Ngày Sa-bát
Ngày Sa-bát được biệt riêng ra thánh từ buổi sáng thế. Khi được lập ra cho loài người, ngày ấy có nguồn gốc từ lúc “các sao mai đồng hát hòa nhau, và các con trai Đức Chúa Trời cất tiếng reo mừng.” Gióp 38:7. Sự bình an bao trùm thế gian; vì trái đất hòa hợp với thiên đàng.
“Đức Chúa Trời thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành. Vậy, có buổi chiều và buổi mai; ấy là ngày thứ sáu.” (Sáng-thế Ký 1:31)
Và Ngài đã nghỉ ngơi trong niềm vui của công việc đã hoàn tất. DA 281.1
Vì Ngài đã nghỉ ngơi trong ngày Sa-bát, nên “Đức Chúa Trời ban phước cho ngày thứ bảy, đặt là ngày thánh” — biệt riêng ngày ấy ra cho một mục đích thánh khiết. Ngài ban ngày ấy cho A-đam làm một ngày nghỉ ngơi. Đó là kỷ niệm về công việc sáng tạo, và do đó là dấu hiệu về quyền năng và tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Kinh Thánh chép, “Ngài làm cho người ta nhớ lại các công việc lạ lùng của Ngài.” “Những sự không thấy được của Ngài” đã được tỏ ra rõ ràng “từ buổi sáng thế,” “tức là quyền phép đời đời và bổn tánh Ngài.” Sáng thế Ký 2:3; Thi thiên 111:4; Rô-ma 1:20, R.V. DA 281.2
Muôn vật được tạo dựng bởi Con Đức Chúa Trời.
“Ban đầu có Ngôi Lời,) Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Ban đầu Ngài ở cùng Đức Chúa Trời. Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài.” (Giăng 1:1-3)
Và vì ngày Sa-bát là kỷ niệm về công việc sáng tạo, nên đó là dấu chỉ về tình yêu thương và quyền năng của Đấng Christ. DA 281.3
Ngày Sa-bát kêu gọi tâm trí chúng ta hướng về thiên nhiên, và đem chúng ta vào sự hiệp thông với Đấng Tạo Hóa. Trong tiếng chim hót, tiếng cây thở than, và âm nhạc của biển cả, chúng ta vẫn còn có thể nghe tiếng của Đấng đã trò chuyện với A-đam trong vườn Ê-đen lúc chiều mát. Và khi chúng ta chiêm ngưỡng quyền năng của Ngài trong thiên nhiên, chúng ta tìm thấy niềm an ủi, vì lời đã tạo dựng muôn vật chính là lời ban sự sống cho linh hồn. Đấng “đã phán: Sự sáng phải soi từ trong sự tối tăm! đã làm cho sự sáng Ngài chói lòa trong lòng chúng tôi, đặng sự thông biết về vinh hiển Đức Chúa Trời soi sáng nơi mặt Đức Chúa Giê-su.” 2 Cô-rinh-tô 4:6. DA 281.4
Chính ý tưởng này đã đánh thức bài ca, — DA 282.1
“Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài đã làm cho tôi vui mừng bởi công việc Ngài; tôi sẽ mừng rỡ về các việc tay Ngài làm. Hỡi Đức Giê-hô-va, công việc Ngài lớn biết bao! Tư tưởng Ngài rất sâu sắc thay.” DA 282.2
Thi thiên 92:4, 5. DA 282.3
Và Đức Thánh Linh phán qua tiên tri Ê-sai rằng:
“Vậy thì các ngươi có thể ví Đức Chúa Trời với ai, lấy ảnh tượng nào mà so sánh với Ngài được? Khi người thợ đúc tượng, thì thợ bạc lấy vàng mà bọc, và đúc cho những cái dây chuyền bằng bạc. Kẻ nghèo không dâng nổi vật đó, thì chọn gỗ không mục được, và tìm thợ khéo đặng trổ một tượng không lay đổ. Các ngươi không biết sao? Vậy thì các ngươi không nghe sao? Người ta há chưa dạy cho các ngươi từ lúc ban đầu? Các ngươi há chẳng hiểu từ khi dựng nền đất? Ấy là Đấng ngự trên vòng trái đất này, các dân cư trên đất như cào cào vậy. Chính Ngài là Đấng giương các từng trời ra như cái màn, và giương ra như trại để ở. Chính Ngài là Đấng làm tiêu diệt các quan trưởng và làm cho các quan xét trên đất ra hư không. Họ mới trồng, mới gieo, cây mới châm rễ trong đất, hơi Đức Giê-hô-va thổi qua, thì khô héo; này, gió lốc lùa hết đi như rơm rác. Đấng Thánh phán rằng: Vậy thì các ngươi sánh ta cùng ai? Ai sẽ bằng ta? Hãy ngước mắt lên cao mà xem: Ai đã tạo những vật này? Ấy là Đấng khiến các cơ binh ra theo số nó, và đặt tên hết thảy; chẳng một vật nào thiếu, vì sức mạnh Ngài lớn lắm, và quyền năng Ngài rất cao. Vậy thì, hỡi Gia-cốp, sao ngươi nói, hỡi Y-sơ-ra-ên, sao ngươi nói như vầy: Đường tôi đã khuất khỏi Đức Giê-hô-va, lý đoán tôi qua khỏi Đức Chúa Trời tôi? Ngươi không biết sao, không nghe sao? Đức Chúa Trời hằng sống, là Đức Giê-hô-va, là Đấng đã dựng nên các đầu cùng đất, chẳng mỏi chẳng mệt; sự khôn ngoan Ngài không thể dò. Ngài ban sức mạnh cho kẻ nhọc nhằn, thêm lực lượng cho kẻ chẳng có sức.” (Ê-sai 40:18-29)
“Đừng sợ, vì ta ở với ngươi; chớ kinh khiếp, vì ta là Đức Chúa Trời ngươi! Ta sẽ bổ sức cho ngươi; phải, ta sẽ giúp đỡ ngươi, lấy tay hữu công bình ta mà nâng đỡ ngươi.” (Ê-sai 41:10)
“Hỡi các ngươi hết thảy ở các nơi đầu cùng đất, hãy nhìn xem ta và được cứu! Vì ta là Đức Chúa Trời, chẳng có Chúa nào khác.” (Ê-sai 45:22)
Đây là sứ điệp được ghi trong thiên nhiên, mà ngày Sa-bát được lập ra để gìn giữ trong trí nhớ. Khi Chúa truyền cho dân Y-sơ-ra-ên biệt riêng các ngày Sa-bát của Ngài ra thánh, Ngài phán, “Lấy ngày Sa-bát ta làm một dấu giữa ta và các ngươi, đặng các ngươi biết rằng ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi.” Ê-sai 40:18-29; 41:10; 45:22; Ê-xê-chi-ên 20:20, R.V. DA 282.4
Ngày Sa-bát được bao hàm trong luật pháp ban ra từ núi Si-na-i; nhưng ngày ấy không phải lần đầu tiên được tỏ ra như một ngày nghỉ tại đó. Dân Y-sơ-ra-ên đã biết về ngày ấy trước khi họ đến núi Si-na-i. Trên đường đi đến đó, ngày Sa-bát đã được giữ. Khi vài người vi phạm ngày ấy, Chúa quở trách họ rằng, “Các ngươi chẳng khứng vâng giữ điều răn và luật pháp ta cho đến chừng nào?” Xuất Ê-díp-tô Ký 16:28. DA 283.1
Ngày Sa-bát không phải chỉ dành riêng cho dân Y-sơ-ra-ên, nhưng cho cả thế gian. Ngày ấy đã được tỏ ra cho loài người trong vườn Ê-đen, và giống như các điều răn khác của Mười Điều Răn, đó là một nghĩa vụ không hề mai một. Về luật pháp ấy, mà điều răn thứ tư là một phần, Đấng Christ tuyên bố, “Trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được.” Hễ trời và đất còn tồn tại bao lâu, thì ngày Sa-bát sẽ còn tiếp tục là một dấu hiệu về quyền năng của Đấng Tạo Hóa. Và khi vườn Ê-đen sẽ lại nở hoa trên trái đất, thì ngày nghỉ thánh của Đức Chúa Trời sẽ được tôn kính bởi tất cả những ai ở dưới mặt trời. “Từ ngày Sa-bát nầy đến ngày Sa-bát khác” cư dân của trái đất mới được vinh hiển sẽ đến “thờ lạy trước mặt ta, Đức Giê-hô-va phán vậy.” Ma-thi-ơ 5:18; Ê-sai 66:23. DA 283.2
Không có thể chế nào khác được giao cho người Do Thái mà làm cho họ khác biệt với các dân tộc chung quanh cách trọn vẹn như ngày Sa-bát. Đức Chúa Trời đã định rằng việc tuân giữ ngày ấy sẽ chỉ định họ là những người thờ phượng Ngài. Đó phải là một dấu chỉ về sự phân rẽ của họ khỏi sự thờ hình tượng, và về mối liên hệ của họ với Đức Chúa Trời chân thật. Nhưng để giữ ngày Sa-bát ra thánh, chính con người phải trở nên thánh khiết. Bởi đức tin, họ phải trở nên người dự phần trong sự công bình của Đấng Christ. Khi điều răn được ban cho dân Y-sơ-ra-ên, “Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh,” Chúa cũng phán cùng họ rằng, “Các ngươi sẽ làm người thánh của ta.” Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8; 22:31. Chỉ bằng cách ấy ngày Sa-bát mới có thể phân biệt dân Y-sơ-ra-ên là những người thờ phượng Đức Chúa Trời. DA 283.3
Khi người Do Thái lìa khỏi Đức Chúa Trời, và không lấy sự công bình của Đấng Christ làm của mình bởi đức tin, thì ngày Sa-bát mất đi ý nghĩa đối với họ. Sa-tan đang tìm cách tự tôn mình lên và lôi kéo con người ra xa khỏi Đấng Christ, và nó hành động để xuyên tạc ngày Sa-bát, bởi vì đó là dấu hiệu về quyền năng của Đấng Christ. Các nhà lãnh đạo Do Thái đã thực hiện ý muốn của Sa-tan bằng cách bao quanh ngày nghỉ của Đức Chúa Trời bằng những đòi hỏi nặng nề. Trong thời Đấng Christ, ngày Sa-bát đã bị xuyên tạc đến nỗi việc tuân giữ ngày ấy phản ánh tánh cách của những con người ích kỷ và độc đoán hơn là tánh cách của Cha thiên thượng yêu thương. Các thầy ra-bi thực sự đã miêu tả Đức Chúa Trời như một Đấng ban ra các luật lệ mà con người không thể nào vâng giữ được. Họ dẫn dắt dân chúng nhìn Đức Chúa Trời như một bạo chúa, và nghĩ rằng việc tuân giữ ngày Sa-bát, theo cách Ngài đòi hỏi, làm cho con người trở nên cứng lòng và tàn nhẫn. Công việc của Đấng Christ là quét sạch những quan niệm sai lầm này. Mặc dầu các thầy ra-bi đeo đuổi Ngài với lòng thù nghịch không khoan nhượng, Ngài không hề tỏ ra dù chỉ một chút tuân theo những đòi hỏi của họ, nhưng cứ tiến thẳng tới, giữ ngày Sa-bát theo luật pháp của Đức Chúa Trời. DA 283.4
Vào một ngày Sa-bát nọ, khi Đấng Cứu Thế và các môn đồ trở về từ nơi thờ phượng, họ đi ngang qua một cánh đồng lúa đang chín. Đức Chúa Giê-su đã tiếp tục công việc của Ngài đến giờ muộn, và trong khi đi qua các cánh đồng, các môn đồ bắt đầu hái những bông lúa, và ăn các hạt sau khi vò chúng trong tay. Vào bất cứ ngày nào khác, hành động này sẽ không gây ra lời bình phẩm nào, vì người đi qua một cánh đồng lúa, một vườn cây, hay một vườn nho, thì được tự do hái những gì mình muốn ăn. Xem Phục truyền Luật lệ Ký 23:24, 25. Nhưng làm điều này vào ngày Sa-bát thì bị coi là một hành động phạm thánh. Việc hái lúa không những là một hình thức gặt hái, mà việc vò lúa trong tay còn là một hình thức đập lúa. Vì vậy, theo quan điểm của các thầy ra-bi, đây là một sự phạm tội kép. DA 284.1
Những kẻ do thám lập tức phàn nàn với Đức Chúa Giê-su rằng, “Kìa, môn đồ Thầy làm điều không nên làm trong ngày Sa-bát.” DA 284.2
Khi bị buộc tội vi phạm ngày Sa-bát tại Bê-tết-đa, Đức Chúa Giê-su đã tự biện hộ bằng cách xác nhận địa vị làm Con của Đức Chúa Trời, và tuyên bố rằng Ngài làm việc hòa hợp với Đức Chúa Cha. Bây giờ khi các môn đồ bị tấn công, Ngài dẫn những kẻ tố cáo Ngài đến các tấm gương trong Cựu Ước, những hành động được thực hiện vào ngày Sa-bát bởi những người đang phục vụ Đức Chúa Trời. DA 284.3
Các giáo sư Do Thái lấy làm tự hào về sự hiểu biết Kinh Thánh của họ, và trong câu trả lời của Đấng Cứu Thế có một lời quở trách ngụ ý về sự dốt nát của họ đối với Lời Thánh. Ngài phán:
“Đức Chúa Giê-su phán rằng: Vậy các ngươi chưa đọc chuyện vua Đa-vít làm trong khi vua cùng kẻ đi theo bị đói sao? Thể nào vua vào đền Đức Chúa Trời, lấy bánh bày ra mà ăn, và cho kẻ đi theo ăn nữa, dầu là bánh chỉ các thầy tế lễ mới được phép ăn thôi?” (Lu-ca 6:3-4)
“Đoạn, Ngài lại phán: Vì loài người mà lập ngày Sa-bát, chớ chẳng phải vì ngày Sa-bát mà dựng nên loài người.” (Mác 2:27)
“Hay là các ngươi không đọc trong sách luật, đến ngày Sa-bát, các thầy tế lễ trong đền thờ phạm luật ngày đó, mà không phải tội sao? Vả lại, ta phán cùng các ngươi, tại chỗ này có một đấng tôn trọng hơn đền thờ.” (Ma-thi-ơ 12:5-6)
“Vậy thì Con người cũng làm chủ ngày Sa-bát.” (Mác 2:28)
DA 285.1
Nếu việc Đa-vít ăn bánh đã được biệt riêng cho mục đích thánh để làm dịu cơn đói của mình là đúng, thì việc các môn đồ bứt lúa để đáp ứng nhu cầu của họ trong những giờ thánh của ngày Sa-bát cũng là đúng. Lại nữa, các thầy tế lễ trong đền thờ thi hành công việc nặng nhọc hơn vào ngày Sa-bát so với những ngày khác. Cũng công việc ấy nếu làm trong việc thế tục thì sẽ là tội lỗi; nhưng công việc của các thầy tế lễ là phục vụ Đức Chúa Trời. Họ đang thi hành những nghi lễ chỉ về quyền năng cứu chuộc của Đấng Christ, và công lao của họ hài hòa với mục đích của ngày Sa-bát. Nhưng giờ đây chính Đấng Christ đã đến. Các môn đồ, khi làm công việc của Đấng Christ, đang dấn thân vào sự phục vụ Đức Chúa Trời, và những gì cần thiết để hoàn thành công việc này thì được phép làm trong ngày Sa-bát. DA 285.2
Đấng Christ muốn dạy cho các môn đồ Ngài và những kẻ thù của Ngài rằng sự phục vụ Đức Chúa Trời là trên hết. Mục đích công việc của Đức Chúa Trời trong thế gian này là sự cứu chuộc loài người; vì vậy những gì cần thiết phải làm trong ngày Sa-bát để hoàn thành công việc này thì phù hợp với luật ngày Sa-bát. Đức Chúa Giê-su bèn kết thúc lập luận của Ngài bằng cách tuyên bố chính Ngài là “Chúa của ngày Sa-bát”, Đấng vượt trên mọi sự nghi vấn và vượt trên mọi luật pháp. Vị Quan Án vô hạn này tha bổng các môn đồ khỏi lời buộc tội, viện dẫn chính những điều luật mà họ bị cáo buộc là vi phạm. DA 285.3
Đức Chúa Giê-su không để vấn đề trôi qua mà không ban một lời quở trách cho những kẻ thù của Ngài. Ngài tuyên bố rằng trong sự mù quáng của họ, họ đã hiểu lầm mục đích của ngày Sa-bát. Ngài phán:
“Phải chi các ngươi hiểu nghĩa câu này: Ta muốn lòng nhân từ, không muốn của tế lễ, thì các ngươi không trách những người vô tội;” (Ma-thi-ơ 12:7)
Nhiều nghi lễ vô tình của họ không thể bù đắp cho sự thiếu hụt tấm lòng chính trực chân thật và tình yêu thương dịu dàng, là điều luôn đặc trưng cho người thờ phượng Đức Chúa Trời cách chân thật. DA 285.4
Một lần nữa, Đấng Christ lặp lại lẽ thật rằng tự bản thân các của lễ không có giá trị gì. Chúng là phương tiện, chứ không phải là mục đích. Mục tiêu của chúng là hướng loài người đến Đấng Cứu Thế, và nhờ đó đem họ vào sự hòa hợp với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời quý trọng sự phục vụ bằng tình yêu thương. Khi điều này thiếu vắng, thì vòng nghi lễ suông trở thành điều xúc phạm đến Ngài. Ngày Sa-bát cũng vậy. Nó được lập ra để đem loài người vào mối tương giao với Đức Chúa Trời; nhưng khi tâm trí bị cuốn vào những nghi lễ mệt mỏi, thì mục đích của ngày Sa-bát bị cản trở. Sự tuân giữ chỉ ở bề ngoài là một trò nhạo báng. DA 286.1
Vào một ngày Sa-bát khác, khi Đức Chúa Giê-su bước vào một nhà hội, Ngài thấy ở đó một người có bàn tay teo. Những người Pha-ri-si rình xem Ngài, háo hức muốn thấy Ngài sẽ làm gì. Đấng Cứu Thế biết rõ rằng nếu chữa bệnh trong ngày Sa-bát thì Ngài sẽ bị coi là kẻ vi phạm, nhưng Ngài không ngần ngại phá đổ bức tường của những đòi hỏi theo truyền thống đã rào chắn ngày Sa-bát. Đức Chúa Giê-su bảo người bệnh đứng dậy, rồi hỏi: “Trong ngày Sa-bát, làm điều lành hay là làm điều dữ, cứu người hay là giết người, điều nào hợp phép?” Trong vòng người Do Thái có một châm ngôn rằng không làm điều lành khi có cơ hội tức là làm điều dữ; bỏ qua việc cứu mạng sống tức là giết người. Như vậy, Đức Chúa Giê-su đã đối đầu với các thầy thông giáo ngay trên lập trường của chính họ.
“Rồi Ngài hỏi họ rằng: Trong ngày Sa-bát, nên làm việc lành hay việc dữ, cứu người hay giết người? Nhưng họ đều nín lặng. Bấy giờ, Ngài lấy mắt liếc họ, vừa giận vừa buồn vì lòng họ cứng cỏi, rồi phán cùng người nam rằng: Hãy giơ tay ra. Người giơ ra, thì tay được lành.” (Mác 3:4-5)
DA 286.2
Khi bị hỏi: “Trong ngày Sa-bát, chữa bệnh có phép không?” Đức Chúa Giê-su đáp:
“Ở đó, có một người teo một bàn tay. Có kẻ hỏi Ngài rằng: Trong ngày Sa-bát, có phép chữa kẻ bịnh hay không? Ấy là họ có ý kiếm dịp kiện Ngài. Ngài bèn phán cùng họ rằng: Ai trong vòng các ngươi có một con chiên, nếu đương ngày Sa-bát, bị té xuống hầm, thì há không kéo nó lên sao? Huống chi người ta trọng hơn con chiên là dường nào! Vậy, trong ngày Sa-bát có phép làm việc lành.” (Ma-thi-ơ 12:10-12)
DA 286.3
Những kẻ rình rập không dám trả lời Đấng Christ trước mặt đoàn dân đông, vì sợ tự gây rắc rối cho mình. Họ biết rằng Ngài đã nói lẽ thật. Thà để một người phải chịu khổ còn hơn vi phạm các truyền thống của mình, trong khi họ lại cứu giúp một con vật vì sợ chủ của nó bị thiệt hại nếu bỏ mặc. Như vậy, người ta tỏ ra quan tâm đến một con vật câm hơn là đến loài người, là loài được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời. Điều này minh họa cho cách vận hành của mọi tôn giáo giả dối. Chúng phát sinh từ lòng ham muốn của loài người tự tôn mình lên trên Đức Chúa Trời, nhưng kết quả lại hạ thấp loài người xuống dưới loài vật. Mọi tôn giáo chống nghịch lại quyền tể trị của Đức Chúa Trời đều cướp đoạt khỏi loài người vinh quang vốn thuộc về họ lúc sáng thế, và sẽ được phục hồi cho họ trong Đấng Christ. Mọi tôn giáo giả dối dạy những kẻ theo nó hờ hững với nhu cầu, nỗi khổ và quyền lợi của con người. Tin lành đặt giá trị cao cho nhân loại như là giá đã được mua bằng huyết của Đấng Christ, và dạy lòng quan tâm dịu dàng đối với những nhu cầu và đau khổ của con người. Chúa phán:
“Ta sẽ làm cho loài người hiếm có hơn vàng quí, thật ta sẽ làm cho loài người hiếm có hơn vàng ròng xứ Ô-phia.” (Ê-sai 13:12)
DA 286.4
Khi Đức Chúa Giê-su quay sang những người Pha-ri-si với câu hỏi rằng trong ngày Sa-bát làm điều lành hay làm điều dữ, cứu mạng sống hay giết người, điều nào hợp phép, thì Ngài đã đối chất họ với chính những mưu ác của họ. Họ đang săn lùng mạng sống của Ngài với lòng căm thù cay đắng, trong khi Ngài đang cứu mạng sống và đem hạnh phúc đến cho muôn người. Liệu việc giết người trong ngày Sa-bát, như họ đang toan tính, có tốt hơn việc chữa lành cho người đau khổ như Ngài đã làm chăng? Có công bình hơn chăng khi ấp ủ sự giết chóc trong lòng vào ngày thánh của Đức Chúa Trời, thay vì có lòng yêu thương mọi người, được bày tỏ qua những việc làm nhân từ? DA 287.1
Trong việc chữa lành bàn tay teo, Đức Chúa Giê-su đã lên án phong tục của người Do Thái, và để cho điều răn thứ tư đứng vững như Đức Chúa Trời đã ban truyền. Ngài tuyên bố: “Trong ngày Sa-bát, làm điều lành là hợp phép.” Bằng cách quét sạch những điều ràng buộc vô lý của người Do Thái, Đấng Christ tôn vinh ngày Sa-bát, trong khi những kẻ kêu ca chống Ngài lại đang làm ô danh ngày thánh của Đức Chúa Trời. DA 287.2
Những kẻ cho rằng Đấng Christ đã bãi bỏ luật pháp thì dạy rằng Ngài đã vi phạm ngày Sa-bát và biện minh cho các môn đồ Ngài làm điều tương tự. Như vậy, họ thật ra đang đứng trên cùng một lập trường với những người Do Thái hay bắt bẻ. Trong điều này, họ mâu thuẫn với chính lời chứng của Đấng Christ, là Đấng đã tuyên bố:
“Nếu các ngươi vâng giữ các điều răn của ta, thì sẽ ở trong sự yêu thương ta, cũng như chính ta đã vâng giữ các điều răn của Cha ta, và cứ ở trong sự yêu thương Ngài.” (Giăng 15:10)
Cả Đấng Cứu Thế lẫn những kẻ theo Ngài đều không vi phạm luật ngày Sa-bát. Đấng Christ là hiện thân sống động của luật pháp. Trong đời sống Ngài không hề tìm thấy sự vi phạm nào đối với các giới luật thánh của nó. Khi nhìn vào cả một dân tộc làm chứng đang tìm cơ hội để lên án Ngài, Ngài có thể phán mà không bị ai phản bác:
“Trong các ngươi có ai bắt ta thú tội được chăng?… Nếu ta nói lẽ thật, sao các ngươi không tin ta?” (Giăng 8:46)
DA 287.3
Đấng Cứu Thế không đến để gạt bỏ những gì các tổ phụ và các tiên tri đã nói; vì chính Ngài đã phán qua những người đại diện ấy. Tất cả lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời đều đến từ Ngài. Nhưng những viên ngọc vô giá này đã bị đặt vào những khung sai lạc. Ánh sáng quý báu của chúng đã bị làm cho phục vụ cho sự sai lầm. Đức Chúa Trời muốn chúng được lấy ra khỏi những khung sai lạc và đặt lại trong khuôn khổ của lẽ thật. Chỉ có bàn tay thiêng liêng mới có thể hoàn thành công việc này. Bởi sự liên kết với sự sai lầm, lẽ thật đã phục vụ cho mục đích của kẻ thù nghịch Đức Chúa Trời và loài người. Đấng Christ đã đến để đặt nó vào nơi mà nó sẽ làm vinh hiển Đức Chúa Trời, và thực hiện sự cứu rỗi cho nhân loại. DA 287.4
“Đức Chúa Giê-su phán: “Vì loài người mà lập ngày Sa-bát, chớ chẳng phải vì ngày Sa-bát mà dựng nên loài người.” Các thể chế mà Đức Chúa Trời đã thiết lập là vì ích lợi của nhân loại. “Bởi mọi điều đó là vì anh em.”
“Bởi chưng mọi điều đó xảy đến vì cớ anh em, hầu cho ân điển rải ra cách dư dật, khiến sự tạ ơn nơi nhiều người hơn cũng dư dật, mà thêm vinh hiển cho Đức Chúa Trời.” (II Cô-rinh-tô 4:15)
“Hoặc Phao-lô, hoặc A-bô-lô, hoặc Sê-pha, hoặc thế gian, hoặc sự sống, hoặc sự chết, hoặc những sự bây giờ, hoặc những sự hầu đến. Hết thảy mọi sự đều thuộc về anh em, anh em thuộc về Đấng Cơ-đốc, Đấng Cơ-đốc thuộc về Đức Chúa Trời.” (I Cô-rinh-tô 3:22-23)
Luật pháp Mười Điều Răn, mà trong đó ngày Sa-bát là một phần, Đức Chúa Trời đã ban cho dân sự Ngài như một phước lành. Môi-se nói: “Chúa có phán dặn chúng ta…”
“Đức Giê-hô-va có phán cùng chúng ta khá làm theo các luật lệ này, kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta, hầu cho chúng ta được phước luôn luôn, và được Ngài bảo tồn sự sống cho chúng ta y như Ngài đã làm đến ngày nay.” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 6:24)
Và qua trước giả thi thiên, sứ điệp được ban cho Y-sơ-ra-ên: “Khá hầu việc Đức Giê-hô-va cách vui mừng…”
“Khá hầu việc Đức Giê-hô-va cách vui mừng, Hãy hát xướng mà đến trước mặt Ngài. Phải biết rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời. Chính Ngài đã dựng nên chúng tôi, chúng tôi thuộc về Ngài; Chúng tôi là dân sự Ngài, là bầy chiên của đồng cỏ Ngài. Hãy cảm tạ mà vào các cửa Ngài, Hãy ngợi khen mà vào hành lang Ngài, Khá cảm tạ Ngài, chúc tụng danh của Ngài.” (Thi-thiên 100:2-4)
Và đối với hết thảy những ai giữ “ngày Sa-bát đặng đừng làm ô uế nó,” Chúa phán rằng: “Thì ta sẽ đem họ vui mừng trong nhà cầu nguyện ta.”
“Các người dân ngoại về cùng Đức Giê-hô-va, đặng hầu việc Ngài, đặng yêu mến danh Đức Giê-hô-va, đặng làm tôi tớ Ngài; tức là hết thảy những kẻ giữ ngày Sa-bát cho khỏi làm ô uế, và cầm vững lời giao ước ta, thì ta sẽ đem họ lên trên núi thánh ta, làm cho họ vui mừng trong nhà cầu nguyện ta. Của lễ thiêu và hy sinh họ dâng trên bàn thờ ta, sẽ được nhận lấy; vì nhà ta sẽ gọi là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc.” (Ê-sai 56:6-7)
DA 288.1
“Vậy thì Con Người cũng làm chủ ngày Sa-bát.” Những lời này đầy dẫy sự dạy dỗ và an ủi. Vì ngày Sa-bát được lập nên cho loài người, nên nó là ngày của Chúa. Nó thuộc về Đấng Christ. Vì “muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài.”
“Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài.” (Giăng 1:3)
Bởi Ngài đã dựng nên muôn vật, nên Ngài đã lập nên ngày Sa-bát. Bởi Ngài mà nó được biệt riêng ra làm kỷ niệm cho công cuộc sáng tạo. Nó chỉ về Ngài vừa là Đấng Tạo Hóa vừa là Đấng Thánh Hóa. Nó tuyên bố rằng Đấng đã dựng nên muôn vật trên trời và dưới đất, và bởi Ngài mà muôn vật được giữ vững, chính là đầu của Hội Thánh, và bởi quyền năng Ngài mà chúng ta được hòa thuận với Đức Chúa Trời. Vì khi phán về Y-sơ-ra-ên, Ngài có nói: “Ta cũng cho chúng nó những ngày Sa-bát ta làm một dấu giữa ta và chúng nó, đặng chúng nó biết rằng ta là Đức Giê-hô-va biệt chúng nó ra thánh,”—khiến chúng nên thánh.
“Ta cũng cho chúng nó những ngày sa-bát ta làm một dấu giữa ta và chúng nó, đặng chúng nó biết rằng ta là Đức Giê-hô-va biệt chúng nó ra thánh.” (Ê-xê-chi-ên 20:12)
Vậy thì ngày Sa-bát là một dấu hiệu về quyền năng của Đấng Christ để khiến chúng ta nên thánh. Và nó được ban cho hết thảy những ai được Đấng Christ làm cho nên thánh. Như một dấu hiệu về quyền năng thánh hóa của Ngài, ngày Sa-bát được ban cho hết thảy những ai nhờ Đấng Christ mà trở nên một phần của dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời. DA 288.2
Và Chúa phán: “Nếu ngươi ngừa giữ chân mình trong ngày Sa-bát, không làm vừa ý mình trong ngày thánh của ta; nếu ngươi xưng ngày Sa-bát là ngày vui thích, coi ngày thánh của Đức Giê-hô-va là đáng kính; … bấy giờ ngươi sẽ lấy Đức Giê-hô-va làm vui thích.”
“Nếu ngươi ngừa giữ chân mình trong ngày Sa-bát, không làm vừa ý mình trong ngày thánh của ta; nếu ngươi xưng ngày Sa-bát là ngày vui thích, coi ngày thánh của Đức Giê-hô-va là đáng kính; nếu ngươi tôn trọng ngày đó, không đi đường riêng mình, không theo ý riêng mình, và không nói lời riêng mình, bấy giờ ngươi sẽ lấy Đức Giê-hô-va làm vui thích, ta sẽ làm cho ngươi cỡi lên các nơi cao trên đất, và lấy sản nghiệp của Gia-cốp, tổ phụ ngươi, mà nuôi ngươi; vì miệng Đức Giê-hô-va đã phán vậy.” (Ê-sai 58:13-14)
Đối với hết thảy những ai tiếp nhận ngày Sa-bát như một dấu hiệu về quyền năng sáng tạo và cứu chuộc của Đấng Christ, thì nó sẽ là một niềm vui thích. Khi thấy Đấng Christ trong đó, họ lấy chính Ngài làm vui thích. Ngày Sa-bát chỉ họ về công cuộc sáng tạo như một bằng chứng về quyền năng vĩ đại của Ngài trong sự cứu chuộc. Trong khi nó gợi nhớ về sự bình an đã mất nơi vườn Ê-đen, thì nó cũng nói về sự bình an được phục hồi nhờ Đấng Cứu Thế. Và mỗi vật trong thiên nhiên đều lặp lại lời mời gọi của Ngài: “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ.”
“Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ.” (Ma-thi-ơ 11:28)
DA 289.1