Ai Là Anh Em Ta?
Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 12:22-50; Mác 3:20-35. DA 321.1
Các con trai của Giô-sép còn lâu mới đồng cảm với Đức Chúa Giê-su trong công việc của Ngài. Những lời báo cáo đến tai họ về đời sống và công việc của Ngài khiến họ đầy kinh ngạc và sửng sốt. Họ nghe rằng Ngài dành trọn những đêm để cầu nguyện, rằng suốt cả ngày Ngài bị vây quanh bởi những đám đông lớn, và không cho mình thì giờ ngay cả để ăn. Những người thân của Ngài cảm thấy Ngài đang tự làm kiệt sức mình bởi công việc không ngừng nghỉ; họ không thể hiểu được thái độ của Ngài đối với người Pha-ri-si, và có một số người sợ rằng tâm trí Ngài đang trở nên không ổn định. DA 321.2
Các em trai của Ngài nghe điều này, và cũng nghe lời cáo buộc của người Pha-ri-si rằng Ngài đuổi ma quỷ bởi quyền lực của Sa-tan. Họ cảm nhận sâu sắc sự sỉ nhục đến với họ qua mối quan hệ với Đức Chúa Giê-su. Họ biết những lời nói và việc làm của Ngài tạo ra biết bao sự náo động, và không những hoảng sợ trước những lời tuyên bố táo bạo của Ngài, mà còn phẫn nộ trước sự lên án của Ngài đối với các thầy thông giáo và người Pha-ri-si. Họ quyết định rằng phải thuyết phục hoặc ép buộc Ngài chấm dứt cách làm việc này, và họ thuyết phục Ma-ri hiệp với họ, nghĩ rằng qua tình yêu của Ngài dành cho bà, họ có thể khiến Ngài thận trọng hơn. DA 321.3
Ngay trước việc này, Đức Chúa Giê-su đã lần thứ hai thực hiện phép lạ chữa lành một người bị quỷ ám, mù và câm, và người Pha-ri-si đã lặp lại lời cáo buộc,
“Nhưng người Pha-ri-si lại nói rằng: Người này cậy phép chúa quỉ mà trừ quỉ.” (Ma-thi-ơ 9:34)
Đấng Christ nói thẳng với họ rằng khi gán công việc của Đức Thánh Linh cho Sa-tan, họ đang tự cắt mình khỏi nguồn phước. Những ai nói nghịch lại chính Đức Chúa Giê-su, không nhận ra bản tính thiêng liêng của Ngài, có thể nhận được sự tha thứ; vì qua Đức Thánh Linh họ có thể được dẫn dắt để thấy sai lầm của mình và ăn năn. Bất kể tội lỗi nào, nếu linh hồn ăn năn và tin, thì tội lỗi được rửa sạch trong huyết của Đấng Christ; nhưng kẻ chối bỏ công việc của Đức Thánh Linh thì tự đặt mình vào nơi mà sự ăn năn và đức tin không thể đến với họ. Chính bởi Đức Thánh Linh mà Đức Chúa Trời tác động trên tấm lòng; khi con người cố ý chối bỏ Đức Thánh Linh, và tuyên bố Ngài đến từ Sa-tan, họ cắt đứt kênh dẫn mà qua đó Đức Chúa Trời có thể giao tiếp với họ. Khi Đức Thánh Linh cuối cùng bị chối bỏ, thì không còn gì Đức Chúa Trời có thể làm cho linh hồn ấy được nữa. DA 321.4
Những người Pha-ri-si mà Đức Chúa Giê-su nói lời cảnh báo này, chính họ cũng không tin lời cáo buộc mà họ đưa ra chống lại Ngài. Trong số những vị có quyền thế ấy, không một ai mà không từng cảm thấy bị thu hút về phía Đấng Cứu Thế. Họ đã nghe tiếng phán của Đức Thánh Linh trong lòng mình tuyên bố Ngài là Đấng Được Xức Dầu của Y-sơ-ra-ên, và thúc giục họ xưng mình là các môn đồ của Ngài. Trong ánh sáng từ sự hiện diện của Ngài, họ đã nhận ra sự bất khiết của mình, và đã khao khát một sự công bình mà họ không thể tự tạo ra. Nhưng sau khi đã chối bỏ Ngài, thì việc tiếp nhận Ngài là Đấng Mê-si sẽ quá nhục nhã. Đã đặt chân vào con đường vô tín, họ quá kiêu ngạo để thừa nhận sai lầm của mình. Và để tránh phải thừa nhận lẽ thật, họ cố gắng với sự dữ dội tuyệt vọng để tranh cãi với lời dạy của Đấng Cứu Thế. Bằng chứng về quyền năng và lòng thương xót của Ngài làm họ tức giận. Họ không thể ngăn Đấng Cứu Thế làm phép lạ, họ không thể làm im tiếng lời dạy của Ngài; nhưng họ làm mọi sự trong khả năng để xuyên tạc Ngài và bóp méo lời Ngài. Tuy nhiên, Đức Thánh Linh cáo trách của Đức Chúa Trời vẫn theo đuổi họ, và họ phải dựng lên nhiều rào cản để chống lại quyền năng ấy. Tác nhân quyền năng nhất có thể tác động trên tấm lòng con người đang vật lộn với họ, nhưng họ không chịu nhường bước. DA 322.1
Không phải Đức Chúa Trời làm mù mắt con người hay làm cứng lòng họ. Ngài ban ánh sáng cho họ để sửa lại sai lầm của họ, và để dẫn họ vào con đường an toàn; chính bởi sự chối bỏ ánh sáng này mà mắt bị mù và lòng bị cứng. Thường thì tiến trình này diễn ra từ từ, và hầu như không thể nhận thấy. Ánh sáng đến với linh hồn qua lời của Đức Chúa Trời, qua các tôi tớ Ngài, hoặc qua tác nhân trực tiếp của Đức Thánh Linh; nhưng khi một tia sáng bị xem thường, thì nhận thức thuộc linh bị tê liệt một phần, và sự bày tỏ ánh sáng lần thứ hai được nhận thức kém rõ ràng hơn. Vậy bóng tối cứ tăng lên, cho đến khi đêm tối ngự trị trong linh hồn. Đó là điều đã xảy ra với các nhà lãnh đạo Do Thái này. Họ tin chắc rằng một quyền năng thiêng liêng đi cùng Đấng Christ, nhưng để chống lại lẽ thật, họ gán công việc của Đức Thánh Linh cho Sa-tan. Khi làm điều này, họ đã cố ý chọn sự lừa dối; họ đã nộp mình cho Sa-tan, và từ đó họ bị quyền lực của hắn điều khiển. DA 322.2
Liên kết chặt chẽ với lời cảnh báo của Đấng Christ về tội lỗi nghịch lại Đức Thánh Linh là một lời cảnh báo về những lời nói vô ích và gian ác. Lời nói là dấu hiệu của điều có trong lòng. “Bởi vì do sự đầy dẫy trong lòng mà miệng mới nói ra.” Nhưng lời nói còn hơn cả một dấu hiệu của tính cách; chúng có quyền lực tác động lại trên tính cách. Con người bị ảnh hưởng bởi chính lời nói của mình. Thường dưới một sự thúc đẩy nhất thời, được Sa-tan xúi giục, họ thốt ra sự ghen tị hay sự nghi ngờ gian ác, bày tỏ điều mà thật ra họ không thực sự tin; nhưng lời bày tỏ ấy tác động lại trên tư tưởng. Họ bị lừa dối bởi lời nói của chính mình, và đi đến chỗ tin là thật điều đã được nói ra dưới sự xúi giục của Sa-tan. Một khi đã bày tỏ một ý kiến hay một quyết định, họ thường quá kiêu ngạo để rút lại, và cố chứng minh mình đúng, cho đến khi họ tin rằng họ đúng. Thật là nguy hiểm khi thốt ra một lời nghi ngờ, nguy hiểm khi chất vấn và chỉ trích ánh sáng thiêng liêng. Thói quen chỉ trích cẩu thả và bất kính tác động lại trên tính cách, nuôi dưỡng sự bất kính và vô tín. Nhiều người chiều theo thói quen này đã tiếp tục mà không ý thức được sự nguy hiểm, cho đến khi sẵn sàng chỉ trích và chối bỏ công việc của Đức Thánh Linh. Đức Chúa Giê-su phán, “Vả, ta bảo các ngươi, đến ngày phán xét, người ta sẽ khai ra mọi lời hư không mà mình đã nói; vì bởi lời nói mà ngươi sẽ được xưng là công bình, cũng bởi lời nói mà ngươi sẽ bị phạt.” DA 323.1
Rồi Ngài thêm một lời cảnh báo cho những người đã được lời Ngài cảm động, đã vui mừng nghe Ngài, nhưng đã không phó dâng mình cho sự ngự trị của Đức Thánh Linh. Không phải chỉ bởi sự chống cự mà còn bởi sự lơ là mà linh hồn bị hủy diệt. Đức Chúa Giê-su phán, “Khi tà ma ra khỏi một người, thì nó đi đến nơi khô khan kiếm chỗ nghỉ, nhưng kiếm không được; rồi nó nói rằng: Ta sẽ trở về nhà ta mà ta mới ra khỏi; khi trở về, thấy nhà không, quét sạch, và sửa soạn tử tế. Nó bèn lại đi, đem về bảy quỉ khác dữ hơn nó nữa, cùng vào nhà đó mà ở.” DA 323.2
Vào thời Đấng Christ có nhiều người, cũng như ngày nay, mà trên họ sự kiểm soát của Sa-tan dường như đã bị phá vỡ trong một thời gian; nhờ ân điển của Đức Chúa Trời, họ được giải thoát khỏi những tà linh đã cai trị linh hồn. Họ vui mừng trong tình yêu thương của Đức Chúa Trời; nhưng, giống như những kẻ nghe trên đất đá trong ẩn dụ, họ đã không ở trong tình yêu thương của Ngài. Họ đã không phó dâng mình cho Đức Chúa Trời mỗi ngày, để Đấng Christ có thể ngự trong lòng; và khi tà linh trở lại, với “bảy quỉ khác dữ hơn nó nữa,” họ hoàn toàn bị quyền lực của sự dữ thống trị. DA 323.3
Khi linh hồn đầu phục Đấng Christ, một quyền năng mới chiếm hữu tấm lòng mới. Một sự thay đổi được thực hiện mà con người không bao giờ có thể tự mình hoàn thành. Đó là một công việc siêu nhiên, đem một yếu tố siêu nhiên vào bản tánh con người. Linh hồn đã đầu phục Đấng Christ trở thành thành lũy của riêng Ngài, mà Ngài nắm giữ trong một thế giới phản nghịch, và Ngài có ý định rằng không một thẩm quyền nào được biết đến trong đó ngoài thẩm quyền của chính Ngài. Một linh hồn được các thiên sứ giữ gìn như vậy thì không thể bị xâm phạm bởi những cuộc tấn công của Sa-tan. Nhưng nếu chúng ta không chịu đầu phục dưới sự kiểm soát của Đấng Christ, chúng ta sẽ bị kẻ ác thống trị. Chúng ta chắc chắn phải ở dưới sự kiểm soát của một trong hai quyền lực lớn đang tranh giành quyền tối thượng của thế gian. Chúng ta không cần phải cố ý chọn phục vụ cho vương quốc tối tăm để rơi vào sự thống trị của nó. Chúng ta chỉ cần xao lãng việc liên kết mình với vương quốc của sự sáng. Nếu chúng ta không hợp tác với các thiên sứ, Sa-tan sẽ chiếm hữu tấm lòng, và biến nó thành nơi cư ngụ của hắn. Sự phòng vệ duy nhất chống lại điều ác là sự ngự trị của Đấng Christ trong lòng qua đức tin nơi sự công bình của Ngài. Nếu chúng ta không trở nên liên kết mật thiết với Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ không bao giờ có thể chống lại những ảnh hưởng bất khiết của lòng yêu mình, sự nuông chiều bản thân, và sự cám dỗ phạm tội. Chúng ta có thể từ bỏ nhiều thói quen xấu, trong một thời gian chúng ta có thể chia tay với Sa-tan; nhưng nếu không có sự liên kết mật thiết với Đức Chúa Trời, qua việc phó dâng chính mình cho Ngài từng giây phút, chúng ta sẽ bị đánh bại. Không có sự quen biết cá nhân với Đấng Christ, và sự thông công liên tục, chúng ta sẽ phó mặc cho lòng thương xót của kẻ thù, và cuối cùng sẽ làm theo mệnh lệnh của hắn. DA 324.1
“Số phận sau cùng của người ấy còn tệ hơn lúc ban đầu. Đức Chúa Giê-su phán rằng dòng dõi gian ác này cũng sẽ như vậy.” Không ai cứng lòng cho bằng những kẻ đã coi thường lời mời gọi của lòng thương xót, và khinh dể Thần ân điển. Biểu hiện phổ biến nhất của tội chống lại Đức Thánh Linh là việc cứ khăng khăng coi thường lời mời gọi của Thiên đàng để ăn năn. Mỗi bước chối bỏ Đấng Christ là một bước hướng đến việc chối bỏ sự cứu rỗi, và hướng đến tội chống lại Đức Thánh Linh. DA 324.2
Khi chối bỏ Đấng Christ, dân Do Thái đã phạm tội không thể tha thứ; và bởi việc từ chối lời mời gọi của lòng thương xót, chúng ta cũng có thể phạm cùng một sai lầm. Chúng ta sỉ nhục Vua sự sống, và làm Ngài hổ thẹn trước hội của Sa-tan và trước cả vũ trụ thiên đàng khi chúng ta từ chối lắng nghe các sứ giả Ngài đã sai phái, mà thay vào đó lại lắng nghe các tay sai của Sa-tan, là những kẻ muốn kéo linh hồn rời xa Đấng Christ. Hễ một người còn làm như vậy, người ấy không thể tìm được hy vọng hay sự tha thứ, và cuối cùng người ấy sẽ mất hết mọi ước muốn được hòa thuận với Đức Chúa Trời. DA 324.3
Trong khi Đức Chúa Giê-su còn đang dạy dỗ dân chúng, các môn đồ Ngài đem đến tin rằng mẹ và các em Ngài đang đứng ngoài, và muốn gặp Ngài. Ngài biết điều gì ở trong lòng họ, và “Ngài đáp rằng cùng người đã thưa với Ngài: Ai là mẹ ta? Ai là anh em ta? Ngài giơ tay chỉ các môn đồ mình, mà phán rằng: Nầy là mẹ ta cùng anh em ta! Vì hễ ai làm theo ý muốn Cha ta ở trên trời, thì người đó là anh em, chị em ta, cùng là mẹ ta vậy.” DA 325.1
Tất cả những ai chịu tiếp nhận Đấng Christ bởi đức tin đều được liên kết với Ngài bằng một mối ràng buộc gần gũi hơn mối quan hệ huyết thống của con người. Họ trở nên một với Ngài, như Ngài là một với Đức Chúa Cha. Là người tin và làm theo lời Ngài, mẹ Ngài có mối quan hệ gần gũi hơn và cứu rỗi hơn với Ngài so với mối quan hệ tự nhiên của bà. Các em Ngài sẽ không nhận được lợi ích nào từ mối liên hệ với Ngài trừ khi họ tiếp nhận Ngài làm Đấng Cứu Thế của riêng mình. DA 325.2
Đấng Christ hẳn đã tìm được biết bao sự nâng đỡ nơi những người thân thuộc ở trần gian của Ngài nếu họ tin Ngài là Đấng từ trời đến, và hợp tác với Ngài trong việc làm công việc của Đức Chúa Trời! Sự chẳng tin của họ phủ một bóng tối trên cuộc đời trần thế của Đức Chúa Giê-su. Đó là một phần trong sự cay đắng của chén thống khổ mà Ngài đã uống cạn vì chúng ta. DA 325.3
Sự thù nghịch nhen nhúm trong lòng con người chống lại tin lành đã được Con Đức Chúa Trời cảm nhận sâu sắc, và điều đau đớn nhất với Ngài là ngay trong chính gia đình Ngài; vì chính tấm lòng Ngài đầy lòng nhân từ và yêu thương, và Ngài trân quý tình cảm dịu dàng trong mối quan hệ gia đình. Các em Ngài muốn Ngài chiều theo ý tưởng của họ, dù điều đó hoàn toàn không hòa hợp với sứ mạng thiêng liêng của Ngài. Họ xem Ngài như cần đến lời khuyên của họ. Họ đánh giá Ngài theo quan điểm phàm tục của họ, và nghĩ rằng nếu Ngài chỉ nói những điều mà các thầy thông giáo và người Pha-ri-si có thể chấp nhận, thì Ngài sẽ tránh được cuộc tranh cãi khó chịu mà lời nói của Ngài khơi dậy. Họ cho rằng Ngài mất trí khi tuyên bố thẩm quyền thiêng liêng, và khi đặt mình trước các thầy ra-bi như một người quở trách tội lỗi của họ. Họ biết rằng những người Pha-ri-si đang tìm cớ để tố cáo Ngài, và họ cảm thấy Ngài đã cho họ đủ cớ. DA 326.1
Với sợi dây đo ngắn ngủi của họ, họ không thể dò thấu sứ mạng mà Ngài đến để hoàn thành, và vì thế không thể đồng cảm với Ngài trong những thử thách của Ngài. Những lời thô lỗ, thiếu trân trọng của họ cho thấy rằng họ không có sự nhận thức thật về tánh hạnh của Ngài, và không nhận ra rằng thần tánh đã hòa quyện với nhân tánh. Họ thường thấy Ngài đầy đau buồn; nhưng thay vì an ủi Ngài, tinh thần và lời nói của họ chỉ làm tổn thương tấm lòng Ngài. Bản tánh nhạy cảm của Ngài bị giày vò, động cơ của Ngài bị hiểu lầm, công việc của Ngài không được thấu hiểu. DA 326.2
Các em Ngài thường đem ra triết lý của người Pha-ri-si, vốn đã sờn cũ và bạc màu theo năm tháng, và dám tự cho rằng họ có thể dạy dỗ Đấng thấu hiểu mọi lẽ thật, và lĩnh hội mọi sự mầu nhiệm. Họ tự do lên án điều mà họ không thể hiểu. Những lời trách móc của họ đâm sâu vào tận tâm can Ngài, và linh hồn Ngài mỏi mệt và sầu khổ. Họ tuyên xưng đức tin nơi Đức Chúa Trời, và nghĩ rằng họ đang bênh vực Đức Chúa Trời, trong khi Đức Chúa Trời đang ở giữa họ trong xác thịt, mà họ chẳng nhận biết Ngài. DA 326.3
Những điều này khiến con đường của Ngài đầy gai góc khó đi. Đấng Christ đau đớn vì sự hiểu lầm ngay trong chính gia đình Ngài đến nỗi việc đi đến nơi không có sự hiểu lầm ấy là một sự khuây khỏa cho Ngài. Có một mái nhà mà Ngài thích ghé thăm—nhà của La-xa-rơ, Ma-ri và Ma-thê; vì trong bầu không khí của đức tin và tình yêu thương, tâm linh Ngài được nghỉ ngơi. Tuy nhiên, không có ai trên đất có thể lĩnh hội sứ mạng thiêng liêng của Ngài, hay biết được gánh nặng mà Ngài mang vì nhân loại. Ngài thường chỉ có thể tìm được sự khuây khỏa khi ở một mình, và thông công với Cha thiên thượng của Ngài. DA 326.4
Những ai được kêu gọi để chịu khổ vì cớ Đấng Christ, là những người phải chịu đựng sự hiểu lầm và ngờ vực, ngay cả trong chính gia đình mình, có thể tìm được sự an ủi trong ý tưởng rằng Đức Chúa Giê-su đã chịu đựng điều tương tự. Ngài động lòng thương xót họ. Ngài mời họ tìm sự đồng hành nơi Ngài, và tìm sự khuây khỏa nơi chính Ngài đã tìm được, trong sự thông công với Đức Chúa Cha. DA 327.1
Những ai tiếp nhận Đấng Christ làm Đấng Cứu Thế của riêng mình thì không bị bỏ lại như những kẻ mồ côi, để một mình chịu đựng những thử thách của cuộc đời. Ngài tiếp nhận họ như những thành viên của gia đình thiên đàng; Ngài mời họ gọi Cha Ngài là Cha của họ. Họ là “những đứa con bé nhỏ” của Ngài, quý báu đối với tấm lòng Đức Chúa Trời, được ràng buộc với Ngài bằng những mối liên kết dịu dàng và bền vững nhất. Ngài dành cho họ một tình âu yếm vô cùng, vượt xa tình mà cha hay mẹ chúng ta đã cảm nhận đối với chúng ta trong sự yếu đuối bất lực của mình, cũng như thần tánh vượt trên nhân tánh vậy. DA 327.2
Về mối quan hệ của Đấng Christ với dân Ngài, có một minh họa tuyệt đẹp trong các luật pháp ban cho Y-sơ-ra-ên. Khi vì nghèo khó mà một người Hê-bơ-rơ buộc phải lìa bỏ cơ nghiệp tổ phụ mình, và bán mình làm tôi mọi, thì bổn phận chuộc lại người ấy và cơ nghiệp của người ấy thuộc về người bà con gần nhất. Xem Lê-vi Ký 25:25, 47-49; Ru-tơ 2:20. Cũng vậy, công việc chuộc lại chúng ta và cơ nghiệp của chúng ta, đã bị mất vì tội lỗi, thuộc về Đấng là “bà con gần” với chúng ta. Chính để chuộc chúng ta mà Ngài đã trở nên người bà con của chúng ta. Chúa Cứu Thế của chúng ta gần gũi hơn cả cha, mẹ, anh em, bạn bè, hay người yêu. Ngài phán: “Đừng sợ, vì ta đã chuộc ngươi. Ta đã lấy tên ngươi gọi ngươi; ngươi thuộc về ta.” “Vì ta đã coi ngươi là quí báu, đáng chuộng, và ta đã yêu ngươi, nên ta sẽ ban những người thế ngươi, và các dân tộc thay mạng sống ngươi.” Ê-sai 43:1, 4. DA 327.3
Đấng Christ yêu thương các thiên thể vây quanh ngôi Ngài; nhưng điều gì có thể giải thích được tình yêu lớn lao mà Ngài đã yêu thương chúng ta? Chúng ta không thể hiểu thấu được, nhưng chúng ta có thể biết điều ấy là chân thật qua chính kinh nghiệm của mình. Và nếu chúng ta thật sự có mối quan hệ thân tộc với Ngài, thì chúng ta phải đối xử dịu dàng biết bao với những anh chị em của Chúa chúng ta! Lẽ nào chúng ta lại không mau mắn nhìn nhận những đòi hỏi của mối quan hệ thiêng liêng ấy sao? Đã được nhận làm con trong gia đình của Đức Chúa Trời, lẽ nào chúng ta lại không tôn kính Cha mình và những người thân thuộc của mình sao? DA 327.4