Những Nhà Truyền Giáo Đầu Tiên

Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 10; Mác 6:7-11; Lu-ca 9:1-6. DA 349.1

Các sứ đồ là thành viên trong gia đình của Đức Chúa Giê-su, và họ đã đồng hành cùng Ngài khi Ngài đi bộ khắp xứ Ga-li-lê. Họ đã cùng chia sẻ với Ngài những nhọc nhằn và gian khổ mà họ gặp phải. Họ đã lắng nghe các bài giảng của Ngài, họ đã bước đi và trò chuyện với Con Đức Chúa Trời, và qua sự dạy dỗ hằng ngày của Ngài, họ đã học biết cách làm việc để nâng cao phẩm giá con người. Khi Đức Chúa Giê-su phục vụ đoàn dân đông đảo tụ họp quanh Ngài, các môn đồ Ngài luôn ở bên, hăng hái làm theo lời Ngài và san sẻ công việc của Ngài. Họ giúp sắp xếp dân chúng, đưa những kẻ đau yếu đến với Đấng Cứu Thế, và lo cho sự an ủi của mọi người. Họ để ý những người chăm chú lắng nghe, giải thích Kinh Thánh cho họ, và bằng nhiều cách khác nhau làm việc vì lợi ích thuộc linh của họ. Họ dạy lại những gì họ đã học được từ Đức Chúa Giê-su, và mỗi ngày họ thâu được một kinh nghiệm phong phú. Nhưng họ cũng cần có kinh nghiệm trong việc tự mình làm việc một mình. Họ vẫn còn cần nhiều sự chỉ dạy, lòng kiên nhẫn lớn lao và sự dịu dàng. Bây giờ, trong khi Ngài còn đích thân ở với họ, để chỉ ra những lỗi lầm của họ, khuyên bảo và sửa chữa họ, Đấng Cứu Thế sai họ ra đi với tư cách là đại diện của Ngài. DA 349.2

Khi còn ở với Ngài, các môn đồ thường bối rối trước sự dạy dỗ của các thầy tế lễ và người Pha-ri-si, nhưng họ đã đem những điều bối rối ấy đến với Đức Chúa Giê-su. Ngài đã trình bày cho họ những lẽ thật của Kinh Thánh trái ngược với truyền thống. Như vậy Ngài đã củng cố lòng tin cậy của họ nơi Lời Đức Chúa Trời, và phần lớn đã giải phóng họ khỏi nỗi sợ hãi các thầy ra-bi cùng ách nô lệ của truyền thống. Trong việc huấn luyện các môn đồ, tấm gương đời sống của Đấng Cứu Thế còn hiệu quả hơn nhiều so với bất kỳ sự dạy dỗ giáo lý đơn thuần nào. Khi họ tách rời khỏi Ngài, từng ánh mắt, giọng nói và lời nói của Ngài đều hiện về với họ. Thường khi đối đầu với những kẻ thù của tin lành, họ lặp lại những lời của Ngài, và khi thấy hiệu quả của những lời ấy trên dân chúng, họ vui mừng khôn xiết. DA 349.3

Gọi mười hai môn đồ đến quanh mình, Đức Chúa Giê-su truyền cho họ đi ra từng đôi một qua các thị trấn và làng mạc. Không một ai bị sai đi một mình, nhưng anh em đi cùng anh em, bạn hữu đi cùng bạn hữu. Như vậy họ có thể giúp đỡ và khích lệ lẫn nhau, cùng nhau khuyên bảo và cầu nguyện, sức mạnh của người này bổ khuyết cho sự yếu đuối của người kia. Cũng theo cách ấy mà về sau Ngài sai bảy mươi môn đồ ra đi. Đó là mục đích của Đấng Cứu Thế, để những sứ giả của tin lành được kết hợp với nhau theo cách này. Trong thời đại chúng ta, công việc truyền giảng sẽ thành công hơn nhiều nếu tấm gương này được noi theo sát hơn. DA 350.1

Sứ điệp của các môn đồ cũng giống như sứ điệp của Giăng Báp-tít và của chính Đấng Christ: “Nước thiên đàng đã đến gần.” Họ không được tranh luận với dân chúng về việc Đức Chúa Giê-su ở Na-xa-rét có phải là Đấng Mê-si hay không; nhưng trong danh Ngài, họ phải làm những việc thương xót như Ngài đã làm. Ngài truyền cho họ, “Hãy chữa lành kẻ đau, làm sạch kẻ phung, khiến kẻ chết sống lại, đuổi quỷ; các ngươi đã được lãnh không thì hãy cho không.” DA 350.2

Trong suốt chức vụ của mình, Đức Chúa Giê-su dành nhiều thời gian chữa lành kẻ đau hơn là giảng dạy. Các phép lạ của Ngài chứng thực cho lẽ thật trong lời Ngài, rằng Ngài đến không phải để hủy diệt mà để cứu vớt. Sự công bình của Ngài đi trước Ngài, và sự vinh hiển của Chúa làm hậu đội cho Ngài. Bất cứ nơi nào Ngài đến, tin tức về lòng thương xót của Ngài đã đi trước Ngài. Nơi Ngài đã đi qua, những đối tượng của lòng trắc ẩn của Ngài đang vui mừng trong sức khỏe, và thử nghiệm những sức lực mới tìm được của họ. Đám đông tụ tập quanh họ để nghe từ chính miệng họ những công việc mà Chúa đã làm. Tiếng Ngài là âm thanh đầu tiên mà nhiều người từng được nghe, danh Ngài là lời đầu tiên họ từng thốt ra, mặt Ngài là gương mặt đầu tiên họ từng nhìn thấy. Tại sao họ lại không yêu mến Đức Chúa Giê-su và ca ngợi Ngài? Khi Ngài đi qua các thị trấn và thành phố, Ngài giống như một dòng nước sống động, tỏa ra sự sống và niềm vui ở bất cứ nơi nào Ngài đến. DA 350.3

Những người theo Đấng Christ phải làm việc như Ngài đã làm. Chúng ta phải cho kẻ đói ăn, mặc cho kẻ trần truồng, và an ủi những người đau khổ và buồn rầu. Chúng ta phải phục vụ những người tuyệt vọng, và truyền cảm hứng hy vọng cho những kẻ vô vọng. Và đối với chúng ta nữa, lời hứa này sẽ được ứng nghiệm, “Sự công bình ngươi đi trước ngươi; sự vinh hiển của Chúa làm hậu đội cho ngươi.” Ê-sai 58:8. Tình yêu thương của Đấng Christ, được tỏ ra trong sự phục vụ vô vị kỷ, sẽ hiệu quả hơn trong việc cải hóa kẻ làm ác hơn là gươm đao hay tòa án công lý. Những điều ấy cần thiết để gieo sự khiếp sợ cho kẻ phạm pháp, nhưng nhà truyền giáo đầy yêu thương có thể làm được nhiều hơn thế. Tấm lòng thường chai cứng dưới sự quở trách; nhưng nó sẽ tan chảy dưới tình yêu thương của Đấng Christ. Nhà truyền giáo không chỉ có thể giảm bớt những căn bệnh thể xác, mà còn có thể dẫn dắt kẻ tội nhân đến với Đấng Thầy Thuốc Vĩ Đại, là Đấng có thể tẩy sạch linh hồn khỏi bệnh phung của tội lỗi. Qua các tôi tớ Ngài, Đức Chúa Trời định cho người đau yếu, người bất hạnh, những kẻ bị tà linh ám, được nghe tiếng Ngài. Qua các công cụ con người của Ngài, Ngài ao ước trở nên một Đấng An Ủi mà thế gian không hề biết đến. DA 350.4

Trong chuyến truyền giáo đầu tiên, các môn đồ chỉ được đến với “những con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên.” Nếu lúc ấy họ đã giảng tin lành cho dân ngoại hoặc người Sa-ma-ri, thì họ sẽ mất ảnh hưởng đối với người Do Thái. Bằng cách khơi dậy thành kiến của người Pha-ri-si, họ sẽ tự lôi mình vào cuộc tranh luận khiến họ nản lòng ngay từ khi mới bắt đầu công việc. Ngay cả các sứ đồ cũng chậm hiểu rằng tin lành phải được đem đến cho mọi dân tộc. Cho đến khi chính họ có thể nắm bắt được lẽ thật này, họ chưa sẵn sàng để làm việc cho dân ngoại. Nếu người Do Thái chịu tiếp nhận tin lành, Đức Chúa Trời định khiến họ trở thành sứ giả của Ngài cho dân ngoại. Vì vậy họ phải là những người đầu tiên nghe sứ điệp. DA 351.1

Khắp cánh đồng nơi Đấng Christ làm việc, có những linh hồn thức tỉnh về nhu cầu của mình, đói khát lẽ thật. Đã đến lúc gửi tin tức về tình yêu thương của Ngài đến những tấm lòng khao khát ấy. Các môn đồ phải đi đến với tất cả những người này với tư cách là đại diện của Ngài. Nhờ vậy, những người tin sẽ được dẫn dắt để xem họ như những giáo sư được Đức Chúa Trời chỉ định, và khi Đấng Cứu Thế bị cất khỏi họ, họ sẽ không bị bỏ lại mà không có người dạy dỗ. DA 351.2

Trong chuyến đi đầu tiên này, các môn đồ chỉ được đến những nơi mà Đức Chúa Giê-su đã từng đến trước họ và đã kết bạn. Sự chuẩn bị cho hành trình của họ phải hết sức đơn giản. Không điều gì được phép làm tâm trí họ xao lãng khỏi công việc lớn lao của họ, hoặc bằng bất cứ cách nào gây ra sự chống đối và đóng cửa cho công việc về sau. Họ không được mặc y phục của các giáo sư tôn giáo, cũng không dùng bất kỳ kiểu trang phục nào để phân biệt mình với những người nông dân khiêm hạ. Họ không được vào các nhà hội và triệu tập dân chúng cho buổi thờ phượng công cộng; nỗ lực của họ phải được thực hiện trong công việc đi từ nhà này sang nhà khác. Họ không được phí thời gian vào những lời chào hỏi không cần thiết, hoặc đi từ nhà này sang nhà khác để được tiếp đãi. Nhưng tại mỗi nơi, họ phải nhận sự hiếu khách của những người xứng đáng, những người sẽ chào đón họ nồng nhiệt như thể đang tiếp đãi chính Đấng Christ. Họ phải bước vào nhà với lời chào tốt đẹp, “Cầu sự bình an cho nhà này.” Lu-ca 10:5. Ngôi nhà ấy sẽ được ban phước bởi những lời cầu nguyện của họ, những bài ca ngợi khen của họ, và việc mở Kinh Thánh ra trong vòng gia đình. DA 351.3

Những môn đồ này phải là sứ giả của lẽ thật, để dọn đường cho sự đến của Thầy mình. Sứ điệp mà họ phải mang là lời của sự sống đời đời, và số phận của loài người tùy thuộc vào việc họ tiếp nhận hay chối bỏ lời ấy. Để khắc sâu vào lòng dân chúng tính nghiêm trọng của sứ điệp, Đức Chúa Giê-su truyền cho các môn đồ Ngài, “Nếu ai không tiếp rước các ngươi, cũng không nghe lời các ngươi, khi các ngươi ra khỏi nhà hay là thành đó, thì hãy phủi bụi nơi chân mình. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, đến ngày phán xét, đất của thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ sẽ chịu nổi hơn thành ấy.” DA 352.1

Giờ đây mắt Đấng Cứu Thế thấu suốt tương lai; Ngài nhìn thấy những cánh đồng rộng lớn hơn, nơi mà sau khi Ngài chết, các môn đồ sẽ làm chứng cho Ngài. Cái nhìn tiên tri của Ngài bao trùm kinh nghiệm của các tôi tớ Ngài qua mọi thời đại cho đến khi Ngài đến lần thứ hai. Ngài chỉ cho những kẻ theo Ngài thấy những cuộc xung đột mà họ phải đối diện; Ngài tỏ ra tính chất và kế hoạch của trận chiến. Ngài bày tỏ trước mắt họ những hiểm nguy mà họ phải đối đầu, sự từ bỏ chính mình sẽ được đòi hỏi. Ngài muốn họ tính toán cái giá phải trả, để họ không bị kẻ thù tấn công bất ngờ. Cuộc chiến của họ không phải chống lại thịt và huyết, nhưng “cùng các chủ quyền, cùng các thế lực, cùng những kẻ cai trị thế gian tối tăm nầy, cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy.” Ê-phê-sô 6:12. Họ phải chiến đấu với những lực lượng siêu nhiên, nhưng họ được bảo đảm có sự trợ giúp siêu nhiên. Tất cả các đấng thông minh trên trời đều ở trong đạo quân nầy. Và còn nhiều hơn cả các thiên sứ ở trong hàng ngũ. Đức Thánh Linh, đại diện cho Đấng Chỉ Huy đạo binh của Chúa, ngự xuống để điều khiển trận chiến. Sự yếu đuối của chúng ta có thể nhiều, tội lỗi và lầm lỗi của chúng ta có thể trầm trọng; nhưng ân điển của Đức Chúa Trời dành cho hết thảy những ai tìm kiếm với lòng ăn năn. Quyền năng của Đấng Toàn Năng được huy động vì lợi ích của những kẻ tin cậy nơi Đức Chúa Trời. DA 352.2

Đức Chúa Giê-su phán: “Nầy, ta sai các ngươi đi khác nào như chiên vào giữa bầy muông sói. Vậy, hãy khôn khéo như rắn, đơn sơ như chim bồ câu.” Chính Đấng Christ không hề giấu một lời chân lý nào, nhưng Ngài luôn luôn nói ra trong tình yêu thương. Ngài bày tỏ sự tế nhị lớn nhất, sự ân cần chu đáo và dịu dàng trong sự giao tiếp với dân chúng. Ngài không bao giờ thô lỗ, không bao giờ nói lời nghiêm khắc cách không cần thiết, không bao giờ gây ra nỗi đau không cần thiết cho một tâm hồn nhạy cảm. Ngài không quở trách sự yếu đuối của con người. Ngài can đảm tố cáo sự giả hình, sự vô tín, và điều gian ác, nhưng nước mắt đọng trong giọng nói của Ngài khi Ngài thốt ra những lời quở trách gay gắt. Ngài khóc thương Giê-ru-sa-lem, thành phố mà Ngài yêu mến, đã khước từ tiếp nhận Ngài là Đường Đi, Lẽ Thật, và Sự Sống. Họ chối bỏ Ngài, Đấng Cứu Thế, nhưng Ngài nhìn họ với lòng thương xót dịu dàng, và nỗi buồn sâu thẳm đến nỗi đã làm tan vỡ trái tim Ngài. Mỗi linh hồn đều quý báu trong mắt Ngài. Trong khi Ngài luôn cư xử với phẩm cách thiêng liêng, Ngài cúi mình với sự tôn trọng dịu dàng nhất đối với mỗi thành viên trong gia đình Đức Chúa Trời. Nơi mọi người, Ngài thấy những linh hồn sa ngã mà sứ mạng của Ngài là cứu rỗi họ. DA 353.1

Các tôi tớ của Đấng Christ không được hành động theo sự sai khiến của lòng tự nhiên. Họ cần phải có mối thông công mật thiết với Đức Chúa Trời, kẻo khi bị khiêu khích, cái tôi trỗi dậy, và họ tuôn ra một dòng thác những lời lẽ không thích hợp, không như sương móc hay những trận mưa nhẹ làm tươi mới những cây cối đang héo úa. Đây là điều Sa-tan muốn họ làm; vì đây là phương pháp của nó. Chính con rồng là kẻ giận dữ; chính thần linh của Sa-tan được tỏ ra trong cơn giận và sự tố cáo. Nhưng các tôi tớ của Đức Chúa Trời phải là những người đại diện cho Ngài. Ngài muốn họ chỉ giao dịch bằng đồng tiền của thiên đàng, là chân lý mang hình ảnh và danh hiệu của chính Ngài. Quyền năng mà nhờ đó họ chiến thắng điều ác là quyền năng của Đấng Christ. Sự vinh hiển của Đấng Christ là sức mạnh của họ. Họ phải dán mắt vào sự đáng yêu của Ngài. Bấy giờ họ có thể trình bày tin lành với sự tế nhị và dịu dàng thiêng liêng. Và tinh thần được giữ dịu dàng dưới sự khiêu khích sẽ nói lên cách hiệu quả hơn cho chân lý hơn bất cứ lý lẽ nào, dù mạnh mẽ đến đâu. DA 353.2

Những ai bị đưa vào cuộc tranh luận với những kẻ thù của chân lý phải đối diện không chỉ với người ta, mà còn với Sa-tan và những tay sai của nó. Hãy để họ nhớ lời của Đấng Cứu Thế: “Nầy, ta sai các ngươi đi khác nào như chiên con ở giữa bầy muông sói.” Lu-ca 10:3. Hãy để họ an nghỉ trong tình yêu thương của Đức Chúa Trời, thì tinh thần sẽ được giữ bình tĩnh, ngay cả khi bị lăng mạ cá nhân. Chúa sẽ mặc cho họ chiếc áo giáp thiêng liêng. Đức Thánh Linh của Ngài sẽ tác động trên tâm trí và tấm lòng, để giọng nói của họ không bắt chước tiếng tru của bầy muông sói. DA 353.3

Tiếp tục lời dạy dỗ cho các môn đồ, Đức Chúa Giê-su phán: “Hãy coi chừng người ta.” Họ không được đặt lòng tin tuyệt đối vào những kẻ không biết Đức Chúa Trời, và bày tỏ cho họ những kế hoạch của mình; vì điều nầy sẽ tạo cơ hội thuận lợi cho những tay sai của Sa-tan. Những sáng kiến của con người thường làm hỏng kế hoạch của Đức Chúa Trời. Những ai xây dựng đền thờ của Chúa phải xây theo kiểu mẫu được tỏ ra trên núi—hình ảnh thiêng liêng. Đức Chúa Trời bị làm nhục và tin lành bị phản bội khi các tôi tớ Ngài nương cậy vào lời khuyên của những kẻ không ở dưới sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh. Sự khôn ngoan thế gian là sự dại dột đối với Đức Chúa Trời. Những ai nương cậy vào nó chắc chắn sẽ sai lầm. DA 354.1

“Họ sẽ nộp các ngươi trước tòa án… lại vì cớ ta mà các ngươi sẽ bị giải đến trước mặt các quan tổng đốc và các vua, để làm chứng trước mặt họ và các dân ngoại.” Ma-thi-ơ 10:17, 18. Sự bắt bớ sẽ làm lan tỏa ánh sáng. Các tôi tớ của Đấng Christ sẽ bị đưa ra trước những người vĩ đại của thế gian, là những người mà nếu không vì điều nầy, có lẽ sẽ không bao giờ nghe được tin lành. Chân lý đã bị xuyên tạc trước mặt những người nầy. Họ đã nghe những lời cáo buộc giả dối liên quan đến đức tin của các môn đồ Đấng Christ. Thường thì phương tiện duy nhất để họ biết được bản chất thật của nó là lời chứng của những người bị đưa ra xét xử vì đức tin của mình. Trong cuộc thẩm vấn, những người nầy được đòi hỏi phải trả lời, và các quan xét của họ phải lắng nghe lời chứng được làm ra. Ân điển của Đức Chúa Trời sẽ được ban cho các tôi tớ Ngài để đối phó với tình huống khẩn cấp. Đức Chúa Giê-su phán: “Trong giờ đó, sẽ ban cho các ngươi điều các ngươi phải nói; vì chẳng phải các ngươi nói đâu, song là Thánh Linh của Cha các ngươi sẽ nói trong các ngươi.” Khi Thánh Linh của Đức Chúa Trời soi sáng tâm trí các tôi tớ Ngài, chân lý sẽ được trình bày trong quyền năng thiêng liêng và sự quý báu của nó. Những ai chối bỏ chân lý sẽ đứng lên tố cáo và áp bức các môn đồ. Nhưng dưới sự mất mát và đau khổ, ngay cả cho đến chết, con cái Chúa phải bày tỏ sự nhu mì của Tấm Gương thiêng liêng của họ. Như vậy sẽ thấy được sự tương phản giữa những tay sai của Sa-tan và những người đại diện cho Đấng Christ. Đấng Cứu Thế sẽ được tôn cao trước mặt các nhà cầm quyền và dân chúng. DA 354.2

Các môn đồ không được ban cho lòng can đảm và sự kiên cường của những người tử đạo cho đến khi cần đến ân điển ấy. Bấy giờ lời hứa của Đấng Cứu Thế được ứng nghiệm. Khi Phi-e-rơ và Giăng làm chứng trước hội đồng công luận, người ta “lấy làm lạ, vì biết hai người đã từng ở với Đức Chúa Giê-su.” Công vụ các Sứ đồ 4:13. Về Ê-tiên có chép rằng “phàm những người ngồi tại tòa công luận đều ngó chăm Ê-tiên, thấy mặt người như mặt thiên sứ vậy.” Người ta “không chống lại nổi với trí khôn người cùng với Đức Thánh Linh, là Đấng người nhờ mà nói.” Công vụ các Sứ đồ 6:15, 10. Và Phao-lô, khi viết về phiên tòa của chính mình tại triều đình của các Sê-sa, nói rằng: “Khi ta binh vực mình lần thứ nhất, chẳng có ai giúp đỡ; hết thảy đều lìa bỏ ta… Nhưng Chúa đã giúp đỡ ta và thêm sức cho ta, hầu cho Tin Lành bởi ta được rao truyền đầy dẫy, để hết thảy dân ngoại đều nghe; ta lại đã được cứu khỏi hàm sư tử.” 2 Ti-mô-thê 4:16, 17. DA 354.3

Các tôi tớ của Đấng Christ không cần chuẩn bị một bài diễn văn soạn sẵn để trình bày khi bị đưa ra xét xử. Sự chuẩn bị của họ phải được thực hiện hằng ngày bằng cách tích trữ những chân lý quý báu của Lời Đức Chúa Trời, và qua sự cầu nguyện củng cố đức tin của mình. Khi họ bị đưa ra xét xử, Đức Thánh Linh sẽ nhắc cho họ nhớ lại chính những chân lý cần thiết. DA 355.1

Sự nỗ lực hằng ngày, tha thiết để biết Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Giê-su mà Ngài đã sai đến, sẽ đem quyền năng và hiệu lực cho linh hồn. Sự hiểu biết có được nhờ siêng năng tra cứu Kinh Thánh sẽ lóe lên trong trí nhớ vào đúng lúc. Nhưng nếu ai đó đã sao nhãng việc làm quen với lời của Đấng Christ, nếu họ chưa bao giờ thử nghiệm quyền năng của ân điển Ngài trong cơn thử thách, họ không thể trông mong rằng Đức Thánh Linh sẽ nhắc cho họ nhớ lại lời của Ngài. Họ phải phục vụ Đức Chúa Trời hằng ngày với lòng yêu mến không chia sẻ, và rồi tin cậy nơi Ngài. DA 355.2

Lòng thù ghét tin lành sẽ cay đắng đến nỗi ngay cả những mối ràng buộc êm đềm nhất trên đời cũng bị xem nhẹ. Các môn đồ của Đấng Christ sẽ bị chính người trong gia đình mình phản bội đưa đến cái chết. Ngài phán thêm rằng:

“Các ngươi sẽ bị mọi người ghen ghét vì danh ta; song ai cứ bền lòng đến cuối cùng, người ấy sẽ được cứu.” (Mác 13:13)

Nhưng Ngài dặn họ chớ tự đưa mình vào sự bắt bớ một cách không cần thiết. Chính Ngài cũng thường rời bỏ một nơi làm việc này để đến một nơi khác, hầu tránh khỏi những kẻ tìm hại mạng sống Ngài. Khi bị khước từ tại Na-xa-rét, và những người đồng hương tìm cách giết Ngài, thì Ngài xuống thành Ca-bê-na-um, và tại đó dân chúng kinh ngạc về sự dạy dỗ của Ngài;

“Mọi người đều cảm động về sự dạy dỗ của Ngài; vì Ngài dùng quyền phép mà phán.” (Lu-ca 4:32)

Vậy nên các tôi tớ Ngài chớ ngã lòng bởi sự bắt bớ, nhưng phải tìm một nơi mà họ vẫn có thể làm việc cho sự cứu rỗi các linh hồn. DA 355.3

Đầy tớ chẳng hơn chủ mình. Đấng Vua trên trời còn bị gọi là Bê-ên-xê-bun, thì các môn đồ Ngài cũng sẽ bị xuyên tạc như vậy. Nhưng dù gặp nguy hiểm thế nào, những người theo Đấng Christ phải công khai bày tỏ các nguyên tắc của mình. Họ phải khinh thường sự che giấu. Họ không thể giữ thái độ trung lập cho đến khi được bảo đảm an toàn rồi mới xưng nhận lẽ thật. Họ được đặt làm người canh giữ, để cảnh báo loài người về sự nguy hiểm của họ. Lẽ thật nhận được từ Đấng Christ phải được truyền ra cho mọi người, cách tự do và công khai. Đức Chúa Giê-su phán: “Cũng vậy, điều ta nói cùng các ngươi trong nơi tối tăm, hãy nói ra nơi sáng láng; và điều các ngươi nghe kề lỗ tai, hãy giảng ra trên mái nhà.” DA 355.4

Chính Đức Chúa Giê-su không bao giờ mua sự bình an bằng sự thỏa hiệp. Lòng Ngài tràn đầy tình yêu thương đối với cả nhân loại, nhưng Ngài không bao giờ dung túng tội lỗi của họ. Ngài là bạn thật của họ đến nỗi không thể giữ im lặng khi họ đang theo đuổi con đường sẽ hủy diệt linh hồn họ - những linh hồn mà Ngài đã chuộc bằng chính huyết Ngài. Ngài làm việc để con người được trung thành với chính mình, trung thành với những lợi ích cao cả và đời đời của mình. Các tôi tớ của Đấng Christ cũng được kêu gọi vào cùng một công việc ấy, và họ phải cẩn thận kẻo trong khi tìm cách ngăn ngừa sự bất hòa, họ lại từ bỏ lẽ thật. Họ phải “tìm cách làm nên hòa thuận”

“Vậy chúng ta hãy tìm cách làm nên hòa thuận và làm gương sáng cho nhau.” (Rô-ma 14:19)

nhưng sự bình an thật không bao giờ có thể đạt được bằng cách thỏa hiệp với nguyên tắc. Và không ai có thể trung thành với nguyên tắc mà chẳng gây nên sự chống đối. Một Cơ-đốc Giáo thuộc linh sẽ bị con cái của sự không vâng phục chống đối. Nhưng Đức Chúa Giê-su dặn các môn đồ Ngài: “Đừng sợ kẻ giết thân thể mà không giết được linh hồn.” Những ai trung thành với Đức Chúa Trời chẳng cần sợ quyền lực của loài người hay lòng thù ghét của Sa-tan. Trong Đấng Christ, sự sống đời đời của họ được bảo đảm. Điều duy nhất họ phải sợ là kẻo họ từ bỏ lẽ thật, và do đó phản bội niềm tin cậy mà Đức Chúa Trời đã tôn trọng đặt nơi họ. DA 356.1

Việc của Sa-tan là làm cho lòng người tràn đầy sự nghi ngờ. Nó dẫn dắt họ xem Đức Chúa Trời như một vị quan án nghiêm khắc. Nó cám dỗ họ phạm tội, rồi khiến họ tự xem mình quá hèn mạt không thể đến gần Cha thiên thượng hay khơi dậy lòng thương xót của Ngài. Chúa thấu hiểu tất cả điều này. Đức Chúa Giê-su bảo đảm với các môn đồ Ngài về sự cảm thông của Đức Chúa Trời đối với họ trong những nhu cầu và sự yếu đuối của họ. Không một tiếng thở dài nào được thốt ra, không một nỗi đau nào được cảm nhận, không một sự buồn rầu nào xuyên thấu linh hồn, mà nhịp đập ấy không rung động đến tận lòng Đức Chúa Cha. DA 356.2

Kinh Thánh tỏ cho chúng ta thấy Đức Chúa Trời ở nơi cao và thánh của Ngài, không phải trong tình trạng nhàn rỗi, không phải trong sự im lặng và cô tịch, nhưng được vây quanh bởi muôn vàn vàn và ngàn ngàn các đấng thông sáng thánh khiết, hết thảy đang chờ làm theo ý muốn Ngài. Qua những kênh mà chúng ta không thể nhận biết, Ngài liên lạc cách tích cực với mọi phần trong quyền cai trị của Ngài. Nhưng chính nơi thế giới nhỏ bé như chấm này, nơi những linh hồn mà Ngài đã ban Con độc sanh của Ngài để cứu chuộc, mà sự quan tâm của Ngài và sự quan tâm của cả thiên đàng tập trung vào. Đức Chúa Trời cúi xuống từ ngôi Ngài để nghe tiếng kêu của kẻ bị áp bức. Đối với mỗi lời cầu nguyện chân thành, Ngài đáp rằng: “Có ta đây.” Ngài nâng đỡ kẻ buồn khổ và bị chà đạp. Trong mọi cơn hoạn nạn của chúng ta, Ngài cũng chịu hoạn nạn. Trong mỗi sự cám dỗ và mỗi sự thử thách, thiên sứ của sự hiện diện Ngài ở gần để giải cứu. DA 356.3

Ngay cả một con chim sẻ cũng chẳng rơi xuống đất mà Đức Chúa Cha không hay biết. Lòng thù ghét của Sa-tan đối với Đức Chúa Trời khiến nó căm ghét mọi vật mà Đấng Cứu Thế chăm sóc. Nó tìm cách làm hư hỏng công trình của Đức Chúa Trời, và nó vui thích trong việc hủy diệt ngay cả những loài vật không nói được. Chỉ nhờ sự chăm sóc bảo vệ của Đức Chúa Trời mà các loài chim được gìn giữ để làm vui lòng chúng ta bằng những bài ca vui mừng của chúng. Nhưng Ngài chẳng quên ngay cả các con chim sẻ. “Vậy, đừng sợ chi hết, vì các ngươi quí trọng hơn nhiều con chim sẻ.” DA 356.4

Đức Chúa Giê-su tiếp tục: Như các ngươi xưng nhận ta trước mặt loài người thể nào, thì ta cũng sẽ xưng nhận các ngươi trước mặt Đức Chúa Trời và các thiên sứ thánh thể ấy. Các ngươi phải làm chứng nhân cho ta trên đất, là những kênh qua đó ân điển ta có thể tuôn chảy để chữa lành thế gian. Vậy ta sẽ làm đại diện cho các ngươi trên trời. Đức Chúa Cha chẳng nhìn vào tánh nết khiếm khuyết của các ngươi, nhưng Ngài thấy các ngươi mặc lấy sự trọn vẹn của ta. Ta là trung gian qua đó các phước lành của thiên đàng sẽ đến với các ngươi. Và hễ ai xưng nhận ta bằng cách dự phần vào sự hy sinh của ta cho kẻ hư mất, thì sẽ được xưng nhận là người dự phần trong sự vinh hiển và niềm vui của những kẻ được cứu chuộc. DA 357.1

Người muốn xưng nhận Đấng Christ phải có Đấng Christ ngự trong mình. Người ấy không thể truyền lại điều mình chưa hề nhận lãnh. Các môn đồ có thể nói lưu loát về giáo lý, có thể lặp lại những lời của chính Đấng Christ; nhưng nếu họ không có sự nhu mì và tình yêu thương giống như Đấng Christ, thì họ chẳng xưng nhận Ngài. Một tâm linh trái nghịch với tâm linh của Đấng Christ sẽ chối bỏ Ngài, dù họ tuyên xưng thế nào đi nữa. Loài người có thể chối Đấng Christ bằng lời nói gièm chê, bằng lời nói rồ dại, bằng những lời gian dối hoặc thiếu tử tế. Họ có thể chối Ngài bằng cách trốn tránh những gánh nặng của đời sống, bằng việc theo đuổi những thú vui tội lỗi. Họ có thể chối Ngài bằng cách rập khuôn theo thế gian, bằng cách cư xử thiếu lịch sự, bằng tình yêu đối với ý kiến riêng của mình, bằng cách bào chữa cho bản thân, bằng cách nuôi dưỡng sự nghi ngờ, vay mượn phiền muộn, và cứ ở trong sự tối tăm. Trong tất cả những cách ấy, họ tuyên bố rằng Đấng Christ chẳng ở trong họ. Và Ngài phán: “Còn ai chối ta trước mặt thiên hạ, thì ta cũng sẽ chối họ trước mặt Cha ta ở trên trời.” DA 357.2

Đấng Cứu Thế dặn các môn đồ Ngài chớ trông mong rằng lòng thù ghét của thế gian đối với tin lành sẽ được khuất phục, và sau một thời gian thì sự chống đối ấy sẽ chấm dứt. Ngài phán: “Ta đến không phải để đem sự bình an, mà là đem gươm giáo.” Sự tạo nên xung đột này không phải là tác động của tin lành, mà là kết quả của sự chống đối tin lành. Trong mọi sự bắt bớ, điều khó chịu đựng nhất là sự bất hòa trong gia đình, sự xa cách của những người bạn thân yêu nhất trên đời. Nhưng Đức Chúa Giê-su tuyên phán: “Ai yêu cha mẹ hơn ta thì không đáng cho ta; ai yêu con trai hay con gái hơn ta thì cũng không đáng cho ta; ai không vác cây thập tự mình mà theo ta, thì cũng chẳng đáng cho ta.” DA 357.3

Sứ mạng của các tôi tớ Đấng Christ là một vinh dự cao quý, và một sự ủy thác thiêng liêng. Ngài phán: “Ai rước các ngươi, tức là rước ta; ai rước ta, tức là rước Đấng đã sai ta.” Không một hành động nhân từ nào tỏ ra với họ trong danh Ngài mà chẳng được nhìn nhận và ban thưởng. Và trong cùng một sự nhìn nhận trìu mến ấy, Ngài bao gồm cả những người yếu đuối và hèn mọn nhất trong gia đình của Đức Chúa Trời: “Ai sẽ cho một người trong bọn nhỏ nầy” - những người còn như con trẻ trong đức tin và trong sự hiểu biết Đấng Christ - “uống chỉ một chén nước lạnh, vì người nhỏ đó là môn đồ ta, quả thật, ta nói cùng các ngươi, kẻ ấy sẽ chẳng mất phần thưởng của mình đâu.” DA 357.4

Như vậy, Đấng Cứu Thế đã kết thúc sự dạy dỗ của Ngài. Trong danh Đấng Christ, mười hai môn đồ được chọn ra đi, như chính Ngài đã đi,

“Thần của Chúa ngự trên ta; Vì Ngài đã xức dầu cho ta đặng truyền tin lành cho kẻ nghèo; Ngài đã sai ta để rao cho kẻ bị cầm được tha, Kẻ mù được sáng, Kẻ bị hà hiếp được tự do; Và để đồn ra năm lành của Chúa.” (Lu-ca 4:18,19)

DA 358.1