Thầy Đội
Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 8:5-13; Lu-ca 7:1-17. DA 315.1
Đấng Christ đã phán với vị quan có con trai được Ngài chữa lành rằng: “Nếu các ngươi không thấy phép lạ và điềm lạ, thì các ngươi chẳng tin!” Giăng 4:48. Ngài buồn rầu vì chính dân tộc của Ngài lại đòi hỏi những dấu hiệu bề ngoài này về thân phận Đấng Mê-si của Ngài. Hết lần này đến lần khác, Ngài lấy làm lạ về sự chẳng tin của họ. Nhưng Ngài lại lấy làm lạ về đức tin của thầy đội đến cùng Ngài. Thầy đội không nghi ngờ quyền năng của Đấng Cứu Thế. Ông thậm chí không xin Ngài đích thân đến để làm phép lạ. Ông nói: “Xin Chúa chỉ phán một lời, thì đầy tớ tôi sẽ được lành.” DA 315.2
Đầy tớ của thầy đội bị bệnh bại liệt, nằm gần chết. Trong người La-mã, các đầy tớ là nô lệ, bị mua bán ngoài chợ và bị đối xử cách lăng nhục, tàn nhẫn; nhưng thầy đội này lại yêu thương đầy tớ mình cách trìu mến và rất mong cho người được bình phục. Ông tin rằng Đức Chúa Giê-su có thể chữa lành cho người. Ông chưa thấy Đấng Cứu Thế, nhưng những lời đồn ông nghe được đã khơi dậy trong ông đức tin. Mặc dầu người Do Thái nặng về hình thức, vị người La-mã này vẫn xác tín rằng tôn giáo của họ cao trọng hơn tôn giáo của ông. Ông đã vượt qua những rào cản của thành kiến và sự thù ghét dân tộc ngăn cách giữa kẻ chinh phục và dân bị chinh phục. Ông đã bày tỏ lòng tôn trọng đối với sự thờ phượng Đức Chúa Trời, và đã tỏ lòng nhân từ với người Do Thái là những kẻ thờ phượng Ngài. Trong lời dạy của Đấng Christ, như đã được thuật lại cho ông, ông tìm thấy điều đáp ứng nhu cầu của linh hồn mình. Tất cả những gì thuộc linh trong ông đều hưởng ứng những lời của Đấng Cứu Thế. Nhưng ông cảm thấy mình không xứng đáng đến trước mặt Đức Chúa Giê-su, nên ông nhờ các trưởng lão Do Thái cầu xin cho đầy tớ ông được chữa lành. Họ quen biết Vị Thầy Lớn, và ông nghĩ rằng họ sẽ biết cách đến gần Ngài để được Ngài đoái thương. DA 315.3
Khi Đức Chúa Giê-su vào thành Ca-bê-na-um, một phái đoàn các trưởng lão đón Ngài và nói cho Ngài biết về ước muốn của thầy đội. Họ nài xin rằng “Thầy đội thật đáng cho Chúa nhậm điều đó; vì người yêu dân ta, và đã cất nhà hội cho chúng tôi.” DA 316.1
Đức Chúa Giê-su lập tức lên đường đến nhà viên quan ấy; nhưng vì đoàn dân chen lấn, Ngài tiến chậm. Tin Ngài đang đến đã đi trước Ngài, và thầy đội, trong sự tự ti của mình, sai người đến thưa với Ngài: “Lạy Chúa, xin đừng tự phiền đến thế, vì tôi không đáng rước Chúa vào nhà tôi.” Nhưng Đấng Cứu Thế vẫn tiếp tục đi, và cuối cùng thầy đội mạnh dạn đến gần Ngài, hoàn tất lời thưa rằng: “Tôi cũng nghĩ mình không đáng đến cùng Chúa;” “song xin phán một lời, thì đầy tớ tôi sẽ được lành. Vì chính mình tôi là người thuộc dưới quyền kẻ khác, tôi cũng có quân lính dưới quyền tôi, tôi biểu tên nầy rằng: Hãy đi, thì nó đi; biểu tên khác rằng: Hãy đến, thì nó đến; và biểu đầy tớ tôi rằng: Hãy làm việc nầy, thì nó làm.” Như tôi đại diện cho quyền lực của La-mã, và quân lính tôi nhìn nhận quyền của tôi là tối cao, thì Ngài cũng đại diện cho quyền năng của Đức Chúa Trời Vô Hạn, và muôn vật được tạo dựng đều vâng theo lời Ngài. Ngài có thể truyền cho bệnh tật phải lui đi, thì nó sẽ vâng theo Ngài. Ngài có thể triệu tập các sứ giả trên trời, thì họ sẽ ban quyền năng chữa lành. Chỉ xin phán một lời, thì đầy tớ tôi sẽ được lành. DA 316.2
“Đức Chúa Giê-su nghe những lời đó rồi, lấy làm lạ cho người, xây lại cùng đoàn dân theo mình, mà phán rằng: Ta nói cùng các ngươi, dầu trong dân Y-sơ-ra-ên, ta cũng chưa thấy một đức tin lớn dường ấy.” Và Ngài phán cùng thầy đội rằng: “Theo như ngươi đã tin, thì phải được thành vậy. Chính giờ đó, đầy tớ liền được lành.” DA 316.3
Các trưởng lão Do Thái tiến cử thầy đội với Đấng Christ đã cho thấy họ còn xa cách thể nào với tinh thần của tin lành. Họ không nhận biết rằng nhu cầu lớn lao của chúng ta chính là điều duy nhất khiến chúng ta được hưởng lòng thương xót của Đức Chúa Trời. Trong sự tự xưng công bình, họ khen ngợi thầy đội vì ơn ông đã ban cho “dân ta.” Nhưng thầy đội tự nói về mình rằng: “Tôi không xứng đáng.” Lòng ông đã được ân điển của Đấng Christ cảm động. Ông thấy sự bất xứng của chính mình; nhưng ông không sợ cầu xin sự giúp đỡ. Ông không cậy vào sự tốt lành của mình; lý lẽ của ông là nhu cầu lớn lao của ông. Đức tin của ông nắm lấy Đấng Christ trong bản tánh thật của Ngài. Ông không tin Ngài chỉ là một Đấng làm phép lạ, nhưng là bạn hữu và Đấng Cứu Thế của nhân loại. DA 316.4
Chính như vậy mà mỗi tội nhân đều có thể đến cùng Đấng Christ. “Không phải cứu vì việc công bình chúng ta đã làm, nhưng cứ theo lòng thương xót Ngài.” Tít 3:5. Khi Sa-tan nói với bạn rằng bạn là tội nhân, và không thể trông mong nhận được ơn phước từ Đức Chúa Trời, hãy nói với nó rằng Đấng Christ đã đến thế gian để cứu kẻ có tội. Chúng ta chẳng có gì để được Đức Chúa Trời chấp nhận; nhưng lời nài xin mà chúng ta có thể dâng lên bây giờ và mãi mãi chính là tình trạng hoàn toàn bất lực của chúng ta khiến cho quyền năng cứu chuộc của Ngài trở nên cần thiết. Khước từ mọi sự tự cậy vào mình, chúng ta có thể nhìn lên thập tự giá tại Gô-gô-tha mà nói rằng,— DA 317.1
“Trong tay con chẳng có giá nào dâng; Con chỉ bám lấy thập tự giá Ngài mà thôi.” DA 317.2
Người Do Thái từ thuở thơ ấu đã được dạy dỗ về công việc của Đấng Mê-si. Họ đã được ban cho những lời cảm hứng của các tổ phụ và các tiên tri cùng sự dạy dỗ bằng hình bóng của lễ nghi dâng tế. Nhưng họ đã coi thường ánh sáng; và bây giờ họ chẳng thấy nơi Đức Chúa Giê-su điều gì đáng ưa thích cả. Nhưng thầy đội, sanh ra trong tà giáo, được giáo dục trong sự thờ hình tượng của đế quốc La-mã, được huấn luyện làm một quân nhân, dường như bị cắt đứt khỏi đời sống thuộc linh bởi sự giáo dục và hoàn cảnh chung quanh, lại càng bị ngăn cách hơn nữa bởi sự cố chấp của người Do Thái và bởi sự khinh bỉ của chính dân tộc ông đối với dân Y-sơ-ra-ên,—người này lại nhận thức được lẽ thật mà con cháu Áp-ra-ham đã bị làm cho mù lòa. Ông không chờ đợi để xem chính người Do Thái có tiếp nhận Đấng tự xưng là Đấng Mê-si của họ hay không. Khi “sự sáng nầy là sự sáng thật, soi sáng mọi người sanh ra trong thế gian” (Giăng 1:9) đã chiếu trên ông, thì dầu ở xa cách, ông vẫn nhận biết được sự vinh hiển của Con Đức Chúa Trời. DA 317.3
Đối với Đức Chúa Giê-su, đây là điềm báo trước về công việc mà tin lành sẽ thực hiện giữa vòng dân ngoại. Với niềm vui, Ngài trông đợi sự quy tụ các linh hồn từ mọi dân tộc vào nước Ngài. Với nỗi buồn sâu xa, Ngài phác họa cho người Do Thái thấy hậu quả của sự họ chối bỏ ân điển Ngài: “Ta phán cùng các ngươi, có nhiều người từ đông phương, tây phương sẽ đến, ngồi đồng bàn với Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp trong nước thiên đàng. Nhưng các con bổn quốc sẽ bị liệng ra chốn tối tăm ở ngoài, tại đó sẽ có khóc lóc và nghiến răng.” Than ôi, biết bao người vẫn đang chuẩn bị cho cùng một sự thất vọng chí tử ấy! Trong khi những linh hồn ở trong bóng tối tà giáo tiếp nhận ân điển Ngài, thì có biết bao người trong các xứ Cơ-đốc mà ánh sáng chiếu trên họ chỉ để bị coi thường. DA 317.4
Cách Ca-bê-na-um hơn hai mươi dặm, trên một vùng cao nguyên nhìn xuống đồng bằng Ếch-đra-ên rộng lớn và xinh đẹp, có làng Na-in, và Đức Chúa Giê-su hướng bước đến đó kế tiếp. Nhiều môn đồ của Ngài cùng những người khác đi với Ngài, và suốt dọc đường, dân chúng kéo đến, khao khát những lời yêu thương và thương xót của Ngài, đem những kẻ bệnh đến cho Ngài chữa lành, và luôn hy vọng rằng Đấng nắm giữ quyền năng diệu kỳ dường ấy sẽ tỏ mình ra là Vua của Y-sơ-ra-ên. Một đoàn dân đông chen lấn theo bước Ngài, và đó là một đoàn người vui mừng, mong đợi, theo Ngài lên con đường đá hướng về cổng làng trên núi. DA 318.1
Khi họ đến gần, người ta thấy một đám tang đi ra từ cổng thành. Với những bước chân chậm chạp, buồn thảm, đám tang đang tiến đến nơi chôn cất. Trên một chiếc cáng để trống khiêng phía trước là thi thể người chết, và chung quanh là những người than khóc, làm vang động không khí bằng những tiếng khóc lóc của họ. Dường như tất cả dân thành đã tụ họp lại để bày tỏ lòng tôn trọng đối với người chết và sự cảm thông với người chịu tang. DA 318.2
Đó là một cảnh tượng làm thức tỉnh lòng cảm thương. Người chết là con trai duy nhất của mẹ mình, mà bà lại là một góa phụ. Người chịu tang cô đơn đang đưa đến mộ phần chỗ nương cậy và an ủi duy nhất trên đời của mình. “Chúa thấy, động lòng thương xót người.” Khi bà bước đi cách mù quáng, khóc lóc, chẳng nhận biết sự hiện diện của Ngài, Ngài đến gần bên bà và dịu dàng phán: “Đừng khóc!” Đức Chúa Giê-su sắp sửa đổi nỗi buồn của bà thành niềm vui, song Ngài không thể nén được lời bày tỏ sự cảm thương trìu mến này. DA 318.3
“Đoạn, Ngài lại gần, rờ quan tài;” đối với Ngài, ngay cả sự tiếp xúc với cái chết cũng không thể làm cho Ngài ô uế. Những người khiêng đứng lại, và tiếng than khóc của những người chịu tang ngừng bặt. Hai đoàn người tụ họp quanh chiếc cáng, hy vọng dầu trong tuyệt vọng. Có Một Đấng hiện diện ở đó từng đuổi tan bệnh tật và đánh bại các quỷ; vậy cái chết cũng phục dưới quyền năng của Ngài chăng? DA 318.4
Bằng giọng nói rõ ràng, đầy quyền uy, Ngài phán: “Hỡi người trẻ kia, ta biểu ngươi chờ dậy.” Giọng nói ấy xuyên thấu tai người chết. Người trẻ tuổi mở mắt ra. Đức Chúa Giê-su nắm tay người và đỡ người dậy. Ánh mắt người dừng lại nơi bà mẹ đã khóc bên cạnh mình, và mẹ con ôm chầm lấy nhau trong một vòng tay vui mừng, lâu dài và quấn quýt. Đoàn dân đông nhìn xem trong im lặng, như bị mê hoặc. “Ai nấy đều sợ hãi.” Họ đứng lặng yên và cung kính trong giây lát, như đang ở ngay trước mặt Đức Chúa Trời. Rồi họ “ngợi khen Đức Chúa Trời rằng: Có đấng tiên tri lớn đã dấy lên giữa chúng tôi, và Đức Chúa Trời đã thăm viếng dân Ngài.” Đoàn đưa đám trở về thành Na-in như một đám rước khải hoàn. “Tin nầy đồn ra khắp xứ Giu-đê, và khắp xứ xung quanh nơi đó nữa.” DA 318.5
Đấng đã đứng bên cạnh bà mẹ đau buồn nơi cổng thành Na-in cũng đang dõi theo mỗi người đang than khóc bên quan tài. Ngài cảm thông với nỗi đau buồn của chúng ta. Tấm lòng Ngài, vốn đã yêu thương và thương xót, là một tấm lòng dịu dàng không hề thay đổi. Lời Ngài, vốn đã gọi kẻ chết sống lại, ngày nay vẫn hữu hiệu chẳng kém gì khi phán với người trẻ tuổi ở Na-in. Ngài phán: “Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta.”
“Đức Chúa Giê-su đến gần, phán cùng môn đồ như vầy: Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta.” (Ma-thi-ơ 28:18)
Quyền phép ấy không hề suy giảm theo năm tháng, cũng chẳng cạn kiệt bởi hoạt động không ngừng của ân điển tuôn tràn nơi Ngài. Đối với hết thảy những ai tin nơi Ngài, Ngài vẫn là một Đấng Cứu Thế hằng sống. DA 319.1
Đức Chúa Giê-su đã biến nỗi đau buồn của bà mẹ thành niềm vui khi Ngài trả lại con trai cho bà; thế nhưng người trẻ tuổi ấy chỉ được gọi trở lại với cuộc sống trần gian nầy, để chịu đựng những đau buồn, những lao nhọc và những hiểm nguy của nó, rồi lại phải bước vào dưới quyền lực của sự chết. Nhưng Đức Chúa Giê-su an ủi nỗi đau buồn của chúng ta về người chết bằng một sứ điệp hy vọng vô hạn: “Ta là Đấng sống, ta đã chết, kìa nay ta sống đời đời,… và ta cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ.” “Vậy thì, vì con cái có phần về huyết và thịt, nên chính Đức Chúa Giê-su cũng có phần vào đó, hầu cho Ngài bởi sự chết mình mà phá diệt kẻ cầm quyền sự chết, là ma quỉ, lại cho giải thoát mọi người vì sợ sự chết, bị cầm trong vòng tôi mọi trọn đời.”
“là Đấng Sống, ta đã chết, kìa nay ta sống đời đời, cầm chìa khóa của sự chết và Âm phủ.” (Khải-huyền 1:18)
“Vậy thì, vì con cái có phần về huyết và thịt, nên chính Đức Chúa Giê-su cũng có phần vào đó, hầu cho Ngài bởi sự chết mình mà phá diệt kẻ cầm quyền sự chết, là ma quỉ, lại cho giải thoát mọi người vì sợ sự chết, bị cầm trong vòng tôi mọi trọn đời.” (Hê-bơ-rơ 2:14,15)
DA 320.1
Sa-tan không thể giữ kẻ chết trong tay mình khi Con Đức Chúa Trời truyền cho họ sống. Nó không thể giam giữ trong sự chết thuộc linh một linh hồn nào lấy đức tin tiếp nhận lời quyền năng của Đấng Christ. Đức Chúa Trời đang phán cùng hết thảy những ai chết trong tội lỗi: “Ngươi đương ngủ, hãy thức, hãy vùng dậy từ trong đám người chết.”
“Cho nên có chép rằng: Ngươi đương ngủ, hãy thức, hãy vùng dậy từ trong đám người chết, thì Đấng Cơ-đốc sẽ chiếu sáng ngươi.” (Ê-phê-sô 5:14)
Lời ấy là sự sống đời đời. Như lời Đức Chúa Trời đã truyền cho người đầu tiên được sống vẫn đang ban sự sống cho chúng ta; như lời của Đấng Christ: “Hỡi người trẻ kia, ta biểu ngươi chờ dậy,” đã ban sự sống cho người trẻ tuổi ở Na-in, thì lời ấy: “Hãy vùng dậy từ trong đám người chết,” cũng là sự sống cho linh hồn nào tiếp nhận lời đó. Đức Chúa Trời “đã giải thoát chúng ta khỏi quyền của sự tối tăm, làm cho chúng ta dời qua nước của Con rất yêu dấu Ngài.”
“Ngài đã giải thoát chúng ta khỏi quyền của sự tối tăm, làm cho chúng ta dời qua nước của Con rất yêu dấu Ngài,” (Cô-lô-se 1:13)
Tất cả đều được ban cho chúng ta trong lời Ngài. Nếu chúng ta tiếp nhận lời ấy, chúng ta được giải thoát. DA 320.2
Và “nếu Thánh Linh của Đấng làm cho Đức Chúa Giê-su sống lại từ trong kẻ chết ở trong anh em, thì Đấng làm cho Đức Chúa Giê-su Christ sống lại từ trong kẻ chết cũng sẽ nhờ Thánh Linh Ngài ở trong anh em mà khiến thân thể hay chết của anh em lại sống.” “Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ, sẽ sống lại trước hết. Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn.”
“Lại nếu Thánh Linh của Đấng làm cho Đức Chúa Giê-su sống lại từ trong kẻ chết ở trong anh em, thì Đấng làm cho Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc sống lại từ trong kẻ chết cũng sẽ nhờ Thánh Linh Ngài ở trong anh em mà khiến thân thể hay chết của anh em lại sống.” (Rô-ma 8:11)
“Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Cơ-đốc, sẽ sống lại trước hết. Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn.” (I Tê-sa-lô-ni-ca 4:16,17)
Đây là lời an ủi mà Ngài truyền cho chúng ta dùng để an ủi lẫn nhau. DA 320.3