Bài Giảng Trên Núi
Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 5; Ma-thi-ơ 6; Ma-thi-ơ 7. DA 298.1
Đấng Christ ít khi tập hợp riêng các môn đồ để họ nghe lời Ngài. Ngài không chọn cho cử tọa của mình chỉ những người đã biết con đường sự sống. Công việc của Ngài là tìm đến những đám đông đang ở trong sự ngu dốt và lầm lạc. Ngài ban những bài học chân lý ở nơi mà chúng có thể đến với sự hiểu biết tăm tối. Chính Ngài là Chân Lý, đứng với lưng thắt đai và đôi tay luôn dang ra để ban phước, và bằng những lời cảnh báo, nài xin, và khích lệ, tìm cách nâng đỡ tất cả những ai đến cùng Ngài. DA 298.2
Bài Giảng Trên Núi, dầu được ban đặc biệt cho các môn đồ, nhưng đã được phán giữa lúc đám đông đang lắng nghe. Sau khi tấn phong các sứ đồ, Đức Chúa Giê-su cùng họ đi đến bờ biển. Tại đây vào lúc sáng sớm, dân chúng đã bắt đầu tụ họp. Bên cạnh những đám đông thường lệ từ các thị trấn xứ Ga-li-lê, còn có người từ xứ Giu-đê, và thậm chí từ chính thành Giê-ru-sa-lem; từ xứ Bê-rê, từ vùng Đê-ca-bô-lơ, từ xứ Y-đu-mê, mãi tận phía nam xứ Giu-đê; và từ Ty-rơ và Si-đôn, là những thành phố Phê-ni-xi bên bờ Địa Trung Hải. “Khi nghe những việc lớn Ngài làm,” họ “đến cùng Ngài đặng nghe Ngài và xin chữa lành bịnh:… có quyền phép từ nơi Ngài ra, chữa lành hết mọi người.” Mác 3:8; Lu-ca 6:17-19. DA 298.3
Bãi biển hẹp không đủ chỗ đứng trong tầm nghe được tiếng Ngài cho tất cả những ai muốn nghe Ngài, nên Đức Chúa Giê-su dẫn đường trở lại sườn núi. Đến một khoảng đất bằng phẳng tạo nên một nơi tụ họp dễ chịu cho đám đông rộng lớn, Ngài ngồi xuống trên cỏ, và các môn đồ cùng đám đông cũng làm theo gương Ngài. DA 298.4
Chỗ của các môn đồ luôn ở bên cạnh Đức Chúa Giê-su. Dân chúng không ngừng chen lấn quanh Ngài, nhưng các môn đồ hiểu rằng họ không được bị đẩy ra khỏi sự hiện diện của Ngài. Họ ngồi sát bên Ngài, để không bỏ sót một lời dạy dỗ nào của Ngài. Họ là những người nghe chăm chú, háo hức hiểu được những chân lý mà họ sẽ rao truyền cho mọi xứ và mọi thời đại. DA 299.1
Với cảm giác rằng điều gì đó hơn thường lệ có thể đang được trông đợi, lúc này họ chen lấn quanh Thầy mình. Họ tin rằng nước sắp được thiết lập, và từ các biến cố buổi sáng họ rút ra sự bảo đảm rằng một lời tuyên bố nào đó về nước ấy sắp được đưa ra. Một cảm giác mong đợi cũng lan tỏa trong đám đông, và những khuôn mặt háo hức cho thấy sự quan tâm sâu sắc. Khi dân chúng ngồi trên sườn đồi xanh, chờ đợi những lời của Thầy thiên thượng, lòng họ tràn đầy những ý tưởng về vinh quang tương lai. Có những thầy thông giáo và người Pha-ri-si trông đợi đến ngày họ sẽ thống trị trên những người La-mã đáng ghét, và sở hữu sự giàu sang cùng huy hoàng của đế quốc vĩ đại trên thế gian. Những nông dân và ngư dân nghèo khổ hy vọng được nghe sự bảo đảm rằng những túp lều khốn khổ, thức ăn ít ỏi, đời sống lao nhọc, và nỗi sợ thiếu thốn của họ sẽ được đổi lấy những lâu đài dư dật và những ngày thong thả. Thay cho chiếc áo thô là vật che thân ban ngày, và là chăn đắp ban đêm, họ hy vọng rằng Đấng Christ sẽ ban cho họ những áo choàng sang trọng và quý giá của những kẻ chinh phục. Mọi tấm lòng đều rung động với niềm hy vọng kiêu hãnh rằng Y-sơ-ra-ên sắp được tôn trọng trước các dân tộc như là dân được chọn của Chúa, và Giê-ru-sa-lem được tôn cao làm đầu một vương quốc toàn cầu. DA 299.2
Đấng Christ làm thất vọng niềm hy vọng về sự cao trọng thuộc thế gian. Trong Bài Giảng Trên Núi, Ngài tìm cách phá bỏ công việc đã được thực hiện bởi nền giáo dục sai lầm, và ban cho người nghe Ngài một quan niệm đúng đắn về nước Ngài và về chính bản tánh Ngài. Tuy nhiên Ngài không trực tiếp tấn công vào những sai lầm của dân chúng. Ngài thấy sự khốn khổ của thế gian vì cớ tội lỗi, nhưng Ngài không trình bày trước họ một bức tranh sống động về sự khốn cùng của họ. Ngài dạy họ về điều gì đó tốt hơn vô cùng so với những gì họ từng biết. Không công kích những ý niệm của họ về nước Đức Chúa Trời, Ngài bảo cho họ những điều kiện để bước vào đó, để mặc họ tự rút ra kết luận về bản chất của nước ấy. Những chân lý Ngài dạy không kém phần quan trọng đối với chúng ta so với đám đông đã theo Ngài. Chúng ta cũng cần học những nguyên tắc nền tảng của nước Đức Chúa Trời không kém gì họ. DA 299.3
Những lời đầu tiên của Đấng Christ phán cùng dân chúng trên núi là những lời chúc phước. Phước thay, Ngài phán, cho những kẻ nhận biết sự nghèo nàn thuộc linh của mình, và cảm thấy nhu cầu được cứu chuộc. Tin lành phải được rao giảng cho người nghèo. Tin lành không được tỏ ra cho những người kiêu ngạo thuộc linh, những kẻ tự cho mình là giàu có và chẳng cần chi cả, nhưng cho những người khiêm nhường và ăn năn thống hối. Chỉ có một nguồn suối được mở ra cho tội lỗi, một nguồn suối cho những kẻ nghèo khó về tâm linh. DA 299.4
Tấm lòng kiêu ngạo cố gắng giành lấy sự cứu rỗi; nhưng cả quyền được vào thiên đàng lẫn sự xứng đáng của chúng ta đối với nó đều được tìm thấy trong sự công bình của Đấng Christ. Chúa không thể làm gì để phục hồi con người cho đến khi, được thuyết phục về sự yếu đuối của mình, và bị tước bỏ mọi sự tự mãn, người ấy đầu phục dưới sự kiểm soát của Đức Chúa Trời. Bấy giờ người ấy có thể nhận lấy món quà mà Đức Chúa Trời đang chờ ban cho. Từ linh hồn cảm biết nhu cầu của mình, không điều gì bị giữ lại. Người ấy được tự do tiếp cận với Đấng mà trong Ngài mọi sự trọn vẹn đều ngự trị. “Đấng cao cả, ở nơi đời đời vô cùng, danh Ngài là Thánh, có phán như vầy: Ta ngự trong nơi cao và thánh, với người có lòng ăn năn đau đớn và khiêm nhường, đặng làm tươi tỉnh thần linh của những kẻ khiêm nhường, và làm tươi tỉnh lòng người ăn năn đau đớn.” Ê-sai 57:15. DA 300.1
“Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được yên ủi!” Bằng những lời này Đấng Christ không dạy rằng sự than khóc tự nó có quyền lực cất bỏ tội lỗi. Ngài không tán thành sự giả vờ hay sự khiêm nhường tự ý. Sự than khóc mà Ngài nói đến không cốt ở sự sầu muộn và rên rỉ. Trong khi chúng ta đau buồn vì cớ tội lỗi, chúng ta phải vui mừng trong đặc ân quý báu được làm con cái Đức Chúa Trời. DA 300.2
Chúng ta thường đau buồn vì những việc ác của chúng ta đem lại những hậu quả khó chịu cho chính mình; nhưng đó không phải là sự ăn năn. Sự đau buồn thật về tội lỗi là kết quả của công việc của Đức Thánh Linh. Đức Thánh Linh tỏ ra sự vô ơn của tấm lòng đã khinh dể và làm buồn lòng Đấng Cứu Thế, và đem chúng ta đến chân thập tự giá trong sự ăn năn thống hối. Bởi mỗi tội lỗi, Đức Chúa Giê-su lại bị tổn thương thêm; và khi chúng ta ngước nhìn Đấng mà chúng ta đã đâm, chúng ta than khóc cho những tội lỗi đã đem sự đau đớn đến cho Ngài. Sự than khóc như vậy sẽ dẫn đến sự từ bỏ tội lỗi. DA 300.3
Người thế gian có thể cho rằng sự đau buồn này là một sự yếu đuối; nhưng đó là sức mạnh ràng buộc người ăn năn với Đấng Vô Cùng bằng những mối dây không thể bị bẻ gãy. Nó cho thấy rằng các thiên sứ của Đức Chúa Trời đang đem trở lại cho linh hồn những ân điển đã bị mất vì cớ lòng cứng cỏi và sự vi phạm. Những giọt nước mắt của người ăn năn chỉ là những hạt mưa đi trước ánh nắng của sự thánh khiết. Sự đau buồn này báo trước một niềm vui sẽ là nguồn suối sống trong linh hồn. “Chỉ một điều, là ngươi phải nhận lỗi mình: ngươi đã phạm tội nghịch cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi;” “và ta sẽ không lấy nét mặt giận nhìn ngươi đâu, vì ta hay thương xót; Đức Giê-hô-va phán vậy.” Giê-rê-mi 3:13, 12. “Cho những kẻ buồn rầu ở Si-ôn,” Ngài đã định ban cho “mão hoa thay vì tro bụi, dầu vui mừng thay vì tang chế, áo ngợi khen thay vì lòng nặng nề.” Ê-sai 61:3. DA 300.4
Và đối với những người đang than khóc trong cơn thử thách và đau buồn, cũng có sự an ủi. Sự cay đắng của nỗi sầu khổ và sự sỉ nhục còn tốt hơn những thú vui của tội lỗi. Qua hoạn nạn, Đức Chúa Trời tỏ cho chúng ta thấy những vết ung nhọt trong tánh hạnh của mình, hầu cho nhờ ân điển của Ngài, chúng ta có thể chiến thắng những lỗi lầm của mình. Những chương chưa được biết đến về chính bản thân chúng ta được mở ra cho chúng ta, và sự thử nghiệm đến, xem chúng ta có chấp nhận lời quở trách và lời khuyên răn của Đức Chúa Trời hay không. Khi bị đưa vào sự thử thách, chúng ta không nên bực bội và than phiền. Chúng ta không nên nổi loạn, hay tự lo lắng để thoát khỏi bàn tay của Đấng Christ. Chúng ta phải hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời. Đường lối của Chúa là tối tăm đối với kẻ ham muốn nhìn thấy mọi sự theo cách đẹp lòng mình. Chúng dường như tối tăm và buồn bã đối với bản tánh con người của chúng ta. Nhưng đường lối của Đức Chúa Trời là đường lối của lòng thương xót, và cuối cùng là sự cứu rỗi. Ê-li không biết mình đang làm gì khi ở nơi đồng vắng ông nói rằng đã chán sống, và cầu xin được chết. Chúa trong lòng thương xót của Ngài đã không nhận lời ông theo như lời ông nói. Vẫn còn một công việc lớn lao cho Ê-li làm; và khi công việc của ông hoàn tất, ông không phải bỏ mạng trong sự ngã lòng và cô đơn nơi hoang mạc. Không phải là sự sa xuống bụi đất của sự chết dành cho ông, mà là sự thăng lên trong vinh hiển, với đoàn xe ngựa thiên thượng hộ tống, đến ngôi cao trên trời. DA 301.1
Lời của Đức Chúa Trời dành cho người sầu khổ là,
“Ta đã xem thấy đường lối nó, ta sẽ chữa lành cho; sẽ dắt đưa và thưởng cho nó sự yên ủi, cùng cho những kẻ lo buồn với nó.” (Ê-sai 57:18)
“Bấy giờ gái đồng trinh sẽ vui mừng nhảy múa, các người trai trẻ và các ông già cũng sẽ vui chung; vì ta sẽ đổi sự sầu thảm chúng nó ra vui mừng, yên ủi chúng nó, khiến được hớn hở khỏi buồn rầu.” (Giê-rê-mi 31:13)
DA 301.2
“Phước cho những kẻ nhu mì.” Những khó khăn mà chúng ta phải đương đầu có thể được giảm bớt rất nhiều nhờ sự nhu mì biết ẩn mình trong Đấng Christ. Nếu chúng ta có sự khiêm nhường của Thầy mình, chúng ta sẽ vượt lên trên những sự khinh dể, những sự cự tuyệt, những điều phiền nhiễu mà chúng ta hằng ngày phải gặp, và chúng sẽ thôi gieo bóng tối lên tâm linh. Bằng chứng cao quý nhất về sự cao thượng nơi một Cơ-đốc nhân là sự tự chủ. Người nào dưới sự lăng nhục hay tàn ác mà không giữ được một tâm linh bình tĩnh và đầy lòng tin cậy thì cướp đi quyền của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong người ấy sự trọn vẹn của tánh hạnh Ngài. Sự hạ mình trong lòng là sức mạnh đem lại chiến thắng cho những kẻ theo Đấng Christ; đó là dấu hiệu của mối liên hệ giữa họ với chốn cung đình trên cao. DA 301.3
“Dầu Đức Giê-hô-va cao cả, thì cũng đoái đến những người hèn hạ; Còn kẻ kiêu ngạo, Ngài nhận biết từ xa.” (Thi-thiên 138:6)
Những ai bày tỏ tâm linh nhu mì và khiêm nhường của Đấng Christ thì được Đức Chúa Trời chăm sóc cách dịu dàng. Họ có thể bị thế gian nhìn với sự khinh dể, nhưng họ rất có giá trị trước mắt Ngài. Không phải chỉ những kẻ khôn ngoan, lớn lao, hay nhân từ mới được giấy thông hành vào chốn cung đình thiên thượng; không phải chỉ những người lao động bận rộn, đầy nhiệt thành và hoạt động không ngừng. Không; những người có lòng nghèo khó, khao khát sự hiện diện thường trực của Đấng Christ, những người khiêm nhường trong lòng, mà tham vọng cao nhất là làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời, — những người ấy sẽ được vào cách dư dật. Họ sẽ ở trong số những người đã giặt áo mình và phiếu trắng áo ấy trong huyết Chiên Con.
“Ấy vì đó mà chúng được ở trước ngôi Đức Chúa Trời, và ngày đêm hầu việc Ngài trong đền Ngài; còn Đấng ngồi trên ngôi sẽ che chở chúng dưới trại Ngài.” (Khải-huyền 7:15)
DA 301.4
“Phước cho những kẻ đói khát sự công bình.” Ý thức về sự bất xứng sẽ khiến tấm lòng đói khát sự công bình, và ước ao này sẽ không phải thất vọng. Những ai dành chỗ trong lòng mình cho Đức Chúa Giê-su sẽ nhận biết tình yêu thương của Ngài. Tất cả những ai khao khát mang hình ảnh tánh hạnh của Đức Chúa Trời sẽ được thỏa nguyện. Đức Thánh Linh không bao giờ để linh hồn đang trông đợi nơi Đức Chúa Giê-su mà không được giúp đỡ. Ngài lấy những điều của Đấng Christ mà bày tỏ cho người ấy. Nếu mắt được giữ chăm chú nơi Đấng Christ, thì công việc của Đức Thánh Linh sẽ không ngừng cho đến khi linh hồn được biến đổi theo hình ảnh Ngài. Yếu tố tinh khiết của tình yêu thương sẽ mở rộng linh hồn, ban cho nó khả năng đạt tới những tầm cao hơn, để hiểu biết thêm về những điều thiên thượng, hầu cho nó sẽ không ngừng nghỉ cho đến khi đạt được sự trọn vẹn. “Phước cho những kẻ đói khát sự công bình, vì sẽ được no đủ.” DA 302.1
Kẻ hay thương xót sẽ tìm được lòng thương xót, và kẻ có lòng trong sạch sẽ thấy Đức Chúa Trời. Mỗi ý tưởng ô uế làm bẩn linh hồn, làm suy yếu ý thức đạo đức, và có khuynh hướng xóa bỏ những dấu ấn của Đức Thánh Linh. Nó làm mờ tầm nhìn thuộc linh, đến nỗi con người không thể chiêm ngưỡng Đức Chúa Trời. Chúa có thể và quả thật tha thứ cho kẻ tội nhân ăn năn; nhưng dù được tha thứ, linh hồn vẫn bị tổn thương. Mọi sự ô uế trong lời nói hay tư tưởng đều phải được tránh bỏ bởi người muốn có sự nhận thức rõ ràng về lẽ thật thuộc linh. DA 302.2
Nhưng những lời của Đấng Christ bao hàm nhiều hơn là sự thoát khỏi sự ô uế xác thịt, nhiều hơn là sự thoát khỏi sự ô uế nghi lễ mà người Do Thái tránh xa cách nghiêm nhặt. Tánh ích kỷ ngăn trở chúng ta chiêm ngưỡng Đức Chúa Trời. Tâm linh tìm kiếm bản thân xét đoán Đức Chúa Trời như thể Ngài hoàn toàn giống như chính nó. Cho đến khi chúng ta từ bỏ điều này, chúng ta không thể hiểu được Đấng vốn là tình yêu thương. Chỉ tấm lòng vô kỷ, tâm linh khiêm nhường và đầy lòng tin cậy, mới thấy được Đức Chúa Trời là “hay thương xót và làm ơn, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và thành thực.” Xuất Ê-díp-tô Ký 34:6. DA 302.3
“Phước cho những kẻ làm cho người hòa thuận.” Sự bình an của Đấng Christ phát sinh từ lẽ thật. Đó là sự hòa hợp với Đức Chúa Trời. Thế gian thù nghịch với luật pháp Đức Chúa Trời; kẻ tội nhân thù nghịch với Đấng Tạo Hóa của mình; và kết quả là họ thù nghịch lẫn nhau. Nhưng tác giả Thi Thiên tuyên bố,
“Phàm kẻ nào yêu mến luật pháp Chúa được bình yên lớn; Chẳng có sự gì gây cho họ sa ngã.” (Thi-thiên 119:165)
Con người không thể chế tạo ra sự bình an. Những kế hoạch của loài người để làm tinh sạch và nâng cao cá nhân hay xã hội sẽ thất bại trong việc tạo ra sự bình an, vì chúng không chạm đến tấm lòng. Năng lực duy nhất có thể tạo nên hay duy trì sự bình an chân thật là ân điển của Đấng Christ. Khi điều này được gieo trong lòng, nó sẽ đuổi ra những dục vọng xấu xa gây nên sự tranh đấu và bất hòa. “Thay vì bụi gai sẽ mọc lên cây tùng; thay vì cây gai sẽ mọc lên cây sim;” và đồng vắng của cuộc đời “sẽ vui vẻ và trổ hoa như bông hường.” Ê-sai 55:13; 35:1. DA 302.4
Đoàn dân đông kinh ngạc về lời giảng dạy này, là điều trái ngược biết bao với những giới luật và tấm gương của người Pha-ri-si. Dân chúng đã đi đến chỗ nghĩ rằng hạnh phúc nằm trong sự sở hữu những vật của thế gian này, và rằng danh tiếng cùng vinh dự của loài người là điều rất đáng ao ước. Được gọi là “Ra-bi,” và được tôn xưng là khôn ngoan và sùng đạo, được phô bày những đức hạnh của mình trước công chúng, là điều rất vui thích. Điều này được xem là mão miện của hạnh phúc. Nhưng trước sự hiện diện của đám đông to lớn ấy, Đức Chúa Giê-su tuyên bố rằng lợi lộc và vinh dự trần gian là tất cả phần thưởng mà những người như vậy sẽ nhận được. Ngài phán cách chắc chắn, và một quyền năng đầy thuyết phục theo cùng lời Ngài. Dân chúng nín lặng, và một cảm giác sợ hãi len lỏi trong họ. Họ nhìn nhau cách hồ nghi. Ai trong họ sẽ được cứu nếu lời giảng dạy của Người này là thật? Nhiều người được cáo trách rằng Vị Thầy phi thường này được Thánh Linh của Đức Chúa Trời thúc đẩy, và rằng những điều Ngài phán ra là thiêng liêng. DA 305.1
Sau khi giải thích điều gì cấu thành hạnh phúc chân thật, và làm thế nào để đạt được điều đó, Đức Chúa Giê-su chỉ ra cách rõ ràng hơn bổn phận của các môn đồ Ngài, là những người dạy dỗ được Đức Chúa Trời chọn để dẫn dắt người khác vào con đường công bình và sự sống đời đời. Ngài biết rằng họ sẽ thường chịu khổ vì thất vọng và ngã lòng, rằng họ sẽ gặp sự chống đối quyết liệt, rằng họ sẽ bị sỉ nhục, và lời chứng của họ bị chối bỏ. Ngài biết rõ rằng trong việc hoàn thành sứ mạng của họ, những con người khiêm nhường đang chăm chú lắng nghe lời Ngài sẽ phải chịu sự vu khống, tra tấn, tù đày, và sự chết, và Ngài tiếp tục: DA 305.2
“Phước cho những kẻ chịu bắt bớ vì sự công bình, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy! Khi nào vì cớ ta mà người ta mắng nhiếc, bắt bớ, và lấy mọi điều dữ nói vu cho các ngươi, thì các ngươi sẽ được phước. Hãy vui vẻ, và nức lòng mừng rỡ, vì phần thưởng các ngươi ở trên trời sẽ lớn lắm; bởi vì người ta cũng từng bắt bớ các đấng tiên tri trước các ngươi như vậy.” (Ma-thi-ơ 5:10-12)
DA 305.3
Thế gian yêu tội lỗi, và ghét sự công bình, và đây là nguyên nhân của sự thù nghịch nó dành cho Đức Chúa Giê-su. Tất cả những ai chối bỏ tình yêu thương vô hạn của Ngài sẽ thấy Cơ-đốc Giáo là một yếu tố gây xáo trộn. Ánh sáng của Đấng Christ quét sạch bóng tối che phủ tội lỗi của họ, và nhu cầu cải cách được tỏ ra. Trong khi những người chịu đầu phục ảnh hưởng của Đức Thánh Linh bắt đầu chiến đấu với chính mình, thì những kẻ bám lấy tội lỗi lại chiến đấu chống lại lẽ thật và những người đại diện cho lẽ thật. DA 306.1
Như vậy, sự tranh chấp nảy sinh, và những người theo Đấng Christ bị tố cáo là kẻ gây rối cho dân chúng. Nhưng chính sự thông công với Đức Chúa Trời đã đem lại cho họ sự thù ghét của thế gian. Họ đang mang lấy sự sỉ nhục của Đấng Christ. Họ đang bước đi trên con đường mà những người cao quý nhất của thế gian đã từng bước qua. Họ phải đối diện với sự bắt bớ không phải với nỗi buồn, mà với niềm vui mừng. Mỗi thử thách cay đắng là công cụ của Đức Chúa Trời để tinh luyện họ. Mỗi thử thách chuẩn bị họ cho công việc với tư cách là người đồng lao động với Ngài. Mỗi cuộc xung đột đều có vị trí của nó trong cuộc chiến lớn cho sự công bình, và mỗi cuộc xung đột sẽ làm tăng thêm niềm vui trong chiến thắng cuối cùng của họ. Nhìn theo cách đó, sự thử thách đức tin và lòng kiên nhẫn của họ sẽ được vui vẻ tiếp nhận thay vì bị sợ hãi và lảng tránh. Lo lắng để chu toàn bổn phận của mình đối với thế gian, đặt lòng mong ước nơi sự chấp thuận của Đức Chúa Trời, các tôi tớ Ngài phải làm trọn mọi nhiệm vụ, bất kể sự sợ hãi hay sự ưu ái của loài người. DA 306.2
“Các ngươi là muối của đất,” Đức Chúa Giê-su phán. Đừng rút lui khỏi thế gian để trốn tránh sự bắt bớ. Các ngươi phải ở giữa loài người, để hương vị của tình yêu thiêng liêng có thể như muối gìn giữ thế gian khỏi sự hư hỏng. DA 306.3
Những tấm lòng đáp ứng với sự tác động của Đức Thánh Linh là những kênh dẫn mà qua đó ơn phước của Đức Chúa Trời tuôn chảy. Nếu những người phục vụ Đức Chúa Trời bị cất khỏi mặt đất, và Thần của Ngài bị rút khỏi loài người, thì thế gian này sẽ bị bỏ lại trong cảnh hoang tàn và hủy diệt, là kết quả của quyền thống trị của Sa-tan. Dù kẻ ác không biết điều đó, nhưng ngay cả những ơn phước của đời sống này họ cũng nợ sự hiện diện trong thế gian của dân Đức Chúa Trời, là những người mà họ khinh dể và áp bức. Nhưng nếu những người Cơ-đốc chỉ là Cơ-đốc trên danh nghĩa mà thôi, thì họ giống như muối đã mất hương vị. Họ không có ảnh hưởng tốt lành nào trong thế gian. Qua việc xuyên tạc Đức Chúa Trời, họ còn tệ hơn cả những kẻ chẳng tin. DA 306.4
“Các ngươi là sự sáng của thế gian.” Người Do Thái tưởng có thể giới hạn các phước lành của sự cứu rỗi trong dân tộc mình; nhưng Đấng Christ cho họ thấy rằng sự cứu rỗi giống như ánh nắng mặt trời. Nó thuộc về cả thế gian. Tôn giáo của Kinh Thánh không nên bị giới hạn giữa những trang sách, cũng không nên ở trong những bức tường của Hội Thánh. Nó không phải để thỉnh thoảng được đem ra vì lợi ích của riêng chúng ta, rồi lại được cẩn thận cất đi. Nó phải thánh hóa đời sống hằng ngày, phải bày tỏ chính mình trong mỗi giao dịch làm ăn và trong tất cả các mối quan hệ xã hội của chúng ta. DA 306.5
Phẩm cách chân thật không được hình thành từ bên ngoài rồi khoác lên; nó tỏa sáng từ bên trong. Nếu chúng ta muốn hướng dẫn người khác trên con đường công bình, thì các nguyên tắc của sự công bình phải được trân giữ trong chính tấm lòng chúng ta. Sự xưng nhận đức tin của chúng ta có thể tuyên bố lý thuyết của tôn giáo, nhưng chính lòng tin kính thực hành của chúng ta mới giương cao lời chân lý. Đời sống nhất quán, cuộc trò chuyện thánh khiết, sự chính trực không lay chuyển, tinh thần năng động và nhân từ, gương mẫu tin kính—đây là những phương tiện mà qua đó sự sáng được truyền đến thế gian. DA 307.1
Đức Chúa Giê-su không nhấn mạnh đến những chi tiết của luật pháp, nhưng Ngài cũng không để cho người nghe kết luận rằng Ngài đã đến để bãi bỏ những đòi hỏi của luật pháp. Ngài biết rằng những kẻ do thám đang sẵn sàng chộp lấy mỗi lời nói có thể bị xuyên tạc để phục vụ mục đích của họ. Ngài biết định kiến tồn tại trong tâm trí của nhiều người nghe, và Ngài không nói điều gì làm lung lay đức tin của họ nơi tôn giáo và các thể chế đã được truyền lại cho họ qua Môi-se. Chính Đấng Christ đã ban cả luật pháp đạo đức lẫn luật pháp nghi lễ. Ngài không đến để hủy diệt niềm tin nơi sự dạy dỗ của chính Ngài. Chính vì lòng tôn kính lớn lao của Ngài đối với luật pháp và các tiên tri mà Ngài tìm cách phá vỡ bức tường của những đòi hỏi truyền thống đã bao vây người Do Thái. Trong khi Ngài gạt bỏ những cách giải thích sai lầm của họ về luật pháp, Ngài cẩn thận bảo vệ các môn đồ Ngài khỏi việc từ bỏ những chân lý trọng yếu đã được giao phó cho người Hê-bơ-rơ. DA 307.2
Người Pha-ri-si tự hào về sự vâng giữ luật pháp của họ; nhưng họ biết quá ít về các nguyên tắc của luật pháp qua thực hành hằng ngày đến nỗi đối với họ những lời của Đấng Cứu Thế nghe như là tà giáo. Khi Ngài quét sạch đống rác mà chân lý đã bị chôn vùi bên dưới, họ tưởng Ngài đang quét sạch chính chân lý. Họ thì thầm với nhau rằng Ngài đang xem thường luật pháp. Ngài đọc thấu tư tưởng của họ, và đáp lại họ rằng— DA 307.3
“Đừng tưởng ta đến đặng phá luật pháp hay là lời tiên tri: ta đến không phải để phá, song để làm cho trọn.” Tại đây Đức Chúa Giê-su bác bỏ lời cáo buộc của người Pha-ri-si. Sứ mạng của Ngài đối với thế gian là biện minh cho những đòi hỏi thiêng liêng của luật pháp mà họ cáo buộc Ngài đã phá vỡ. Nếu luật pháp của Đức Chúa Trời có thể bị thay đổi hay bãi bỏ, thì Đấng Christ đã không cần phải chịu hậu quả của sự vi phạm của chúng ta. Ngài đến để giải thích mối quan hệ của luật pháp đối với loài người, và để minh họa các điều răn của luật pháp bằng chính đời sống vâng phục của Ngài. DA 307.4
Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta những điều răn thánh khiết của Ngài, vì Ngài yêu thương nhân loại. Để che chở chúng ta khỏi hậu quả của sự vi phạm, Ngài bày tỏ các nguyên tắc của sự công bình. Luật pháp là sự biểu lộ tư tưởng của Đức Chúa Trời; khi được tiếp nhận trong Đấng Christ, nó trở thành tư tưởng của chúng ta. Nó nâng chúng ta lên trên quyền lực của những ham muốn và khuynh hướng tự nhiên, lên trên những cám dỗ dẫn đến tội lỗi. Đức Chúa Trời mong muốn chúng ta được hạnh phúc, và Ngài đã ban cho chúng ta các điều răn của luật pháp để trong khi vâng giữ chúng, chúng ta có được niềm vui. Khi vào lúc Đức Chúa Giê-su giáng sinh các thiên sứ ca hát rằng— DA 308.1
“Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao, Bình an dưới đất, ân trạch cho loài người!” (Lu-ca 2:14)
DA 308.2
thì họ đang công bố các nguyên tắc của luật pháp mà Ngài đã đến để tôn cao và làm cho vinh hiển. DA 308.3
Khi luật pháp được công bố từ núi Si-na-i, Đức Chúa Trời tỏ cho loài người biết sự thánh khiết của bản tánh Ngài, để qua sự tương phản họ có thể thấy được tội lỗi của chính mình. Luật pháp được ban cho để cáo trách họ về tội lỗi, và bày tỏ nhu cầu của họ về một Đấng Cứu Thế. Nó sẽ làm điều này khi các nguyên tắc của nó được Đức Thánh Linh áp dụng vào tấm lòng. Công việc này nó vẫn còn phải làm. Trong đời sống của Đấng Christ, các nguyên tắc của luật pháp được tỏ rõ; và khi Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời chạm đến tấm lòng, khi sự sáng của Đấng Christ bày tỏ cho loài người nhu cầu của họ về huyết tẩy sạch của Ngài và sự công bình xưng nghĩa của Ngài, thì luật pháp vẫn là một tác nhân đem chúng ta đến với Đấng Christ, để chúng ta được xưng công bình bởi đức tin. “Luật pháp của Đức Giê-hô-va là trọn vẹn, bổ linh hồn lại.” Thi thiên 19:7. DA 308.4
“Cho đến khi trời đất qua đi,” Đức Chúa Giê-su phán, “một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được, cho đến khi mọi sự được trọn.” Mặt trời chiếu sáng trên các từng trời, mặt đất vững chắc mà các ngươi đang sống, là những chứng nhân của Đức Chúa Trời rằng luật pháp Ngài là không thay đổi và đời đời. Dù chúng có thể qua đi, các điều răn thiêng liêng vẫn sẽ tồn tại. “Trời đất qua đi còn dễ hơn một nét chữ trong luật pháp phải bỏ đi.” Lu-ca 16:17. Hệ thống các hình bóng chỉ về Đức Chúa Giê-su là Chiên Con của Đức Chúa Trời sẽ bị bãi bỏ khi Ngài chịu chết; nhưng các điều răn của Mười Điều Răn thì bất biến như ngôi của Đức Chúa Trời. DA 308.5
Vì “luật pháp của Đức Giê-hô-va là trọn vẹn,” nên mọi sự sai lệch khỏi nó đều phải là điều ác. Những kẻ bất tuân các điều răn của Đức Chúa Trời, và dạy người khác làm như vậy, đều bị Đấng Christ kết tội. Đời sống vâng phục của Đấng Cứu Thế đã duy trì những đòi hỏi của luật pháp; nó chứng minh rằng luật pháp có thể được vâng giữ trong nhân tính, và bày tỏ phẩm cách tuyệt hảo mà sự vâng phục sẽ phát triển. Tất cả những ai vâng phục như Ngài đã làm thì cũng đang tuyên bố rằng luật pháp là “thánh, công bình và tốt lành.” Rô-ma 7:12. Mặt khác, tất cả những ai vi phạm các điều răn của Đức Chúa Trời thì đang ủng hộ lời tuyên bố của Sa-tan rằng luật pháp là bất công và không thể vâng giữ được. Như vậy họ tiếp tay cho những sự lừa dối của kẻ thù lớn, và đem sự sỉ nhục đến cho Đức Chúa Trời. Họ là con cái của kẻ ác, là kẻ đầu tiên nổi loạn chống lại luật pháp của Đức Chúa Trời. Cho phép họ vào thiên đàng sẽ lại đem vào những yếu tố của sự bất hòa và nổi loạn, và đe dọa sự an lành của cả vũ trụ. Không một người nào cố ý xem thường một nguyên tắc của luật pháp sẽ được vào nước thiên đàng. DA 308.6
Các thầy thông giáo xem sự công bình của họ như là tấm vé thông hành vào thiên đàng; nhưng Đức Chúa Giê-su tuyên bố nó là không đủ và không xứng đáng. Những nghi lễ bề ngoài và sự hiểu biết lý thuyết về chân lý cấu thành nên sự công bình của người Pha-ri-si. Các thầy thông giáo cho rằng họ là thánh khiết qua những nỗ lực của chính họ trong việc vâng giữ luật pháp; nhưng những việc làm của họ đã tách rời sự công bình khỏi tôn giáo. Trong khi họ tỉ mỉ trong việc tuân giữ các nghi lễ, thì đời sống của họ lại vô luân và thấp hèn. Cái gọi là sự công bình của họ không bao giờ có thể vào được nước thiên đàng. DA 309.1
Sự lừa dối lớn nhất của trí óc con người trong thời Đấng Christ là cho rằng chỉ cần đồng ý với lẽ thật là đã có được sự công bình. Trong mọi kinh nghiệm của con người, một sự hiểu biết lẽ thật về mặt lý thuyết đã được chứng tỏ là không đủ để cứu rỗi linh hồn. Nó không sanh ra các trái của sự công bình. Sự quan tâm đầy ganh tị đối với cái gọi là lẽ thật thần học thường đi kèm với lòng thù ghét lẽ thật chân chính được biểu lộ trong đời sống. Những trang sử đen tối nhất chất nặng những ghi chép về các tội ác do những kẻ cuồng tín tôn giáo phạm phải. Người Pha-ri-si tự nhận mình là con cháu của Áp-ra-ham, và khoe khoang rằng họ nắm giữ những lời phán của Đức Chúa Trời; thế nhưng những lợi thế ấy đã không gìn giữ họ khỏi tánh ích kỷ, lòng hiểm độc, sự tham lam của cải, và thói đạo đức giả đê hèn nhất. Họ tự cho mình là những người sùng đạo nhất thế gian, nhưng cái gọi là chánh thống của họ đã dẫn họ đến chỗ đóng đinh Chúa của sự vinh hiển. DA 309.2
Mối nguy hiểm ấy vẫn còn tồn tại. Nhiều người mặc nhiên cho rằng mình là Cơ-đốc nhân, chỉ đơn giản vì họ tán thành một số tín điều thần học nào đó. Nhưng họ đã không đem lẽ thật vào trong đời sống thực tiễn. Họ đã không tin và yêu mến lẽ thật, vì vậy họ đã không nhận được quyền năng và ân điển đến qua sự nên thánh bởi lẽ thật. Người ta có thể tuyên xưng đức tin nơi lẽ thật; nhưng nếu lẽ thật ấy không khiến họ trở nên chân thành, nhân từ, kiên nhẫn, nhịn nhục, và có tâm trí hướng về thiên thượng, thì nó là một sự rủa sả cho người sở hữu nó, và qua ảnh hưởng của họ, nó trở thành một sự rủa sả cho thế gian. DA 309.3
Sự công bình mà Đấng Christ dạy dỗ là sự phù hợp của tấm lòng và đời sống với ý muốn đã được bày tỏ của Đức Chúa Trời. Những con người tội lỗi chỉ có thể trở nên công bình khi họ có đức tin nơi Đức Chúa Trời và duy trì một mối liên kết sống động với Ngài. Bấy giờ lòng tin kính chân thật sẽ nâng cao tư tưởng và làm cao quý đời sống. Bấy giờ các hình thức bề ngoài của tôn giáo sẽ hòa hợp với sự thanh sạch bên trong của Cơ-đốc nhân. Bấy giờ những nghi lễ đòi hỏi trong sự thờ phượng Đức Chúa Trời sẽ không còn là những nghi thức vô nghĩa, như những nghi thức của người Pha-ri-si đạo đức giả. DA 310.1
Đức Chúa Giê-su lần lượt đề cập đến từng điều răn, và giải thích chiều sâu cùng chiều rộng những yêu cầu của chúng. Thay vì giảm bớt một chấm nào trong hiệu lực của chúng, Ngài chỉ ra các nguyên tắc của chúng sâu rộng đến nhường nào, và phơi bày sai lầm chí tử của người Do Thái trong sự vâng phục phô bày bề ngoài của họ. Ngài tuyên bố rằng bởi tư tưởng gian ác hoặc cái nhìn dục vọng, luật pháp Đức Chúa Trời bị vi phạm. Người nào dự phần vào sự bất công nhỏ nhất là đang phá vỡ luật pháp và làm suy đồi chính bản tánh đạo đức của mình. Sự giết người trước tiên hiện hữu trong tâm trí. Kẻ nào để lòng thù ghét chiếm chỗ trong tấm lòng mình là đang đặt chân vào con đường của kẻ sát nhân, và của lễ của người ấy là điều ghê tởm đối với Đức Chúa Trời. DA 310.2
Người Do Thái nuôi dưỡng tinh thần báo thù. Trong lòng thù ghét người La-mã, họ thốt ra những lời lên án gay gắt, và làm vui lòng kẻ ác bằng cách biểu lộ các đặc tính của hắn. Như vậy họ đang tự rèn luyện mình để thực hiện những hành động khủng khiếp mà hắn dẫn dắt họ đến. Trong đời sống tôn giáo của người Pha-ri-si chẳng có gì khiến lòng đạo đức trở nên đáng quý đối với dân ngoại. Đức Chúa Giê-su truyền bảo họ chớ tự lừa dối mình với ý tưởng rằng trong lòng họ có thể nổi dậy chống lại những kẻ áp bức mình, và ấp ủ lòng khao khát trả thù những điều sai trái họ phải chịu. DA 310.3
Thật vậy, có một sự phẫn nộ chính đáng, ngay cả nơi những người theo Đấng Christ. Khi họ thấy Đức Chúa Trời bị xúc phạm, và sự thờ phượng Ngài bị mang tiếng xấu, khi họ thấy người vô tội bị áp bức, thì một sự phẫn nộ công bình dấy động linh hồn. Sự giận dữ như vậy, sanh ra từ một đạo đức nhạy bén, không phải là tội lỗi. Nhưng những kẻ cảm thấy được tự do buông thả cơn giận hoặc lòng oán hận trước bất cứ sự khích động được cho là nào, thì đang mở lòng mình ra cho Sa-tan. Sự cay đắng và lòng thù hằn phải bị trục xuất khỏi linh hồn nếu chúng ta muốn hòa hợp với thiên đàng. DA 310.4
Đấng Cứu Thế còn đi xa hơn thế nữa. Ngài phán: “Ấy vậy, nếu khi nào ngươi đem dâng của lễ nơi bàn thờ, mà nhớ lại anh em có điều gì nghịch cùng mình, thì hãy để của lễ trước bàn thờ, trở về giảng hòa với anh em trước đã; rồi hãy đến dâng của lễ.” Nhiều người sốt sắng trong sự thờ phượng, trong khi giữa họ và anh em mình tồn tại những bất đồng không vui mà lẽ ra họ có thể giải hòa. Đức Chúa Trời đòi hỏi họ phải làm hết sức mình để khôi phục sự hòa thuận. Cho đến khi họ làm điều này, Ngài không thể chấp nhận sự thờ phượng của họ. Bổn phận của Cơ-đốc nhân trong vấn đề này được chỉ ra cách rõ ràng. DA 310.5
Đức Chúa Trời đổ phước lành Ngài xuống trên hết thảy.
“hầu cho các ngươi được làm con của Cha các ngươi ở trên trời; bởi vì Ngài khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác.” (Ma-thi-ơ 5:45)
Ngài “nhân từ với kẻ vô ơn và kẻ độc ác.” Lu-ca 6:35. Ngài truyền bảo chúng ta hãy giống như Ngài. Đức Chúa Giê-su phán:
“Song ta nói cùng các ngươi rằng: Hãy yêu kẻ thù nghịch, và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi, hầu cho các ngươi được làm con của Cha các ngươi ở trên trời; bởi vì Ngài khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác.” (Ma-thi-ơ 5:44-45)
Đây là những nguyên tắc của luật pháp, và chúng là những suối nguồn của sự sống. DA 311.1
Lý tưởng của Đức Chúa Trời dành cho con cái Ngài cao hơn tư tưởng cao nhất mà loài người có thể với tới.
“Thế thì các ngươi hãy nên trọn vẹn, như Cha các ngươi ở trên trời là trọn vẹn.” (Ma-thi-ơ 5:48)
Mạng lịnh này là một lời hứa. Kế hoạch cứu chuộc dự liệu sự phục hồi trọn vẹn của chúng ta khỏi quyền lực của Sa-tan. Đấng Christ luôn tách rời linh hồn ăn năn khỏi tội lỗi. Ngài đến để hủy phá công việc của ma quỷ, và Ngài đã sắm sẵn để Đức Thánh Linh được ban cho mỗi linh hồn ăn năn, hầu gìn giữ người ấy khỏi phạm tội. DA 311.2
Sự xúi giục của kẻ cám dỗ không được coi là cái cớ cho một hành động sai trái nào. Sa-tan vui mừng hớn hở khi nghe những người tự xưng theo Đấng Christ kiếm cớ bào chữa cho khiếm khuyết của tánh nết mình. Chính những cái cớ này dẫn đến tội lỗi. Không có cái cớ nào cho việc phạm tội. Một tâm tánh thánh khiết, một đời sống giống Đấng Christ, là điều mà mỗi con cái ăn năn và tin cậy của Đức Chúa Trời đều có thể đạt được. DA 311.3
Lý tưởng của tánh nết Cơ-đốc là sự giống như Đấng Christ. Như Con Người đã trọn vẹn trong đời sống Ngài, thì những người theo Ngài cũng phải trọn vẹn trong đời sống của họ. Đức Chúa Giê-su trong mọi sự đã trở nên giống như anh em mình. Ngài trở nên xác thịt, như chúng ta vậy. Ngài đói, khát và mệt mỏi. Ngài được nuôi dưỡng bởi thức ăn và được tươi tỉnh bởi giấc ngủ. Ngài dự phần vào số phận của loài người; thế nhưng Ngài là Con Đức Chúa Trời không chỗ trách được. Ngài là Đức Chúa Trời trong xác thịt. Tánh nết của Ngài phải trở nên của chúng ta. Chúa phán về những kẻ tin nơi Ngài: “Ta sẽ ở và đi lại giữa họ; ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, và họ làm dân ta.” 2 Cô-rinh-tô 6:16. DA 311.4
Đấng Christ là cái thang mà Gia-cốp đã thấy, chân thang đặt trên mặt đất, và bậc cao nhất vươn tới cổng thiên đàng, đến tận ngưỡng cửa của sự vinh hiển. Nếu cái thang ấy thiếu đi một bậc để chạm tới mặt đất, hẳn chúng ta đã bị hư mất. Nhưng Đấng Christ đến với chúng ta ngay tại nơi chúng ta đang ở. Ngài đã mang lấy bản tánh của chúng ta và đắc thắng, hầu cho chúng ta nhờ mang lấy bản tánh của Ngài mà có thể đắc thắng. Được tạo nên “giống như xác thịt tội lỗi” (Rô-ma 8:3), Ngài đã sống một đời sống không tội lỗi. Nay bởi thần tánh của mình, Ngài nắm lấy ngôi thiên đàng, trong khi bởi nhân tánh của mình, Ngài vươn tới chúng ta. Ngài truyền bảo chúng ta bởi đức tin nơi Ngài mà đạt tới sự vinh hiển của tánh nết Đức Chúa Trời. Vì vậy chúng ta phải trọn vẹn, như “Cha các ngươi ở trên trời là trọn vẹn.” DA 311.5
Đức Chúa Giê-su đã chỉ ra sự công bình bao gồm những gì, và đã chỉ về Đức Chúa Trời là nguồn của nó. Bây giờ Ngài chuyển sang các bổn phận thực tiễn. Ngài phán, trong sự bố thí, trong sự cầu nguyện, trong sự kiêng ăn, chớ làm điều gì để thu hút sự chú ý hay tìm kiếm lời khen ngợi cho bản thân. Hãy cho cách chân thành, vì lợi ích của những người nghèo khổ đau thương. Trong sự cầu nguyện, hãy để linh hồn tương giao với Đức Chúa Trời. Trong sự kiêng ăn, chớ cúi đầu xuống, với tấm lòng đầy những ý tưởng về bản thân. Tấm lòng của người Pha-ri-si là một mảnh đất cằn cỗi và vô ích, nơi không có hạt giống nào của sự sống thiêng liêng có thể nảy nở. Chính kẻ dâng mình cách trọn vẹn nhất cho Đức Chúa Trời mới là người dâng lên Ngài sự thờ phượng đáng đẹp lòng nhất. Vì qua sự thông công với Đức Chúa Trời, con người trở nên những kẻ cùng làm việc với Ngài trong việc bày tỏ tánh nết Ngài nơi nhân loại. DA 312.1
Sự thờ phượng được dâng lên với tấm lòng chân thành có phần thưởng lớn lao. “Cha ngươi, là Đấng thấy trong chỗ kín nhiệm, sẽ thưởng cho ngươi.” Bởi đời sống mà chúng ta sống qua ân điển của Đấng Christ, tánh nết được hình thành. Vẻ đẹp nguyên thủy bắt đầu được phục hồi cho linh hồn. Các đặc tính của tánh nết Đấng Christ được ban cho, và hình ảnh của Đấng Thiêng Liêng bắt đầu tỏa sáng. Gương mặt của những người nam và người nữ bước đi và làm việc với Đức Chúa Trời biểu lộ sự bình an của thiên đàng. Họ được bao bọc bởi bầu không khí của thiên đàng. Đối với những linh hồn này, nước Đức Chúa Trời đã bắt đầu. Họ có niềm vui của Đấng Christ, niềm vui được làm một phước lành cho nhân loại. Họ có vinh dự được chấp nhận để Chủ sử dụng; họ được tin cậy để làm công việc của Ngài trong danh Ngài. DA 312.2
“Không ai có thể làm tôi hai chủ.” Chúng ta không thể phụng sự Đức Chúa Trời với một tấm lòng chia đôi. Tôn giáo của Kinh Thánh không phải là một ảnh hưởng giữa nhiều ảnh hưởng khác; ảnh hưởng của nó phải là tối thượng, thấm nhuần và chi phối mọi điều khác. Nó không giống như một vệt màu được quét đây đó trên tấm vải, nhưng nó phải thấm nhuần cả cuộc đời, như thể tấm vải được nhúng vào màu, cho đến khi mỗi sợi của tấm vải đều được nhuộm một sắc thái đậm đà, không phai. DA 312.3
“Vậy nếu mắt ngươi là sáng, thì cả thân thể ngươi sẽ được sáng láng; nhưng nếu mắt ngươi xấu, thì cả thân thể ngươi sẽ tối tăm.” Sự trong sạch và kiên định của mục đích là điều kiện để nhận ánh sáng từ Đức Chúa Trời. Người ham muốn biết lẽ thật phải sẵn lòng chấp nhận tất cả những gì lẽ thật bày tỏ. Người ấy không thể thỏa hiệp với sự sai lầm. Việc do dự và nửa vời trong lòng trung thành với lẽ thật chính là chọn lấy bóng tối của sự sai lầm và sự lừa dối của Sa-tan. DA 312.4
Chính sách thế gian và các nguyên tắc bất di bất dịch của sự công bình không hòa lẫn vào nhau một cách không thể nhận thấy, như những màu sắc của cầu vồng. Giữa hai điều ấy, Đức Chúa Trời đời đời đã vạch một ranh giới rộng và rõ ràng. Hình ảnh của Đấng Christ nổi bật khác biệt với hình ảnh của Sa-tan, như giữa trưa tương phản với nửa đêm. Và chỉ những ai sống cuộc đời của Đấng Christ mới là người cùng làm việc với Ngài. Nếu một tội lỗi được nuôi dưỡng trong linh hồn, hay một thói xấu được giữ lại trong đời sống, thì toàn bộ con người bị ô uế. Người ấy trở nên một công cụ của sự bất nghĩa. DA 313.1
Tất cả những ai đã chọn phụng sự Đức Chúa Trời đều phải an nghỉ trong sự chăm sóc của Ngài. Đấng Christ chỉ vào những con chim bay trên trời, vào những bông hoa ngoài đồng, và bảo những người nghe Ngài hãy ngắm xem những vật được Đức Chúa Trời tạo nên ấy. Ngài phán:
“Hãy xem loài chim trời: Chẳng có gieo, gặt, cũng chẳng có thâu trữ vào kho tàng, mà Cha các ngươi trên trời nuôi nó. Các ngươi há chẳng phải là quí trọng hơn loài chim sao?” (Ma-thi-ơ 6:26)
Mức độ chú ý thiêng liêng ban cho bất cứ vật nào đều tương xứng với cấp bậc của nó trong thang bậc của sự sống. Con chim sẻ nhỏ màu nâu được sự Quan phòng trông nom. Những bông hoa ngoài đồng, ngọn cỏ trải thảm trên đất, đều được Cha thiên thượng của chúng ta để ý và chăm sóc. Vị Nghệ Sĩ Bậc Thầy vĩ đại đã quan tâm đến hoa huệ, làm cho chúng đẹp đến nỗi rực rỡ hơn cả vinh hiển của Sa-lô-môn. Ngài chăm sóc con người, là hình ảnh và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, biết bao hơn nữa. Ngài khao khát thấy con cái Ngài bày tỏ một bản tánh giống như Ngài. Như tia nắng ban cho các bông hoa những sắc màu phong phú và tinh tế, thì Đức Chúa Trời cũng ban cho linh hồn vẻ đẹp của bản tánh Ngài. DA 313.2
Tất cả những ai chọn nước của tình yêu thương, sự công bình và bình an của Đấng Christ, đặt lợi ích của nước ấy trên hết mọi điều khác, đều được liên kết với thế giới bên trên, và mọi phước lành cần thiết cho đời này đều thuộc về họ. Trong sách về sự quan phòng của Đức Chúa Trời, là cuốn sách của sự sống, mỗi chúng ta được dành cho một trang. Trang ấy chứa đựng mọi chi tiết trong lịch sử của chúng ta; ngay cả tóc trên đầu cũng được đếm cả rồi. Con cái Đức Chúa Trời không bao giờ vắng khỏi tâm trí Ngài. DA 313.3
“Vậy, chớ lo lắng chi về ngày mai.” Chúng ta phải theo Đấng Christ từng ngày một. Đức Chúa Trời không ban sự giúp đỡ cho ngày mai. Ngài không ban cho con cái Ngài tất cả những chỉ dẫn cho hành trình cuộc đời cùng một lúc, kẻo họ trở nên bối rối. Ngài chỉ bảo họ những gì họ có thể nhớ và thực hiện được. Sức lực và sự khôn ngoan ban cho là dành cho nhu cầu cấp bách hiện tại. “Ví bằng trong anh em có kẻ kém khôn ngoan,” —cho ngày nay,— “hãy cầu xin Đức Chúa Trời, là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không trách móc ai, thì kẻ ấy sẽ được ban cho.” Gia-cơ 1:5. DA 313.4
“Các ngươi đừng đoán xét ai, để mình khỏi bị đoán xét.” Đừng nghĩ mình tốt hơn người khác và tự đặt mình làm quan xét họ. Vì bạn không thể phân biệt được động cơ, bạn không có khả năng đoán xét người khác. Khi chỉ trích người ấy, bạn đang tuyên án trên chính mình; vì bạn cho thấy mình là kẻ đồng lõa với Sa-tan, kẻ kiện cáo anh em. Chúa phán:
“Chính anh em hãy tự xét để xem mình có đức tin chăng. Hãy tự thử mình: Anh em há không nhận biết rằng có Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc ở trong anh em sao? Miễn là anh em không đáng bị bỏ.” (II Cô-rinh-tô 13:5)
Đây là việc của chúng ta.
“Nếu chúng ta biết xét đoán lấy mình, thì khỏi bị xét đoán.” (I Cô-rinh-tô 11:31)
DA 314.1
Cây tốt sẽ sanh trái tốt. Nếu trái khó ăn và vô giá trị, thì cây ấy là cây xấu. Cũng vậy, trái sanh ra trong đời sống làm chứng về tình trạng của tấm lòng và sự ưu việt của bản tánh. Các việc lành không bao giờ có thể mua được sự cứu rỗi, nhưng chúng là bằng chứng của đức tin hành động bởi tình yêu thương và làm tinh sạch linh hồn. Và dù phần thưởng đời đời không được ban cho vì công trạng của chúng ta, nhưng nó sẽ tương xứng với công việc đã được thực hiện qua ân điển của Đấng Christ. DA 314.2
Như vậy, Đấng Christ đã trình bày các nguyên tắc của nước Ngài, và cho thấy chúng là quy luật vĩ đại của đời sống. Để in sâu bài học, Ngài thêm một minh họa. Ngài phán, chỉ nghe lời Ta mà thôi thì chưa đủ. Bằng sự vâng lời, các ngươi phải lấy chúng làm nền tảng cho bản tánh mình. Bản ngã chỉ là cát lún. Nếu các ngươi xây trên những lý thuyết và phát minh của loài người, nhà các ngươi sẽ sụp đổ. Bởi những cơn gió của cám dỗ, những trận bão của thử thách, nó sẽ bị cuốn đi. Nhưng những nguyên tắc Ta đã ban sẽ bền vững. Hãy tiếp nhận Ta; hãy xây trên lời Ta. DA 314.3
“Vậy, kẻ nào nghe và làm theo lời ta phán đây, thì giống như một người khôn ngoan cất nhà mình trên vầng đá. Có mưa sa, nước chảy, gió lay, xô động nhà ấy; song không sập, vì đã cất trên đá.” (Ma-thi-ơ 7:24-25)
DA 314.4