“Ngài Lập Mười Hai Sứ Đồ”
Chương này dựa trên Mác 3:13-19; Lu-ca 6:12-16. DA 290.1
“Kế đó, Đức Chúa Giê-su lên trên núi, đòi những người Ngài muốn, thì những người ấy đến kề Ngài. Ngài bèn lập mười hai người, gọi là sứ đồ, để ở cùng Ngài và sai đi giảng đạo,” (Mác 3:13-14)
DA 290.2
Chính dưới bóng cây trên triền núi, cách Biển Ga-li-lê một quãng không xa, mười hai môn đồ đã được kêu gọi vào chức sứ đồ, và Bài Giảng Trên Núi đã được ban ra. Đồng ruộng và đồi núi là những nơi Đức Chúa Giê-su ưa lui tới, và phần lớn lời dạy dỗ của Ngài được ban ra dưới bầu trời rộng mở, hơn là trong đền thờ hay nhà hội. Không nhà hội nào có thể chứa được đám đông theo Ngài; nhưng không phải chỉ vì lý do ấy mà Ngài chọn dạy dỗ nơi đồng ruộng và rừng cây. Đức Chúa Giê-su yêu mến cảnh vật thiên nhiên. Đối với Ngài, mỗi nơi yên tĩnh đều là một đền thờ thiêng liêng. DA 290.3
Chính dưới bóng cây nơi vườn Ê-đen mà những cư dân đầu tiên trên đất đã chọn nơi thờ phượng của mình. Tại đó Đấng Christ đã thông công với tổ phụ loài người. Khi bị đuổi khỏi Địa Đàng, tổ phụ đầu tiên của chúng ta vẫn thờ phượng nơi đồng ruộng và rừng cây, và tại đó Đấng Christ đã gặp họ với tin lành về ân điển của Ngài. Chính Đấng Christ đã trò chuyện với Áp-ra-ham dưới những cây dẻ bộp tại Mam-rê; với Y-sác khi ông đi ra cầu nguyện ngoài đồng vào lúc chiều tà; với Gia-cốp trên triền đồi tại Bê-tên; với Môi-se giữa những ngọn núi xứ Ma-đi-an; và với cậu bé Đa-vít khi cậu chăn bầy chiên. Chính theo lệnh truyền của Đấng Christ mà suốt mười lăm thế kỷ, dân Hê-bơ-rơ đã rời nhà mỗi năm một tuần lễ, và trú ngụ trong những lều dựng bằng nhánh cây xanh “của cây tốt, tàu lá kè, nhánh cây rậm và cây dương liễu của khe.” Lê-vi Ký 23:40. DA 290.4
Trong việc huấn luyện các môn đồ, Đức Chúa Giê-su chọn rút lui khỏi sự náo loạn của thành phố để vào nơi yên tĩnh của đồng ruộng và đồi núi, vì điều ấy hài hòa hơn với những bài học về sự quên mình mà Ngài muốn dạy họ. Và trong suốt chức vụ của Ngài, Ngài thích quy tụ dân chúng quanh Ngài dưới bầu trời xanh, trên một triền đồi cỏ, hoặc trên bãi biển bên hồ. Tại đây, được bao quanh bởi những công trình do chính Ngài sáng tạo, Ngài có thể chuyển tư tưởng của người nghe từ những điều nhân tạo sang những điều tự nhiên. Trong sự sinh trưởng và phát triển của thiên nhiên đã bày tỏ những nguyên tắc của nước Ngài. Khi loài người ngước mắt nhìn lên các đồi núi của Đức Chúa Trời, và chiêm ngưỡng những công trình kỳ diệu của tay Ngài, họ có thể học được những bài học quý báu về chân lý thiên thượng. Lời dạy dỗ của Đấng Christ sẽ được lặp lại cho họ qua những điều trong thiên nhiên. Hết thảy những ai bước ra đồng ruộng với Đấng Christ trong lòng đều như vậy. Họ sẽ cảm thấy mình được bao quanh bởi một ảnh hưởng thánh khiết. Những điều của thiên nhiên tiếp nối các thí dụ của Chúa chúng ta, và lặp lại những lời khuyên dạy của Ngài. Bởi sự thông công với Đức Chúa Trời trong thiên nhiên, tâm trí được nâng cao, và tấm lòng tìm được sự yên nghỉ. DA 291.1
Bây giờ bước đầu tiên sắp được thực hiện trong việc tổ chức Hội Thánh, là điều sau khi Đấng Christ ra đi sẽ là đại diện của Ngài trên đất. Họ không có một đền thánh tốn kém nào trong tay, nhưng Đấng Cứu Thế đã dẫn các môn đồ đến nơi ẩn dật mà Ngài yêu mến, và trong tâm trí họ, những kinh nghiệm thánh khiết của ngày ấy mãi mãi gắn liền với vẻ đẹp của núi non, thung lũng và biển cả. DA 291.2
Đức Chúa Giê-su đã kêu gọi các môn đồ để Ngài có thể sai họ đi làm chứng nhân của Ngài, công bố cho thế gian những điều họ đã thấy và đã nghe về Ngài. Chức vụ của họ là chức vụ quan trọng nhất mà loài người từng được kêu gọi đến, chỉ đứng sau chức vụ của chính Đấng Christ mà thôi. Họ phải làm bạn cùng làm việc với Đức Chúa Trời để cứu rỗi thế gian. Như trong Cựu Ước mười hai tộc trưởng đứng làm đại diện của Y-sơ-ra-ên, thì mười hai sứ đồ cũng phải đứng làm đại diện của Hội Thánh tin lành. DA 291.3
Đấng Cứu Thế biết rõ tính cách của những người mà Ngài đã chọn; mọi sự yếu đuối và lỗi lầm của họ đều bày tỏ trước mặt Ngài; Ngài biết những hiểm nguy mà họ phải trải qua, trách nhiệm sẽ đặt trên họ; và lòng Ngài tha thiết yêu thương những kẻ được chọn này. Một mình trên ngọn núi gần Biển Ga-li-lê, Ngài đã dành trọn cả đêm để cầu nguyện cho họ, trong khi họ đang ngủ dưới chân núi. Khi ánh bình minh đầu tiên ló dạng, Ngài gọi họ đến gặp Ngài; vì Ngài có điều quan trọng muốn truyền đạt cho họ. DA 291.4
Những môn đồ này đã có một thời gian gắn bó với Đức Chúa Giê-su trong công việc tích cực. Giăng và Gia-cơ, Anh-rê và Phi-e-rơ, cùng với Phi-líp, Na-tha-na-ên, và Ma-thi-ơ, đã gắn bó mật thiết với Ngài hơn những người khác, và đã chứng kiến nhiều phép lạ của Ngài hơn. Phi-e-rơ, Gia-cơ, và Giăng có mối quan hệ còn gần gũi hơn với Ngài. Họ gần như luôn luôn ở bên Ngài, chứng kiến các phép lạ của Ngài, và nghe những lời của Ngài. Giăng tiến vào mối thân mật còn gần gũi hơn với Đức Chúa Giê-su, đến nỗi ông được phân biệt là người mà Đức Chúa Giê-su yêu. Đấng Cứu Thế yêu hết thảy họ, nhưng Giăng có tâm linh dễ tiếp nhận nhất. Ông trẻ hơn những người khác, và với lòng tin cậy phó thác như trẻ thơ, ông mở lòng mình ra cho Đức Chúa Giê-su. Nhờ vậy ông hòa hợp với Đấng Christ hơn, và qua ông, lời dạy dỗ thuộc linh sâu sắc nhất của Đấng Cứu Thế đã được truyền đạt cho dân Ngài. DA 292.1
Đứng đầu một trong các nhóm mà các sứ đồ được chia ra là tên của Phi-líp. Ông là môn đồ đầu tiên mà Đức Chúa Giê-su phán mệnh lệnh rõ ràng, “Hãy theo Ta.” Phi-líp người Bết-sai-đa, thành của Anh-rê và Phi-e-rơ. Ông đã lắng nghe lời dạy dỗ của Giăng Báp-tít, và đã nghe lời tuyên bố của ông về Đấng Christ là Chiên Con của Đức Chúa Trời. Phi-líp là người chân thành tìm kiếm chân lý, nhưng ông chậm tin trong lòng. Mặc dù ông đã gia nhập với Đấng Christ, nhưng lời ông loan báo về Ngài cho Na-tha-na-ên cho thấy ông chưa hoàn toàn xác tín về thần tánh của Đức Chúa Giê-su. Dù Đấng Christ đã được tiếng từ trời công bố là Con Đức Chúa Trời, đối với Phi-líp Ngài vẫn là “Đức Chúa Giê-su người Na-xa-rét, con của Giô-sép.” Giăng 1:45. Lại nữa, khi năm ngàn người được cho ăn, sự thiếu đức tin của Phi-líp đã bày tỏ. Chính để thử ông mà Đức Chúa Giê-su hỏi, “Chúng ta sẽ mua bánh ở đâu để cho những người này ăn?” Câu trả lời của Phi-líp nghiêng về phía vô tín: “Hai trăm đơ-ni-ê bánh không đủ phát cho mỗi người một ít.” Giăng 6:5, 7. Đức Chúa Giê-su buồn lòng. Mặc dù Phi-líp đã thấy các công việc của Ngài và cảm nhận quyền năng của Ngài, nhưng ông vẫn không có đức tin. Khi những người Gờ-réc hỏi Phi-líp về Đức Chúa Giê-su, ông đã không nắm lấy cơ hội giới thiệu họ với Đấng Cứu Thế, nhưng ông đi nói với Anh-rê. Lại nữa, trong những giờ cuối cùng trước khi bị đóng đinh, những lời của Phi-líp lại làm nản lòng đức tin. Khi Thô-ma thưa với Đức Chúa Giê-su, “Lạy Chúa, chúng tôi chẳng biết Chúa đi đâu; làm sao biết đường được?” Đấng Cứu Thế đáp, “Ta là Đường đi, Lẽ thật, và Sự sống… Ví bằng các ngươi biết Ta, thì cũng biết Cha Ta.” Từ Phi-líp đến câu đáp lại của lòng vô tín: “Lạy Chúa, xin chỉ Cha cho chúng tôi, thì đủ rồi.” Giăng 14:5-8. Người môn đồ đã ở với Đức Chúa Giê-su suốt ba năm mà lòng vẫn chậm hiểu, đức tin vẫn yếu đuối đến thế. DA 292.2
Trái ngược cách vui mừng với sự vô tín của Phi-líp là lòng tin cậy như trẻ thơ của Na-tha-na-ên. Ông là người có bản tánh hết sức nghiêm túc, là người mà đức tin nắm lấy những thực tại vô hình. Tuy vậy, Phi-líp vẫn là một học trò trong trường học của Đấng Christ, và vị Thầy thiên thượng đã nhẫn nại chịu đựng sự vô tín và chậm hiểu của ông. Khi Đức Thánh Linh được đổ xuống trên các môn đồ, Phi-líp trở thành một người dạy dỗ theo trật tự thiên thượng. Ông biết rõ điều mình nói, và ông dạy dỗ với một sự xác tín khiến người nghe phải tin phục. DA 293.1
Trong khi Đức Chúa Giê-su đang chuẩn bị cho các môn đồ vào chức vụ của họ, có một kẻ chưa được kêu gọi lại nài ép sự hiện diện của mình giữa họ. Đó là Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, một người tự xưng là kẻ theo Đấng Christ. Bây giờ hắn tiến tới, xin một chỗ trong vòng môn đồ thân cận này. Với vẻ hết sức nghiêm trang và dường như chân thành, hắn tuyên bố, “Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi sẽ theo đó.” Đức Chúa Giê-su chẳng cự tuyệt cũng chẳng chào đón hắn, mà chỉ thốt ra những lời buồn bã: “Con cáo có hang, chim trời có ổ; song Con Người không có chỗ mà gối đầu.” Ma-thi-ơ 8:19, 20. Giu-đa tin Đức Chúa Giê-su là Đấng Mê-si; và bằng cách gia nhập với các sứ đồ, hắn hy vọng giành được một địa vị cao trong vương quốc mới. Đức Chúa Giê-su muốn cắt đứt niềm hy vọng ấy bằng lời tuyên bố về sự nghèo khó của Ngài. DA 293.2
Các môn đồ rất mong muốn Giu-đa trở thành một người trong số họ. Ông có dáng vẻ oai nghiêm, là người có óc nhận xét nhạy bén và tài năng điều hành, nên họ đã tiến cử ông với Đức Chúa Giê-su như một người sẽ giúp Ngài rất nhiều trong công việc. Họ ngạc nhiên khi thấy Đức Chúa Giê-su tiếp nhận ông một cách lạnh nhạt như vậy. DA 294.1
Các môn đồ đã rất thất vọng vì Đức Chúa Giê-su không tìm cách tranh thủ sự cộng tác của các nhà lãnh đạo trong Y-sơ-ra-ên. Họ cảm thấy rằng việc không củng cố chính nghĩa của Ngài bằng cách giành lấy sự ủng hộ của những người có thế lực này là một sai lầm. Nếu Ngài cự tuyệt Giu-đa, thì trong thâm tâm họ sẽ nghi ngờ sự khôn ngoan của Thầy mình. Câu chuyện về sau của Giu-đa sẽ cho họ thấy sự nguy hiểm của việc để cho bất kỳ toan tính thế tục nào có ảnh hưởng trong việc quyết định sự thích hợp của con người đối với công việc của Đức Chúa Trời. Sự cộng tác của những người mà các môn đồ tha thiết muốn tranh thủ hẳn đã giao nộp công việc vào tay những kẻ thù tệ hại nhất của nó. DA 294.2
Tuy nhiên, khi Giu-đa gia nhập với các môn đồ, ông không phải là người vô cảm trước vẻ đẹp của nhân cách Đấng Christ. Ông cảm nhận được ảnh hưởng của quyền năng thiêng liêng đang lôi kéo các linh hồn đến với Đấng Cứu Thế. Đấng đã đến không phải để bẻ gãy cây sậy đã giập hay dập tắt tim đèn còn khói, sẽ không cự tuyệt linh hồn này khi vẫn còn dù chỉ một ước muốn vươn tới sự sáng. Đấng Cứu Thế đọc thấu tấm lòng của Giu-đa; Ngài biết rõ vực sâu của điều gian ác mà Giu-đa sẽ chìm đắm vào nếu không được ân điển Đức Chúa Trời giải cứu. Khi kết hợp người này với chính Ngài, Ngài đặt ông ở nơi mà ngày qua ngày ông có thể tiếp xúc với dòng chảy của tình yêu thương vô vị kỷ của chính Ngài. Nếu ông chịu mở lòng ra với Đấng Christ, ân điển thiêng liêng sẽ trục xuất con quỷ ích kỷ, và ngay cả Giu-đa cũng có thể trở thành thần dân của nước Đức Chúa Trời. DA 294.3
Đức Chúa Trời nhận lấy con người như họ vốn có, với những yếu tố nhân tính trong nhân cách họ, và huấn luyện họ cho công việc của Ngài, nếu họ chịu được rèn luyện và học hỏi nơi Ngài. Họ được chọn không phải vì họ hoàn hảo, mà bất chấp những khiếm khuyết của họ, để qua sự hiểu biết và thực hành lẽ thật, qua ân điển của Đấng Christ, họ có thể được biến đổi thành hình ảnh của Ngài. DA 294.4
Giu-đa có cùng những cơ hội như các môn đồ khác. Ông được nghe cùng những bài học quý báu ấy. Nhưng việc thực hành lẽ thật mà Đấng Christ đòi hỏi lại nghịch với những ước muốn và mục đích của Giu-đa, và ông không chịu từ bỏ những ý tưởng của mình để tiếp nhận sự khôn ngoan từ thiên đàng. DA 294.5
Đấng Cứu Thế đã đối xử dịu dàng biết bao với kẻ sẽ phản Ngài! Trong sự dạy dỗ của mình, Đức Chúa Giê-su nhấn mạnh đến những nguyên tắc nhân từ đánh thẳng vào gốc rễ của lòng tham lam. Ngài bày tỏ trước mặt Giu-đa bản chất ghê tởm của lòng tham, và nhiều lần người môn đồ này nhận ra rằng nhân cách của mình đã được phơi bày, và tội lỗi của mình đã được chỉ ra; nhưng ông không chịu xưng nhận và từ bỏ sự bất chính của mình. Ông tự mãn, và thay vì kháng cự cám dỗ, ông tiếp tục theo đuổi những hành vi gian lận của mình. Đấng Christ ở trước mặt ông, một tấm gương sống động về điều ông phải trở nên nếu ông gặt hái được ích lợi của sự trung bảo và chức vụ thiêng liêng; nhưng hết bài học này đến bài học khác cứ lọt qua tai Giu-đa mà chẳng được lưu tâm. DA 295.1
Đức Chúa Giê-su không quở trách gay gắt ông về lòng tham lam, nhưng với sự nhẫn nại thiêng liêng đã chịu đựng người lầm lạc này, ngay cả khi ban cho ông bằng chứng rằng Ngài đọc thấu tấm lòng ông như một quyển sách mở. Ngài bày tỏ trước mặt ông những động lực cao quý nhất để làm điều ngay lành; và khi chối bỏ sự sáng của thiên đàng, Giu-đa sẽ không còn cớ gì để bào chữa. DA 295.2
Thay vì bước đi trong sự sáng, Giu-đa chọn giữ lấy những khiếm khuyết của mình. Những ước muốn xấu xa, những đam mê báo thù, những ý nghĩ đen tối và u ám, đã được nuôi dưỡng, cho đến khi Sa-tan hoàn toàn kiểm soát con người ông. Giu-đa trở thành kẻ đại diện cho kẻ thù của Đấng Christ. DA 295.3
Khi đến kết giao với Đức Chúa Giê-su, ông có một số đức tính quý báu trong nhân cách lẽ ra có thể trở thành một phước lành cho Hội Thánh. Nếu ông sẵn lòng mang lấy ách của Đấng Christ, ông có thể đã trở thành một trong những sứ đồ hàng đầu; nhưng ông đã làm cứng lòng mình khi những khiếm khuyết của ông được chỉ ra, và trong sự kiêu ngạo và phản nghịch, ông đã chọn những tham vọng ích kỷ của riêng mình, và như vậy đã khiến mình không còn thích hợp với công việc mà Đức Chúa Trời lẽ ra đã giao cho ông làm. DA 295.4
Tất cả các môn đồ đều có những lỗi lầm nghiêm trọng khi Đức Chúa Giê-su gọi họ đến phục vụ Ngài. Ngay cả Giăng, người gần gũi nhất với Đấng nhu mì và khiêm nhường, vốn dĩ cũng không phải là người nhu mì và mềm mại. Ông và anh trai mình được gọi là “con trai của sấm sét”. Khi họ ở với Đức Chúa Giê-su, bất kỳ sự khinh thường nào dành cho Ngài cũng khơi dậy sự phẫn nộ và tính hiếu chiến của họ. Tính khí xấu, lòng báo thù, tinh thần chỉ trích, tất cả đều có trong người môn đồ yêu dấu này. Ông kiêu ngạo, và tham vọng được làm đầu trong nước Đức Chúa Trời. Nhưng ngày qua ngày, đối lập với tinh thần nóng nảy của mình, ông chứng kiến sự dịu dàng và nhẫn nhịn của Đức Chúa Giê-su, và nghe những bài học của Ngài về sự khiêm nhường và kiên nhẫn. Ông mở lòng ra với ảnh hưởng thiêng liêng, và trở nên không chỉ là người nghe mà còn là người làm theo lời của Đấng Cứu Thế. Cái tôi được giấu kín trong Đấng Christ. Ông học cách mang lấy ách của Đấng Christ và gánh lấy gánh nặng của Ngài. DA 295.5
Đức Chúa Giê-su quở trách các môn đồ, Ngài cảnh báo và răn dạy họ; nhưng Giăng và các anh em của ông không lìa bỏ Ngài; họ chọn Đức Chúa Giê-su, bất chấp những lời quở trách. Đấng Cứu Thế không rời bỏ họ vì những yếu đuối và lỗi lầm của họ. Họ tiếp tục cho đến cuối cùng chia sẻ những thử thách của Ngài và học những bài học từ cuộc đời Ngài. Bởi chiêm ngưỡng Đấng Christ, họ được biến đổi trong nhân cách. DA 296.1
Các sứ đồ khác nhau rất nhiều về thói quen và tính tình. Có người thâu thuế Lê-vi-Ma-thi-ơ, và Si-môn người Xê-lốt cuồng nhiệt, kẻ ghét cay ghét đắng không khoan nhượng quyền thống trị của La-mã; Phi-e-rơ rộng lượng và bốc đồng, và Giu-đa hèn hạ; Thô-ma, chân thật nhưng rụt rè và hay sợ hãi, Phi-líp chậm hiểu và có khuynh hướng hồ nghi, cùng các con trai đầy tham vọng và bộc trực của Xê-bê-đê, với các anh em của họ. Những người này được tập hợp lại với nhau, với những lỗi lầm khác nhau của họ, tất cả đều mang những khuynh hướng làm điều ác do di truyền và do tập nhiễm; nhưng trong và qua Đấng Christ, họ phải sống trong gia đình của Đức Chúa Trời, học cách trở nên một trong đức tin, trong giáo lý, trong tinh thần. Họ sẽ trải qua những thử thách, những bất bình, những khác biệt về quan điểm; nhưng hễ Đấng Christ còn ngự trong lòng, thì không thể có sự bất hòa. Tình yêu thương của Ngài sẽ dẫn đến tình yêu thương dành cho nhau; những bài học của Thầy sẽ dẫn đến sự hòa hợp mọi khác biệt, đưa các môn đồ vào sự hiệp một, cho đến khi họ đồng một tâm trí và một suy xét. Đấng Christ là trung tâm vĩ đại, và họ sẽ đến gần nhau đúng theo mức độ họ đến gần trung tâm. DA 296.2
Khi Đức Chúa Giê-su đã kết thúc sự chỉ dạy của Ngài cho các môn đồ, Ngài quy tụ nhóm nhỏ này lại gần bên Ngài, và quỳ giữa họ, đặt tay trên đầu họ, Ngài dâng lời cầu nguyện hiến dâng họ cho công việc thánh của Ngài. Như vậy, các môn đồ của Chúa được phong chức cho chức vụ giảng tin lành. DA 296.3
Là những người đại diện của Ngài giữa loài người, Đấng Christ không chọn các thiên sứ chưa hề sa ngã, mà chọn con người, những người có cùng dục vọng với những kẻ mà họ tìm cách cứu rỗi. Đấng Christ mang lấy nhân tính, để Ngài có thể tiếp cận nhân loại. Thần tính cần đến nhân tính; vì cần cả thần tính lẫn nhân tính để đem sự cứu rỗi đến cho thế gian. Thần tính cần đến nhân tính, để nhân tính có thể cung ứng một kênh thông công giữa Đức Chúa Trời và con người. Các tôi tớ và sứ giả của Đấng Christ cũng vậy. Con người cần một quyền năng bên ngoài và vượt trên chính mình, để phục hồi mình theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, và giúp mình làm được công việc của Đức Chúa Trời; nhưng điều này không khiến tác nhân con người trở nên không cần thiết. Nhân tính nắm lấy quyền năng thiêng liêng, Đấng Christ ngự trong lòng bởi đức tin; và qua sự cộng tác với Đấng thiêng liêng, sức mạnh của con người trở nên hữu hiệu cho điều lành. DA 296.4
Đấng đã gọi những người đánh cá ở Ga-li-lê vẫn đang gọi con người đến phục vụ Ngài. Và Ngài cũng sẵn lòng bày tỏ quyền năng của Ngài qua chúng ta như đã bày tỏ qua các môn đồ đầu tiên. Dù chúng ta có bất toàn và tội lỗi đến đâu, Chúa vẫn đưa ra cho chúng ta lời mời cộng sự với chính Ngài, được làm môn sinh của Đấng Christ. Ngài mời chúng ta đến dưới sự chỉ dạy thiêng liêng, để khi hiệp một với Đấng Christ, chúng ta có thể làm những công việc của Đức Chúa Trời. DA 297.1
“Nhưng chúng tôi đựng của báu nầy trong chậu bằng đất, hầu cho tỏ quyền phép lớn dường ấy là bởi Đức Chúa Trời mà ra, chớ chẳng phải bởi chúng tôi.” 2 Cô-rinh-tô 4:7. Đây là lý do tại sao việc rao giảng tin lành được giao phó cho loài người hay sai lầm thay vì cho các thiên sứ. Điều rõ ràng là quyền năng tác động qua sự yếu đuối của nhân loại chính là quyền năng của Đức Chúa Trời; và bởi đó chúng ta được khích lệ để tin rằng quyền năng có thể giúp đỡ những kẻ yếu đuối như chính chúng ta cũng có thể giúp đỡ chúng ta. Và những ai mà chính mình “đã bị vây trong sự yếu đuối” thì phải có thể “thương xót những kẻ ngu dốt sai lầm.” Hê-bơ-rơ 5:2. Vì đã từng trải qua hiểm nguy, họ biết rõ những nguy hiểm và khó khăn trên đường, và vì lý do đó họ được kêu gọi để vươn tới những người đang ở trong hiểm nguy tương tự. Có những linh hồn bối rối vì nghi ngờ, mang nặng những yếu đuối, yếu đức tin, và không thể nắm bắt được Đấng Vô Hình; nhưng một người bạn mà họ có thể thấy, đến với họ thay cho Đấng Christ, có thể là mối liên kết gắn đức tin run rẩy của họ vào Đấng Christ. DA 297.2
Chúng ta phải là những người cùng làm việc với các thiên sứ trên trời trong việc giới thiệu Đức Chúa Giê-su cho thế gian. Với sự nóng lòng gần như mất kiên nhẫn, các thiên sứ chờ đợi sự cộng tác của chúng ta; vì con người phải là phương tiện để giao tiếp với con người. Và khi chúng ta dâng mình cho Đấng Christ trong sự tận hiến hết lòng, các thiên sứ vui mừng vì họ có thể phán qua tiếng nói của chúng ta để bày tỏ tình yêu thương của Đức Chúa Trời. DA 297.3