Cuộc Khủng Hoảng Ở Ga-li-lê
Chương này dựa trên Giăng 6:22-71. DA 383.1
Khi Đấng Christ ngăn cấm dân chúng tôn Ngài làm vua, Ngài biết rằng một bước ngoặt trong lịch sử của Ngài đã đến. Vô số người hôm nay muốn tôn Ngài lên ngai vàng thì ngày mai sẽ quay lưng lại với Ngài. Sự thất vọng về tham vọng ích kỷ của họ sẽ biến tình yêu thương thành lòng thù ghét, và lời ca tụng thành những lời nguyền rủa. Tuy biết điều này, Ngài không thực hiện biện pháp nào để né tránh cơn khủng hoảng. Ngay từ đầu, Ngài đã không đưa ra cho những kẻ theo Ngài bất kỳ hy vọng nào về phần thưởng trần thế. Với một người đến mong muốn trở thành môn đồ Ngài, Ngài đã phán,
“Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Con cáo có hang, chim trời có ổ; song Con người không có chỗ mà gối đầu.” (Ma-thi-ơ 8:20)
Nếu loài người có thể được cả thế gian khi theo Đấng Christ, thì vô số người sẽ dâng cho Ngài lòng trung thành của họ; nhưng Ngài không thể chấp nhận sự phục vụ như thế. Trong số những người đang gắn bó với Ngài lúc này, có nhiều kẻ đã bị thu hút bởi hy vọng về một vương quốc trần thế. Những người này cần được tỉnh ngộ. Sự giảng dạy thuộc linh sâu sắc trong phép lạ bánh chưa được lĩnh hội. Điều này cần được làm cho rõ ràng. Và sự mặc khải mới này sẽ đem theo một sự thử thách gắt gao hơn. DA 383.2
Phép lạ bánh được thuật lại khắp nơi xa gần, và sáng sớm hôm sau dân chúng đổ về Bết-sai-đa để gặp Đức Chúa Giê-su. Họ đến với số đông lớn, cả bằng đường bộ lẫn đường biển. Những người đã rời Ngài tối hôm trước trở lại, mong tìm thấy Ngài vẫn còn ở đó; vì không có chiếc thuyền nào để Ngài có thể qua bờ bên kia. Nhưng việc tìm kiếm của họ vô ích, và nhiều người đi đến Ca-bê-na-um, vẫn tìm kiếm Ngài. DA 383.3
Trong khi đó, Ngài đã đến Ghê-nê-xa-rết, sau khi vắng mặt chỉ một ngày. Vừa khi biết Ngài đã lên bờ, dân chúng “chạy khắp cả miền đó, khiêng những người đau nằm trên giường, hễ nghe Ngài ở đâu thì đem đến đó.” Mác 6:55. DA 384.1
Sau một thời gian, Ngài vào nhà hội, và tại đó những người đến từ Bết-sai-đa tìm thấy Ngài. Họ nghe các môn đồ Ngài kể lại Ngài đã vượt biển như thế nào. Cơn cuồng nộ của bão tố, và nhiều giờ chèo chống vô ích ngược chiều gió, sự xuất hiện của Đấng Christ đi trên mặt nước, những nỗi sợ hãi do đó dấy lên, những lời trấn an của Ngài, cuộc phiêu lưu của Phi-e-rơ và kết quả của nó, cùng với sự lặng yên đột ngột của bão tố và việc thuyền cập bờ, tất cả đều được kể lại trung thực cho đám đông kinh ngạc. Tuy nhiên, chưa thỏa lòng với điều ấy, nhiều người vây quanh Đức Chúa Giê-su, hỏi rằng, “Lạy thầy, thầy đến đây bao giờ?” Họ hy vọng nhận được từ chính miệng Ngài lời tường thuật thêm về phép lạ. DA 384.2
Đức Chúa Giê-su không thỏa mãn tính tò mò của họ. Ngài buồn bã phán, “Các ngươi tìm ta chẳng phải vì đã thấy mấy phép lạ, nhưng vì các ngươi đã ăn bánh và được no.” Họ tìm kiếm Ngài không phải vì bất cứ động cơ xứng đáng nào; nhưng vì họ đã được ăn bánh, nên họ vẫn hy vọng nhận được lợi ích tạm thời bằng cách gắn bó với Ngài. Đấng Cứu Thế truyền bảo họ, “Hãy làm việc, chớ vì đồ ăn hay hư nát, nhưng vì đồ ăn còn lại đến sự sống đời đời.” Đừng tìm kiếm chỉ vì lợi ích vật chất. Đừng để nỗ lực chính yếu là lo liệu cho sự sống hiện tại, nhưng hãy tìm kiếm thức ăn thuộc linh, ngay cả sự khôn ngoan tồn tại đến sự sống đời đời. Chỉ một mình Con Đức Chúa Trời có thể ban điều này; “vì ấy là Con, mà Cha, tức là chính Đức Chúa Trời, đã ghi ấn tín của mình.” DA 384.3
Trong khoảnh khắc đó, sự quan tâm của những người nghe được khơi dậy. Họ kêu lên, “Chúng tôi phải làm chi cho được làm công việc Đức Chúa Trời?” Họ đã thực hiện nhiều công việc nặng nề để tự giới thiệu mình với Đức Chúa Trời; và họ sẵn sàng nghe về bất kỳ nghi thức mới nào mà qua đó họ có thể giành được công trạng lớn hơn. Câu hỏi của họ có nghĩa là, Chúng tôi phải làm gì để xứng đáng được lên thiên đàng? Cái giá chúng tôi phải trả để có được sự sống mai sau là gì? DA 385.1
“Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Các ngươi tin Đấng mà Đức Chúa Trời đã sai đến, ấy đó là công việc Ngài.” Cái giá của thiên đàng là Đức Chúa Giê-su. Con đường đến thiên đàng là qua đức tin nơi “Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi.” Giăng 1:29. DA 385.2
Nhưng dân chúng không muốn tiếp nhận lời tuyên bố về lẽ thật thiêng liêng này. Đức Chúa Giê-su đã làm chính công việc mà lời tiên tri đã báo trước rằng Đấng Mê-si sẽ làm; nhưng họ đã không chứng kiến điều mà hy vọng ích kỷ của họ đã vẽ ra như là công việc của Ngài. Đấng Christ quả thật đã có lần cho đoàn dân ăn bánh lúa mạch; nhưng trong thời Môi-se, dân Y-sơ-ra-ên đã được nuôi bằng ma-na suốt bốn mươi năm, và những phước lành lớn lao hơn nhiều được trông đợi từ Đấng Mê-si. Lòng bất mãn của họ hỏi rằng tại sao, nếu Đức Chúa Giê-su có thể thực hiện nhiều công việc kỳ diệu như họ đã chứng kiến, Ngài lại không thể ban sức khỏe, sức lực và sự giàu có cho hết thảy dân Ngài, giải phóng họ khỏi những kẻ áp bức, và nâng họ lên quyền lực và danh dự? Việc Ngài tự xưng là Đấng được Đức Chúa Trời sai đến, vậy mà lại từ chối làm vua của Y-sơ-ra-ên, là một điều bí ẩn mà họ không thể nào hiểu thấu. Sự từ chối của Ngài bị hiểu sai. Nhiều người kết luận rằng Ngài không dám khẳng định những lời tuyên bố của mình vì chính Ngài cũng nghi ngờ về tính chất thiêng liêng của sứ mạng Ngài. Như vậy họ mở lòng cho sự vô tín, và hạt giống mà Sa-tan đã gieo đã sinh ra bông trái theo loại của nó, là sự hiểu lầm và sự bội đạo. DA 385.3
Bấy giờ, với vẻ nửa chế nhạo, một thầy thông giáo hỏi rằng, “Thế thì thầy làm phép lạ gì, để cho chúng tôi thấy và tin? Thầy làm công việc gì? Tổ phụ chúng ta đã ăn ma-na trong đồng vắng, theo như lời chép rằng: Ngài đã ban cho họ ăn bánh từ trên trời xuống.” DA 385.4
Người Do Thái tôn kính Môi-se là người ban ma-na, dâng lời ca ngợi cho công cụ, mà quên mất Đấng đã hoàn thành công việc ấy. Tổ phụ họ đã lằm bằm cùng Môi-se, đã nghi ngờ và chối bỏ sứ mạng thiêng liêng của ông. Nay con cháu cũng với tinh thần ấy chối bỏ Đấng mang sứ điệp của Đức Chúa Trời đến cho chính họ. “Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, Môi-se chưa hề cho các ngươi bánh từ trên trời.” Đấng ban ma-na đang đứng giữa họ. Chính Đấng Christ là Đấng đã dẫn dân Hê-bơ-rơ qua đồng vắng, và đã ngày ngày nuôi họ bằng bánh từ trên trời. Thức ăn ấy là hình bóng của bánh thật từ trên trời. Đức Thánh Linh ban sự sống, tuôn chảy từ sự đầy dẫy vô hạn của Đức Chúa Trời, là ma-na thật. Đức Chúa Giê-su phán, “Bánh của Đức Chúa Trời là bánh từ trên trời xuống, ban sự sống cho thế gian.” Giăng 6:33. DA 385.5
Vẫn nghĩ rằng Đức Chúa Giê-su đang nói đến thức ăn tạm thời, một vài người nghe Ngài kêu lên, “Lạy Chúa, xin ban bánh đó cho chúng tôi luôn luôn!” Bấy giờ Đức Chúa Giê-su phán rõ ràng: “Ta là bánh của sự sống.” DA 386.1
Hình ảnh mà Đấng Christ dùng là một hình ảnh quen thuộc với người Do Thái. Môi-se, bởi sự cảm thúc của Đức Thánh Linh, đã nói, “Loài người sống chẳng phải nhờ bánh mà thôi, nhưng loài người sống nhờ mọi lời bởi miệng Đức Giê-hô-va mà ra.” Và tiên tri Giê-rê-mi đã viết, “Tôi vừa nghe những lời Ngài, thì đã ăn lấy rồi; lời Ngài là sự vui mừng hớn hở của lòng tôi.” Phục truyền 8:3; Giê-rê-mi 15:16. Chính các thầy thông giáo có câu nói rằng việc ăn bánh, theo ý nghĩa thuộc linh, là sự nghiên cứu luật pháp và thực hành những việc lành; và người ta thường nói rằng khi Đấng Mê-si đến thì cả Y-sơ-ra-ên sẽ được nuôi dưỡng. Sự giảng dạy của các tiên tri đã làm sáng tỏ bài học thuộc linh sâu sắc trong phép lạ bánh. Đây là bài học mà Đấng Christ đang tìm cách mở ra cho những người nghe Ngài trong nhà hội. Giá như họ hiểu Kinh Thánh, họ đã hiểu được lời Ngài khi Ngài phán, “Ta là bánh của sự sống.” Chỉ ngày hôm trước, đoàn dân đông, khi mệt lả và kiệt sức, đã được nuôi bằng bánh mà Ngài đã ban. Như từ bánh ấy họ đã nhận được sức lực và sự bồi bổ thể chất, thì cũng vậy từ Đấng Christ họ có thể nhận được sức mạnh thuộc linh dẫn đến sự sống đời đời. Ngài phán, “Ai đến cùng ta chẳng hề đói, và ai tin ta chẳng hề khát.” Nhưng Ngài thêm rằng, “Các ngươi đã thấy ta, mà chẳng tin.” DA 386.2
Họ đã thấy Đấng Christ bởi sự chứng nghiệm của Đức Thánh Linh, bởi sự mặc khải của Đức Chúa Trời cho linh hồn họ. Những bằng chứng sống động về quyền năng của Ngài đã ở trước mặt họ ngày này qua ngày khác, vậy mà họ vẫn xin một dấu lạ khác nữa. Giá như dấu lạ ấy được ban cho, họ vẫn cứ vô tín như trước. Nếu họ không bị thuyết phục bởi những điều họ đã thấy và đã nghe, thì việc cho họ xem thêm những công việc kỳ diệu hơn nữa cũng vô ích. Sự vô tín sẽ luôn tìm cớ để nghi ngờ, và sẽ lý luận để gạt bỏ bằng chứng chắc chắn nhất. DA 386.3
Một lần nữa Đấng Christ kêu gọi những tấm lòng cứng cỏi ấy. “Kẻ đến cùng ta thì ta không bỏ ra ngoài đâu.” Ngài phán rằng tất cả những ai tiếp nhận Ngài bằng đức tin sẽ được sự sống đời đời. Không một ai bị hư mất. Người Pha-ri-si và người Sa-đu-sê chẳng cần phải tranh luận về sự sống tương lai. Loài người chẳng cần phải than khóc trong nỗi đau tuyệt vọng vì những người đã chết của mình nữa.
“Đây là ý muốn của Cha ta, phàm ai nhìn Con và tin Con, thì được sự sống đời đời; còn ta, ta sẽ làm cho kẻ ấy sống lại nơi ngày sau rốt.” (Giăng 6:40)
DA 386.4
Nhưng các lãnh đạo của dân chúng lấy làm tức giận, “và nói rằng: Ấy chẳng phải là Jêsus, con của Giô-sép, mà chúng ta đều biết cha mẹ người chăng? Vậy, làm sao nói rằng: Ta đã từ trên trời mà xuống?” Họ tìm cách khơi dậy thành kiến bằng cách khinh bỉ nhắc đến nguồn gốc hèn mọn của Đức Chúa Giê-su. Họ khinh khi nói đến đời sống của Ngài như một người lao động xứ Ga-li-lê, và đến gia đình Ngài như là nghèo nàn và thấp kém. Họ nói rằng những lời tuyên bố của người thợ mộc thiếu học này không đáng để họ chú ý. Và vì sự ra đời huyền bí của Ngài, họ ám chỉ rằng dòng dõi của Ngài đáng ngờ, do đó coi những hoàn cảnh nhân loại của sự ra đời của Ngài như một vết nhơ trong tiểu sử của Ngài. DA 387.1
Đức Chúa Giê-su không cố gắng giải thích sự huyền nhiệm của sự ra đời của Ngài. Ngài không đáp lại những câu hỏi về việc Ngài đã từ trên trời mà xuống, cũng như Ngài đã không đáp lại những câu hỏi về việc Ngài vượt biển. Ngài không kêu gọi sự chú ý đến những phép lạ đánh dấu đời sống Ngài. Ngài đã tự nguyện tự bỏ địa vị mình, mang lấy hình tôi tớ. Nhưng lời nói và việc làm của Ngài bày tỏ bản tánh Ngài. Tất cả những ai có tấm lòng rộng mở để đón nhận ánh sáng thiên thượng sẽ nhận ra nơi Ngài “Con một đến từ nơi Cha, đầy ơn và lẽ thật.” Giăng 1:14. DA 387.2
Thành kiến của người Pha-ri-si nằm sâu hơn những câu hỏi của họ cho thấy; nó bắt nguồn từ sự bại hoại trong lòng họ. Mỗi lời nói và hành động của Đức Chúa Giê-su đều khơi dậy sự thù nghịch trong họ; vì tinh thần mà họ ấp ủ không thể tìm thấy nơi Ngài một sự đồng điệu nào. DA 387.3
“Ví bằng Cha, là Đấng sai ta, không kéo đến, thì chẳng có ai được đến cùng ta, và ta sẽ làm cho người đó sống lại nơi ngày sau rốt. Các sách tiên tri có chép rằng: Ai nấy đều sẽ được Đức Chúa Trời dạy dỗ. Hễ ai đã nghe Cha và học theo Cha, thì đến cùng ta.” Chẳng bao giờ có ai đến cùng Đấng Christ, ngoại trừ những kẻ đáp lại sự lôi kéo của tình yêu thương của Đức Chúa Cha. Nhưng Đức Chúa Trời đang kéo mọi tấm lòng đến cùng Ngài, và chỉ những kẻ chống lại sự lôi kéo của Ngài mới từ chối đến cùng Đấng Christ. DA 387.4
Trong những lời, “Ai nấy đều sẽ được Đức Chúa Trời dạy dỗ,” Đức Chúa Giê-su nhắc đến lời tiên tri của Ê-sai: “Hết thảy con cái ngươi sẽ được Đức Giê-hô-va dạy dỗ, và sự bình an của con cái ngươi sẽ lớn.” Ê-sai 54:13. Người Do Thái áp dụng câu Kinh Thánh này cho chính họ. Họ tự hào rằng Đức Chúa Trời là thầy của họ. Nhưng Đức Chúa Giê-su chỉ ra lời tuyên bố này hư không thể nào; vì Ngài phán, “Hễ ai đã nghe Cha và học theo Cha, thì đến cùng ta.” Chỉ qua Đấng Christ họ mới có thể nhận được sự hiểu biết về Đức Chúa Cha. Loài người không thể chịu nổi sự hiện thấy vinh quang của Ngài. Những ai đã học nơi Đức Chúa Trời thì đã lắng nghe tiếng của Con Ngài, và trong Đức Chúa Giê-su người Na-xa-rét, họ sẽ nhận ra Đấng mà qua thiên nhiên và sự mặc khải đã bày tỏ Đức Chúa Cha. DA 387.5
“Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ ai tin thì được sự sống đời đời.” Qua Giăng yêu dấu, người đã lắng nghe những lời này, Đức Thánh Linh phán cùng các Hội Thánh, “Chứng ấy tức là Đức Chúa Trời đã ban sự sống đời đời cho chúng ta, và sự sống ấy ở trong Con Ngài. Ai có Đức Chúa Con thì có sự sống.” 1 Giăng 5:11, 12. Và Đức Chúa Giê-su phán, “Ta sẽ làm cho người đó sống lại nơi ngày sau rốt.” Đấng Christ đã trở nên đồng một thân thể với chúng ta, để chúng ta có thể trở nên đồng một thần linh với Ngài. Chính nhờ sự kết hiệp này mà chúng ta sẽ ra khỏi mồ mả — không chỉ là sự bày tỏ quyền năng của Đấng Christ, mà vì qua đức tin, sự sống của Ngài đã trở nên sự sống của chúng ta. Những ai thấy Đấng Christ trong bản tánh thật của Ngài, và tiếp nhận Ngài vào lòng, thì có sự sống đời đời. Chính qua Đức Thánh Linh mà Đấng Christ ngự trong chúng ta; và Thần Linh của Đức Chúa Trời, được tiếp nhận vào lòng bởi đức tin, là sự khởi đầu của sự sống đời đời. DA 388.1
Dân chúng đã nhắc Đấng Christ về ma-na mà tổ phụ họ đã ăn trong đồng vắng, như thể việc ban thức ăn ấy là một phép lạ lớn hơn những gì Đức Chúa Giê-su đã làm; nhưng Ngài chỉ cho thấy món quà ấy nhỏ bé biết bao khi so sánh với những ơn phước mà Ngài đã đến để ban cho. Ma-na chỉ có thể duy trì sự sống trần thế này; nó không ngăn được sự đến gần của cái chết, cũng chẳng bảo đảm sự bất tử; nhưng bánh từ trời sẽ nuôi dưỡng linh hồn đến sự sống đời đời. Đấng Cứu Thế phán, “Ta là bánh của sự sống. Tổ phụ các ngươi đã ăn ma-na trong đồng vắng, rồi cũng chết. Đây là bánh từ trời xuống, hầu cho ai ăn chẳng hề chết. Ta là bánh hằng sống từ trên trời xuống; nếu ai ăn bánh ấy, thì sẽ sống vô cùng.” Đến hình ảnh này, Đấng Christ giờ đây thêm một hình ảnh khác. Chỉ qua sự chết Ngài mới có thể ban sự sống cho loài người, và trong những lời tiếp theo Ngài chỉ về sự chết của Ngài như là phương tiện cứu rỗi. Ngài phán, “Bánh mà ta sẽ ban cho vì sự sống của thế gian tức là thịt ta.” DA 388.2
Người Do Thái sắp cử hành lễ Vượt Qua tại Giê-ru-sa-lem, để kỷ niệm đêm dân Y-sơ-ra-ên được giải cứu, khi thiên sứ hủy diệt đánh các nhà của Ê-díp-tô. Trong con chiên của lễ Vượt Qua, Đức Chúa Trời muốn họ nhìn thấy Chiên Con của Đức Chúa Trời, và qua biểu tượng ấy tiếp nhận Đấng đã ban chính mình vì sự sống của thế gian. Nhưng người Do Thái đã coi biểu tượng là điều tối quan trọng, trong khi ý nghĩa của nó thì không được lưu tâm. Họ không nhận ra thân thể của Chúa. Chính lẽ thật được tượng trưng trong nghi lễ Vượt Qua đã được dạy dỗ trong những lời của Đấng Christ. Nhưng nó vẫn không được nhận biết. DA 388.3
Bấy giờ các thầy thông giáo giận dữ kêu lên, “Người này lấy thịt mình cho chúng ta ăn sao được?” Họ giả vờ hiểu những lời Ngài theo nghĩa đen như Ni-cô-đem khi ông hỏi, “Người đã già thì sanh lại làm sao được?” Giăng 3:4. Ở một mức độ nào đó, họ hiểu được ý nghĩa của Đức Chúa Giê-su, nhưng họ không sẵn lòng thừa nhận điều đó. Bằng cách xuyên tạc những lời Ngài, họ hy vọng làm cho dân chúng có thành kiến nghịch lại Ngài. DA 389.1
Đấng Christ không giảm nhẹ sự trình bày tượng trưng của Ngài. Ngài lặp lại lẽ thật bằng những lời mạnh mẽ hơn nữa: “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu các ngươi không ăn thịt của Con người, cùng không uống huyết Ngài, thì chẳng có sự sống trong các ngươi đâu. Ai ăn thịt và uống huyết ta thì được sự sống đời đời; nơi ngày sau rốt, ta sẽ khiến người đó sống lại. Vì thịt ta thật là đồ ăn, huyết ta thật là đồ uống. Người nào ăn thịt ta và uống huyết ta, thì ở trong ta, và ta ở trong người.” DA 389.2
Ăn thịt và uống huyết của Đấng Christ tức là tiếp nhận Ngài như Đấng Cứu Thế của cá nhân mình, tin rằng Ngài tha thứ tội lỗi chúng ta, và rằng chúng ta được trọn vẹn trong Ngài. Chính bằng cách chiêm ngưỡng tình yêu thương của Ngài, suy gẫm về tình yêu ấy, uống lấy nó, mà chúng ta trở nên những người dự phần vào bản tánh Ngài. Đấng Christ phải là gì cho linh hồn, thì thức ăn là như vậy cho thân thể. Thức ăn không thể ích lợi cho chúng ta trừ khi chúng ta ăn nó, trừ khi nó trở thành một phần của con người chúng ta. Cũng vậy, Đấng Christ chẳng có giá trị gì cho chúng ta nếu chúng ta không biết Ngài như Đấng Cứu Thế của cá nhân mình. Sự hiểu biết trên lý thuyết sẽ chẳng ích gì cho chúng ta. Chúng ta phải ăn nuốt Ngài, tiếp nhận Ngài vào lòng, để sự sống của Ngài trở nên sự sống của chúng ta. Tình yêu thương Ngài, ân điển Ngài, phải được đồng hóa vào chúng ta. DA 389.3
Nhưng ngay cả những hình ảnh này cũng không trình bày đầy đủ đặc ân của mối liên hệ của người tin với Đấng Christ. Đức Chúa Giê-su phán, “Như Cha, là Đấng hằng sống, đã sai ta đến, và ta sống bởi Cha; cũng một thể ấy, người nào ăn ta, sẽ sống bởi ta vậy.” Như Con Đức Chúa Trời sống bởi đức tin nơi Đức Chúa Cha, thì chúng ta cũng phải sống bởi đức tin nơi Đấng Christ. Đức Chúa Giê-su đã hoàn toàn đầu phục ý muốn của Đức Chúa Trời đến nỗi chỉ một mình Đức Chúa Cha được bày tỏ trong đời sống Ngài. Mặc dầu bị cám dỗ đủ mọi cách như chúng ta, Ngài vẫn đứng trước thế gian không hề bị ô uế bởi điều ác bao quanh Ngài. Như vậy chúng ta cũng phải thắng như Đấng Christ đã thắng. DA 389.4
Bạn có phải là người theo Đấng Christ không? Nếu vậy, thì tất cả những gì được viết liên quan đến đời sống thuộc linh là viết cho bạn, và có thể đạt được nhờ liên kết chính mình với Đức Chúa Giê-su. Lòng sốt sắng của bạn có đang suy yếu không? Tình yêu thương ban đầu của bạn có đã trở nên nguội lạnh không? Hãy nhận lại tình yêu thương mà Đấng Christ ban cho. Hãy ăn thịt Ngài, uống huyết Ngài, và bạn sẽ trở nên một với Đức Chúa Cha và với Con. DA 389.5
Những người Do Thái vô tín đã từ chối nhìn thấy bất cứ ý nghĩa nào ngoài nghĩa đen nhất trong lời của Đấng Cứu Thế. Theo luật về nghi lễ, họ bị cấm nếm huyết, và bây giờ họ giải nghĩa lời của Đấng Christ thành một lời báng bổ, và tranh luận về điều đó với nhau. Ngay cả nhiều môn đồ cũng nói rằng, “Lời nầy thật khó; ai nghe được?” DA 390.1
Đấng Cứu Thế đáp cùng họ rằng: “Điều đó xui cho các ngươi vấp phạm sao? Vậy, nếu các ngươi thấy Con Người lên nơi Ngài vốn ở khi trước thì thể nào? Ấy là thần linh làm cho sống, xác thịt chẳng ích chi. Những lời ta phán cùng các ngươi đều là thần linh và sự sống.” DA 390.2
Sự sống của Đấng Christ ban sự sống cho thế gian là ở trong lời của Ngài. Chính bởi lời Ngài mà Đức Chúa Giê-su đã chữa lành bệnh tật và đuổi quỷ; bởi lời Ngài, Ngài đã làm yên lặng biển cả, và khiến kẻ chết sống lại; và dân chúng đã làm chứng rằng lời Ngài có quyền phép. Ngài phán Lời Đức Chúa Trời, như Ngài đã phán qua hết thảy các tiên tri và các giáo sư của thời Cựu Ước. Toàn bộ Kinh Thánh là sự biểu lộ của Đấng Christ, và Đấng Cứu Thế ao ước đặt đức tin của những kẻ theo Ngài nơi Lời. Khi sự hiện diện hữu hình của Ngài được rút lui, Lời phải là nguồn quyền năng của họ. Giống như Thầy mình, họ phải sống “nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời.”
“Đức Chúa Giê-su đáp: Có lời chép rằng: Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời.” (Ma-thi-ơ 4:4)
DA 390.3
Như sự sống thuộc thể của chúng ta được duy trì bởi thực phẩm, thì đời sống thuộc linh của chúng ta cũng được duy trì bởi Lời Đức Chúa Trời. Và mỗi linh hồn phải tự mình nhận lấy sự sống từ Lời Đức Chúa Trời. Như chúng ta phải tự mình ăn để nhận được dưỡng chất, thì chúng ta cũng phải tự mình nhận lấy Lời. Chúng ta không nên chỉ tiếp nhận Lời qua trung gian tâm trí của người khác. Chúng ta nên cẩn thận nghiên cứu Kinh Thánh, cầu xin Đức Chúa Trời ban sự trợ giúp của Đức Thánh Linh, để chúng ta có thể hiểu được Lời Ngài. Chúng ta nên lấy một câu, và tập trung tâm trí vào nhiệm vụ tìm ra tư tưởng mà Đức Chúa Trời đã đặt trong câu ấy cho chúng ta. Chúng ta nên suy ngẫm về tư tưởng đó cho đến khi nó trở nên của chính mình, và chúng ta biết “Chúa phán điều gì.” DA 390.4
Trong những lời hứa và những lời cảnh báo của Ngài, Đức Chúa Giê-su muốn nói đến tôi. Đức Chúa Trời yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho tôi nhờ tin nơi Ngài mà không bị hư mất, nhưng được sự sống đời đời. Những kinh nghiệm được kể lại trong Lời Đức Chúa Trời phải là những kinh nghiệm của tôi. Lời cầu nguyện và lời hứa, lời răn dạy và lời cảnh báo, đều là của tôi. “Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi.”
“Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Cơ-đốc, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Cơ-đốc sống trong tôi; nay tôi còn sống trong xác thịt, ấy là tôi sống trong đức tin của Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi.” (Ga-la-ti 2:20)
Khi đức tin tiếp nhận và đồng hóa các nguyên tắc của lẽ thật như vậy, thì chúng trở thành một phần của con người và là động lực thúc đẩy của đời sống. Lời Đức Chúa Trời, được tiếp nhận vào linh hồn, nắn đúc các tư tưởng, và đi vào sự phát triển của tánh nết. DA 390.5
Bởi luôn luôn ngó xem Đức Chúa Giê-su bằng con mắt đức tin, chúng ta sẽ được thêm sức. Đức Chúa Trời sẽ ban những sự khải thị quý báu nhất cho dân sự đói khát của Ngài. Họ sẽ thấy rằng Đấng Christ là một Đấng Cứu Thế của riêng mình. Khi họ ăn nuốt Lời Ngài, họ thấy rằng Lời ấy là thần linh và sự sống. Lời tiêu diệt bản chất tự nhiên, thuộc về đất, và ban một sự sống mới trong Đức Chúa Giê-su. Đức Thánh Linh đến với linh hồn như một Đấng An Ủi. Bởi tác nhân biến đổi của ân điển Ngài, hình ảnh của Đức Chúa Trời được tái tạo trong người môn đồ; người trở nên một tạo vật mới. Tình yêu thương thay thế cho lòng thù ghét, và tấm lòng nhận lấy sự giống như Đức Chúa Trời. Đây là ý nghĩa của sự sống “nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời.” Đây là sự ăn Bánh từ trời xuống. DA 391.1
Đấng Christ đã phán một lẽ thật thiêng liêng, đời đời về mối tương quan giữa chính Ngài và những kẻ theo Ngài. Ngài biết tánh nết của những kẻ tự xưng là môn đồ Ngài, và lời Ngài đã thử nghiệm đức tin của họ. Ngài tuyên bố rằng họ phải tin và hành động theo sự dạy dỗ của Ngài. Hết thảy những ai tiếp nhận Ngài sẽ thông phần bản tánh Ngài, và được rập theo tánh nết Ngài. Điều này bao gồm sự từ bỏ những tham vọng mà họ ấp ủ. Nó đòi hỏi sự đầu phục trọn vẹn chính mình cho Đức Chúa Giê-su. Họ được kêu gọi trở nên người biết hy sinh, có lòng nhu mì và khiêm nhường. Họ phải bước đi trong con đường hẹp mà Người ở Gô-gô-tha đã đi qua, nếu họ muốn dự phần trong sự ban cho sự sống và sự vinh hiển của thiên đàng. DA 391.2
Sự thử nghiệm quá lớn. Lòng nhiệt thành của những kẻ đã tìm cách bắt ép Ngài và tôn Ngài làm vua đã trở nên nguội lạnh. Họ tuyên bố rằng bài giảng này trong nhà hội đã mở mắt họ. Bây giờ họ không còn bị lừa nữa. Trong tâm trí họ, lời Ngài là một sự thú nhận thẳng thừng rằng Ngài không phải là Đấng Mê-si, và rằng không có phần thưởng trần thế nào sẽ được nhận từ sự liên kết với Ngài. Họ đã hoan nghênh quyền năng làm phép lạ của Ngài; họ ao ước được giải thoát khỏi bệnh tật và đau khổ; nhưng họ sẽ không đồng cảm với đời sống biết hy sinh của Ngài. Họ chẳng quan tâm đến nước thuộc linh huyền nhiệm mà Ngài đã nói đến. Những kẻ không chân thành, ích kỷ, đã tìm kiếm Ngài, không còn ao ước Ngài nữa. Nếu Ngài không dùng quyền năng và ảnh hưởng của Ngài để giải thoát họ khỏi người La-mã, thì họ sẽ chẳng có gì liên hệ với Ngài. DA 391.3
Đức Chúa Giê-su nói thẳng với họ rằng, “Nhưng ở giữa các ngươi có kẻ không tin;” và thêm rằng, “Vậy nên ta đã nói cùng các ngươi rằng nếu Cha chẳng ban cho, thì chẳng ai tới cùng ta được.” Ngài muốn họ hiểu rằng nếu họ không được kéo đến với Ngài, ấy là bởi lòng họ không mở ra cho Đức Thánh Linh. “Vả, người có tánh xác thịt không nhận được những sự thuộc về Thánh Linh của Đức Chúa Trời; bởi chưng người đó coi sự ấy như là sự rồ dại, và không có thể hiểu được, vì phải xem xét cách thiêng liêng.”
“Vả, người có tánh xác thịt không nhận được những sự thuộc về Thánh Linh của Đức Chúa Trời; bởi chưng người đó coi sự ấy như là sự rồ dại, và không có thể hiểu được, vì phải xem xét cách thiêng liêng.” (I Cô-rinh-tô 2:14)
Chính bởi đức tin mà linh hồn nhìn thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Giê-su. Sự vinh hiển này bị ẩn giấu, cho đến khi, qua Đức Thánh Linh, đức tin được nhen lên trong linh hồn. DA 391.4
Bởi sự quở trách công khai về lòng vô tín của họ, những môn đồ này càng bị xa lánh khỏi Đức Chúa Giê-su hơn nữa. Họ rất bất bình, và muốn làm tổn thương Đấng Cứu Thế và làm thỏa lòng độc ác của người Pha-ri-si, họ quay lưng lại với Ngài, và lìa bỏ Ngài với sự khinh bỉ. Họ đã chọn lựa của mình—đã lấy hình thức mà không có tinh thần, lấy vỏ mà không có hạt. Quyết định của họ chẳng bao giờ được đảo ngược về sau; vì họ không còn đi với Đức Chúa Giê-su nữa. DA 392.1
“Tay Ngài cầm nia mà dê thật sạch sân lúa mình, và Ngài sẽ chứa lúa vào kho.”
“Tay Ngài cầm nia mà dê thật sạch sân lúa mình, và Ngài sẽ chứa lúa vào kho, còn rơm rạ thì đốt trong lửa chẳng hề tắt.” (Ma-thi-ơ 3:12)
Đây là một trong những lúc thanh lọc. Bởi những lời lẽ thật, rơm rạ được tách khỏi lúa mì. Vì họ quá kiêu căng và tự cho mình là công bình đến nỗi không tiếp nhận sự quở trách, quá yêu thế gian đến nỗi không chấp nhận một đời sống khiêm nhường, nhiều người đã quay lưng khỏi Đức Chúa Giê-su. Nhiều người ngày nay vẫn đang làm điều tương tự. Các linh hồn ngày nay bị thử nghiệm như những môn đồ ấy trong nhà hội tại Ca-bê-na-um. Khi lẽ thật được đưa vào tận lòng, họ thấy rằng đời sống mình không phù hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời. Họ thấy cần phải có một sự thay đổi hoàn toàn trong chính mình; nhưng họ không sẵn lòng nhận lấy công việc tự chối mình. Vì vậy họ nổi giận khi tội lỗi mình bị phơi bày. Họ bỏ đi mà bị xúc phạm, ngay như các môn đồ đã lìa bỏ Đức Chúa Giê-su, lằm bằm rằng, “Lời nầy thật khó; ai nghe được?” DA 392.2
Lời ngợi khen và lời tâng bốc thì đẹp lòng tai họ; nhưng lẽ thật thì không được chào đón; họ không thể nghe lẽ thật. Khi đám đông đi theo, và đoàn dân được cho ăn, và tiếng reo mừng đắc thắng được nghe thấy, thì tiếng họ lớn lên trong sự ngợi khen; nhưng khi sự dò xét của Thánh Linh Đức Chúa Trời bày tỏ tội lỗi họ, và truyền họ lìa bỏ tội ấy, thì họ quay lưng lại với lẽ thật, và không còn đi với Đức Chúa Giê-su nữa. DA 392.3
Khi những môn đồ bất mãn ấy quay lưng khỏi Đấng Christ, một tinh thần khác đã chiếm lấy họ. Họ không còn thấy điều gì hấp dẫn nơi Đấng mà họ từng thấy thật thú vị. Họ tìm đến những kẻ thù của Ngài, vì những kẻ ấy hòa hợp với tinh thần và công việc của họ. Họ giải nghĩa sai lời Ngài, xuyên tạc những lời tuyên bố của Ngài, và công kích những động cơ của Ngài. Họ duy trì đường lối của mình bằng cách thu nhặt mọi điều có thể dùng để chống lại Ngài; và sự phẫn nộ được khuấy động lên bởi những lời báo cáo giả dối này đến nỗi mạng sống Ngài bị nguy hiểm. DA 392.4
Tin tức nhanh chóng lan truyền rằng bởi chính lời thú nhận của Ngài, Đức Chúa Giê-su người Na-xa-rét không phải là Đấng Mê-si. Và như vậy, tại xứ Ga-li-lê, làn sóng tình cảm của dân chúng đã quay lại chống đối Ngài, giống như năm trước đó đã xảy ra tại xứ Giu-đê. Than ôi cho Y-sơ-ra-ên! Họ đã khước từ Đấng Cứu Thế của mình, vì họ khao khát một đấng chinh phục sẽ ban cho họ quyền lực trần thế. Họ muốn thứ đồ ăn hay hư nát, chứ không phải thứ đồ ăn còn lại đến sự sống đời đời. DA 393.1
Với tấm lòng thiết tha, Đức Chúa Giê-su nhìn thấy những kẻ từng là môn đồ của Ngài lìa bỏ Ngài, là Sự Sống và Ánh Sáng của loài người. Ý thức rằng lòng trắc ẩn của Ngài không được trân trọng, tình yêu thương của Ngài không được đáp đền, lòng thương xót của Ngài bị xem nhẹ, sự cứu rỗi của Ngài bị khước từ, đã khiến Ngài tràn đầy nỗi buồn không sao tả xiết. Chính những điều như thế đã khiến Ngài trở nên người từng trải sự buồn rầu và quen thuộc với sự đau khổ. DA 393.2
Không hề tìm cách ngăn cản những kẻ đang lìa bỏ Ngài, Đức Chúa Giê-su quay sang mười hai môn đồ và phán: “Còn các ngươi, cũng muốn lui chăng?” DA 393.3
Phi-e-rơ đáp lại bằng câu hỏi: “Lạy Chúa, chúng tôi đi theo ai?” Ông nói thêm: “Chúa có những lời của sự sống đời đời.” “Chúng tôi đã tin và nhận biết rằng Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống.” DA 393.4
“Chúng tôi đi theo ai?” Các giáo sư của Y-sơ-ra-ên đều là nô lệ của thuyết hình thức. Người Pha-ri-si và người Sa-đu-sê thì luôn tranh cãi không ngừng. Lìa bỏ Đức Chúa Giê-su có nghĩa là rơi vào giữa những kẻ cố chấp về nghi lễ và lễ nghi, cùng những con người đầy tham vọng chỉ tìm kiếm vinh quang cho riêng mình. Kể từ khi tiếp nhận Đấng Christ, các môn đồ đã tìm được nhiều sự bình an và niềm vui hơn cả trong suốt cuộc đời trước đó của họ. Làm sao họ có thể trở lại với những kẻ đã khinh miệt và bắt bớ Người Bạn của kẻ có tội? Họ đã trông đợi Đấng Mê-si từ lâu; giờ đây Ngài đã đến, và họ không thể rời khỏi sự hiện diện của Ngài để quay về với những kẻ đang săn lùng mạng sống Ngài và đã bắt bớ họ vì họ trở thành những người theo Ngài. DA 393.5
“Chúng tôi đi theo ai?” Không phải lìa bỏ lời dạy của Đấng Christ, những bài học về tình yêu thương và lòng thương xót của Ngài, để quay về với sự tối tăm của lòng vô tín, sự gian ác của thế gian. Trong khi Đấng Cứu Thế bị nhiều kẻ từng chứng kiến các việc lạ lùng của Ngài lìa bỏ, thì Phi-e-rơ đã bày tỏ đức tin của các môn đồ — “Chúa là Đấng Christ.” Chỉ riêng ý nghĩ mất đi cái neo của linh hồn này đã khiến họ tràn đầy sợ hãi và đau đớn. Sống thiếu vắng một Đấng Cứu Thế chẳng khác nào trôi giạt trên một biển cả tối tăm và đầy bão tố. DA 393.6
Nhiều lời nói và việc làm của Đức Chúa Giê-su dường như là điều bí ẩn đối với trí óc hữu hạn, nhưng mỗi lời nói và việc làm đều có mục đích rõ ràng trong công cuộc cứu chuộc chúng ta; mỗi điều đều nhằm tạo ra kết quả riêng của nó. Nếu chúng ta có thể hiểu được các mục đích của Ngài, thì mọi sự sẽ hiện ra là quan trọng, trọn vẹn, và hòa hợp với sứ mạng của Ngài. DA 393.7
Dầu hiện nay chúng ta không thể hiểu thấu các công việc và đường lối của Đức Chúa Trời, chúng ta vẫn có thể nhận ra tình yêu thương lớn lao của Ngài, là nền tảng cho mọi cách Ngài đối xử với loài người. Ai sống gần gũi với Đức Chúa Giê-su sẽ hiểu được phần lớn sự mầu nhiệm của sự tin kính. Người ấy sẽ nhận ra lòng thương xót đem đến sự quở trách, thử nghiệm phẩm cách, và đưa ra ánh sáng mục đích của tấm lòng. DA 394.1
Khi Đức Chúa Giê-su trình bày lẽ thật thử nghiệm khiến cho rất nhiều môn đồ của Ngài quay lui, Ngài biết rõ kết quả của những lời Ngài; nhưng Ngài có một mục đích đầy thương xót cần phải hoàn thành. Ngài đã thấy trước rằng trong giờ thử thách, mỗi môn đồ yêu dấu của Ngài sẽ bị thử nghiệm cách nghiêm ngặt. Cơn thống khổ của Ngài tại vườn Ghết-sê-ma-nê, sự phản bội và sự đóng đinh Ngài, sẽ là một sự thử thách hết sức cam go đối với họ. Nếu không có sự thử nghiệm nào được ban cho trước đó, thì nhiều kẻ chỉ vì những động cơ ích kỷ hẳn đã gắn bó với họ. Khi Chúa của họ bị kết án trong phòng xử án; khi đám đông từng tung hô Ngài là vua của họ chế nhạo và mắng nhiếc Ngài; khi đám đông giễu cợt kêu lên: “Hãy đóng đinh hắn!” — khi những tham vọng trần thế của họ tan vỡ, thì những kẻ chỉ biết tìm tư lợi ấy, bằng cách từ bỏ lòng trung thành với Đức Chúa Giê-su, hẳn đã đem đến cho các môn đồ một nỗi buồn cay đắng, nặng trĩu lòng, thêm vào nỗi đau thương và thất vọng trước sự sụp đổ của những hy vọng tha thiết nhất của họ. Trong giờ phút tối tăm ấy, gương của những kẻ quay lưng lìa bỏ Ngài có thể đã lôi kéo những người khác đi theo họ. Nhưng Đức Chúa Giê-su đã làm cho cơn khủng hoảng này xảy đến trong khi bằng sự hiện diện cá nhân của Ngài, Ngài vẫn còn có thể củng cố đức tin của những người thật sự theo Ngài. DA 394.2
Ôi Đấng Cứu Chuộc đầy lòng trắc ẩn, là Đấng dầu biết rõ số phận đang chờ đợi mình, vẫn dịu dàng dọn đường cho các môn đồ, chuẩn bị cho họ trước sự thử thách tột đỉnh, và làm cho họ mạnh mẽ để chịu đựng cuộc thử nghiệm cuối cùng! DA 394.3