ban ơn dư dật cho mọi kẻ kêu cầu Ngài. Vì ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu.” Công-vụ các Sứ-đồ 17:26, 27; Ga-la-ti 3:28; Châm-ngôn 22:2; Rô-ma 10:11-13. DA 403.3