Lê-vi Ma-thi-ơ
Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 9:9-17; Mác 2:14-22; Lu-ca 5:27-39. DA 272.1
Trong số các quan chức La-mã tại xứ Pa-léc-tin, không ai bị ghét hơn những người thâu thuế. Việc sưu thuế bị áp đặt bởi một thế lực ngoại bang là một sự khó chịu liên tục đối với người Do Thái, vì nó nhắc nhở họ rằng nền độc lập của mình đã không còn nữa. Và những người thâu thuế không chỉ là công cụ của sự áp bức La-mã; chính họ cũng là những kẻ tống tiền, làm giàu cho bản thân trên sự thiệt hại của dân chúng. Một người Do Thái nhận chức vụ này từ tay người La-mã bị xem là kẻ phản bội danh dự của dân tộc mình. Người đó bị khinh dể như kẻ bội đạo, và bị xếp vào hạng người đê tiện nhất trong xã hội. DA 272.2
Lê-vi-Ma-thi-ơ thuộc về hạng người này, là người sau bốn môn đồ tại Ghen-nê-xa-rết, được kêu gọi tiếp theo để phục vụ Đấng Christ. Người Pha-ri-si đã xét đoán Ma-thi-ơ theo nghề nghiệp của ông, nhưng Đức Chúa Giê-su nhìn thấy nơi người này một tấm lòng mở ra để đón nhận lẽ thật. Ma-thi-ơ đã lắng nghe lời dạy của Đấng Cứu Thế. Khi Thánh Linh cáo trách của Đức Chúa Trời bày tỏ cho ông thấy tội lỗi của mình, ông khao khát tìm kiếm sự giúp đỡ từ Đấng Christ; nhưng ông đã quen với sự cách biệt của các thầy thông giáo, và không hề nghĩ rằng vị Thầy vĩ đại này sẽ để ý đến ông. DA 272.3
Một ngày kia, đang ngồi tại nơi thâu thuế, người thâu thuế thấy Đức Chúa Giê-su đang đến gần. Ông vô cùng kinh ngạc khi nghe những lời ngỏ với chính mình: “Hãy theo Ta.” DA 273.1
Ma-thi-ơ “bỏ hết thảy, đứng dậy mà theo Ngài.” Không có sự do dự, không một câu hỏi, không một ý nghĩ về cái nghề béo bở phải đánh đổi lấy sự nghèo khó và gian khổ. Đối với ông, được ở cùng Đức Chúa Giê-su, được lắng nghe lời Ngài, và được liên kết với Ngài trong công việc của Ngài là đã đủ rồi. DA 273.2
Các môn đồ được kêu gọi trước đó cũng vậy. Khi Đức Chúa Giê-su truyền cho Phi-e-rơ và các bạn ông theo Ngài, lập tức họ bỏ thuyền và lưới của mình. Một số trong các môn đồ này có những người thân lệ thuộc vào họ để được nuôi nấng; nhưng khi nhận được lời mời của Đấng Cứu Thế, họ không do dự hay hỏi rằng: Tôi sẽ sống thế nào, và làm sao chu cấp cho gia đình tôi? Họ vâng theo tiếng gọi; và khi về sau Đức Chúa Giê-su hỏi họ:
“Đoạn, Ngài lại phán rằng: Khi ta đã sai các ngươi đi, không đem túi, bao, giày chi hết, các ngươi có thiếu gì không? Môn đồ thưa rằng: Không thiếu chi hết.” (Lu-ca 22:35)
họ có thể trả lời: “Không thiếu chi hết.” DA 273.3
Với Ma-thi-ơ trong sự giàu sang, và với Anh-rê và Phi-e-rơ trong cảnh nghèo khó, cùng một thử thách được đặt ra; mỗi người đều dâng mình như nhau. Vào lúc thành công, khi lưới đầy cá, và khi những thôi thúc của đời sống cũ mạnh mẽ nhất, Đức Chúa Giê-su đã yêu cầu các môn đồ bên bờ biển từ bỏ hết thảy vì công việc của tin lành. Vậy nên mỗi linh hồn đều được thử thách xem điều nào mạnh hơn: lòng khao khát của cải tạm thời hay sự thông công với Đấng Christ. DA 273.4
Nguyên tắc luôn đòi hỏi nghiêm ngặt. Không ai có thể thành công trong sự phục vụ Đức Chúa Trời trừ khi cả tấm lòng mình đặt vào công việc và xem mọi sự đều là sự lỗ vì sự nhận biết Đấng Christ là quý hơn hết. Không ai còn giữ lại điều gì cho mình mà có thể làm môn đồ của Đấng Christ, huống chi là làm bạn đồng công với Ngài. Khi con người biết quý trọng sự cứu rỗi lớn lao, thì sự hy sinh được thấy trong đời sống Đấng Christ cũng sẽ được thấy trong đời sống họ. Bất cứ nơi nào Ngài dẫn đường, họ sẽ vui mừng noi theo. DA 273.5
Việc kêu gọi Ma-thi-ơ trở thành một trong các môn đồ của Đấng Christ đã gây nên sự phẫn nộ lớn. Đối với một giáo sư tôn giáo mà chọn một người thâu thuế làm một trong những người hầu cận của mình là một sự xúc phạm đến các phong tục tôn giáo, xã hội, và dân tộc. Bằng cách khơi dậy thành kiến của dân chúng, người Pha-ri-si hy vọng làm cho dòng cảm xúc của quần chúng quay sang chống lại Đức Chúa Giê-su. DA 273.6
Trong vòng những người thâu thuế dấy lên một sự quan tâm rộng rãi. Lòng họ hướng về vị Thầy thiêng liêng. Trong niềm vui được làm môn đồ mới, Ma-thi-ơ khao khát đem những người bạn cũ của mình đến với Đức Chúa Giê-su. Vì vậy ông bày một bữa tiệc tại nhà mình, và mời họp lại bà con và bạn hữu của ông. Không chỉ những người thâu thuế được mời, mà còn nhiều người khác có tiếng xấu, và bị những người láng giềng kỹ tính hơn xa lánh. DA 273.7
Bữa tiệc được tổ chức để tôn vinh Đức Chúa Giê-su, và Ngài không hề do dự nhận lấy nhã ý ấy. Ngài biết rõ điều này sẽ làm phật lòng phái Pha-ri-si, và cũng sẽ làm Ngài bị mất uy tín trong mắt dân chúng. Nhưng không một vấn đề mưu lược nào có thể ảnh hưởng đến hành động của Ngài. Đối với Ngài, những phân biệt bề ngoài chẳng có giá trị gì cả. Điều đánh động tấm lòng Ngài là một linh hồn đang khao khát nước sự sống. DA 274.1
Đức Chúa Giê-su ngồi như một vị khách quý nơi bàn của những người thâu thuế, bởi lòng cảm thông và sự thân thiện hòa nhã của Ngài, bày tỏ rằng Ngài nhìn nhận phẩm giá của nhân loại; và người ta khao khát trở nên xứng đáng với lòng tin cậy của Ngài. Trên những tấm lòng khao khát của họ, lời Ngài rơi xuống với quyền năng ban phước và ban sự sống. Những thôi thúc mới được thức tỉnh, và khả năng của một đời sống mới mở ra cho những kẻ bị xã hội ruồng bỏ này. DA 274.2
Tại những buổi nhóm họp như thế này, không ít người đã được cảm động bởi lời dạy của Đấng Cứu Thế dù họ không xưng nhận Ngài cho đến sau khi Ngài thăng thiên. Khi Đức Thánh Linh được đổ xuống, và ba ngàn người được trở lại đạo trong một ngày, trong số họ có nhiều người lần đầu tiên nghe lẽ thật nơi bàn của những người thâu thuế, và một số trong những người này trở thành sứ giả của tin lành. Đối với chính Ma-thi-ơ, gương mẫu của Đức Chúa Giê-su tại bữa tiệc là một bài học không ngừng. Người thâu thuế bị khinh dể đã trở thành một trong những nhà truyền giảng tin lành tận tụy nhất, trong chức vụ của mình theo sát từng bước chân của Thầy mình. DA 274.3
Khi các thầy thông giáo biết được sự hiện diện của Đức Chúa Giê-su tại bữa tiệc của Ma-thi-ơ, họ nắm lấy cơ hội để buộc tội Ngài. Nhưng họ chọn cách hành động thông qua các môn đồ. Bằng cách khơi dậy thành kiến của các môn đồ, họ hy vọng làm cho các môn đồ xa lánh Thầy mình. Mưu lược của họ là buộc tội Đấng Christ với các môn đồ, và buộc tội các môn đồ với Đấng Christ, nhắm những mũi tên của mình vào nơi dễ gây tổn thương nhất. Đây là cách mà Sa-tan đã làm việc kể từ khi có sự bất mãn trên thiên đàng; và tất cả những ai cố gắng gây nên sự bất hòa và xa cách đều bị thúc đẩy bởi thần khí của hắn. DA 275.1
“Sao thầy các ngươi ăn chung với người thâu thuế và kẻ có tội vậy?” các thầy thông giáo ganh tị chất vấn. DA 275.2
Đức Chúa Giê-su không chờ các môn đồ Ngài trả lời lời buộc tội, nhưng chính Ngài đáp lại: “Chẳng phải là người khỏe mạnh cần thầy thuốc đâu, song là người có bịnh. Hãy đi, và học cho biết câu nầy nghĩa là gì: Ta muốn sự thương xót, nhưng chẳng muốn của lễ. Vì ta đến đây không phải để kêu kẻ công bình, song kêu kẻ có tội ăn năn.” Người Pha-ri-si tự nhận mình lành mạnh về phần thuộc linh, và do đó không cần đến thầy thuốc, trong khi họ xem những người thâu thuế và dân ngoại như đang chết dần vì những căn bệnh của linh hồn. Vậy thì, là một thầy thuốc, há chẳng phải công việc của Ngài là đến với chính hạng người cần sự giúp đỡ của Ngài sao? DA 275.3
Nhưng dù người Pha-ri-si tự cao về mình đến thế, họ thật ra đang ở trong tình trạng tồi tệ hơn những người họ khinh dể. Những người thâu thuế ít cố chấp và tự mãn hơn, và do đó dễ tiếp nhận ảnh hưởng của lẽ thật hơn. Đức Chúa Giê-su phán với các thầy thông giáo: “Hãy đi, và học cho biết câu nầy nghĩa là gì: Ta muốn sự thương xót, nhưng chẳng muốn của lễ.” Như vậy Ngài cho thấy rằng dù họ tự nhận mình giảng giải Lời Đức Chúa Trời, họ hoàn toàn không hiểu được tinh thần của Lời ấy. DA 275.4
Người Pha-ri-si nín lặng trong giây lát, nhưng chỉ càng cương quyết hơn trong sự thù nghịch của mình. Kế đó họ tìm đến các môn đồ của Giăng Báp-tít, và cố gắng làm cho họ chống lại Đấng Cứu Thế. Những người Pha-ri-si này đã không chấp nhận sứ mạng của Giăng Báp-tít. Họ đã khinh bỉ chỉ trích đời sống tiết độ của ông, những thói quen đơn sơ của ông, áo quần thô sơ của ông, và đã tuyên bố ông là kẻ cuồng tín. Vì ông tố cáo sự giả hình của họ, họ đã chống lại lời ông, và đã cố xúi giục dân chúng chống lại ông. Thánh Linh Đức Chúa Trời đã cảm động lòng những kẻ khinh dể này, cáo trách họ về tội lỗi; nhưng họ đã chối bỏ lời khuyên dạy của Đức Chúa Trời, và đã tuyên bố rằng Giăng bị quỷ ám. DA 275.5
Bây giờ khi Đức Chúa Giê-su đến hòa mình với dân chúng, ăn uống nơi bàn họ, họ buộc tội Ngài là kẻ phàm ăn và mê uống rượu. Chính những kẻ đưa ra lời buộc tội này lại là những kẻ có tội. Như Đức Chúa Trời bị bóp méo, và bị Sa-tan khoác lên những đặc tính của chính hắn, thì các sứ giả của Chúa cũng bị những kẻ gian ác này vu khống như vậy. DA 276.1
Người Pha-ri-si không chịu nghĩ rằng Đức Chúa Giê-su ăn uống với những người thâu thuế và kẻ có tội là để đem ánh sáng thiên đàng đến cho những ai đang ngồi trong sự tối tăm. Họ không chịu thấy rằng mỗi lời nói ra từ Đấng Giáo Sư thiên thượng là một hạt giống sống động sẽ nảy mầm và kết quả làm vinh hiển Đức Chúa Trời. Họ đã quyết định không tiếp nhận ánh sáng; và mặc dù họ đã chống đối sứ mạng của Giăng Báp-tít, giờ đây họ lại sẵn sàng tìm kiếm tình thân với các môn đồ của ông, hy vọng tranh thủ được sự hợp tác của họ để chống lại Đức Chúa Giê-su. Họ rêu rao rằng Đức Chúa Giê-su coi thường những truyền thống cổ xưa; và họ so sánh lòng sùng đạo nghiêm khắc của Giăng Báp-tít với cách thức của Đức Chúa Giê-su là ăn tiệc với những người thâu thuế và kẻ có tội. DA 276.2
Lúc bấy giờ các môn đồ của Giăng đang trong nỗi buồn lớn. Đó là trước khi họ đến gặp Đức Chúa Giê-su để chuyển lời nhắn của Giăng. Vị thầy yêu dấu của họ đang ở trong ngục, và họ trải qua những ngày đau buồn. Mà Đức Chúa Giê-su lại chẳng nỗ lực giải cứu Giăng, thậm chí dường như còn làm mất uy tín lời giảng dạy của ông. Nếu Giăng được Đức Chúa Trời sai phái, thì tại sao Đức Chúa Giê-su và các môn đồ Ngài lại theo một đường lối khác biệt đến vậy? DA 276.3
Các môn đồ của Giăng không hiểu rõ ràng về công việc của Đấng Christ; họ nghĩ có lẽ những lời cáo buộc của người Pha-ri-si có phần căn cứ nào đó. Họ tuân giữ nhiều quy tắc do các thầy thông giáo đặt ra, thậm chí còn hy vọng được xưng công bình bởi những việc làm của luật pháp. Sự kiêng ăn được người Do Thái thực hành như một hành động lập công, và những người nghiêm khắc nhất trong vòng họ kiêng ăn hai ngày mỗi tuần. Người Pha-ri-si và các môn đồ của Giăng đang kiêng ăn khi các môn đồ của Giăng đến hỏi Đức Chúa Giê-su rằng: “Cớ sao chúng tôi và những người Pha-ri-si kiêng ăn, còn môn đồ Thầy không kiêng ăn?” DA 276.4
Đức Chúa Giê-su đáp lời họ rất dịu dàng. Ngài không cố sửa lại quan niệm sai lầm của họ về sự kiêng ăn, mà chỉ chỉnh lại cho họ hiểu đúng về sứ mạng của chính Ngài. Và Ngài làm điều đó bằng cách dùng chính hình ảnh mà Giăng Báp-tít đã sử dụng trong lời chứng của ông về Đức Chúa Giê-su. Giăng đã nói:
“Ai mới cưới vợ, nấy là chàng rể, nhưng bạn của chàng rể đứng gần và nghe người, khi nghe tiếng của chàng rể thì rất đỗi vui mừng; ấy là sự vui mừng trọn vẹn của ta đó.” (Giăng 3:29)
Các môn đồ của Giăng không thể nào quên những lời này của thầy mình, khi Đức Chúa Giê-su tiếp lấy hình ảnh ấy mà phán: “Trong khi chàng rể còn ở cùng bạn hữu đến mừng cưới, các ngươi có thể nào bắt họ kiêng ăn được sao?” DA 276.5
Đấng Chủ Tể của thiên đàng đang ở giữa dân Ngài. Món quà lớn lao nhất của Đức Chúa Trời đã được ban cho thế gian. Niềm vui cho kẻ nghèo; vì Đấng Christ đã đến để khiến họ trở nên những người thừa kế nước Ngài. Niềm vui cho người giàu; vì Ngài sẽ dạy họ cách để chiếm được sự giàu có đời đời. Niềm vui cho kẻ dốt nát; Ngài sẽ khiến họ trở nên khôn ngoan để được cứu rỗi. Niềm vui cho người học thức; Ngài sẽ mở ra cho họ những mầu nhiệm sâu xa hơn bất cứ điều gì họ từng dò thấu; những lẽ thật đã được giấu kín từ buổi sáng thế sẽ được sứ mạng của Đấng Cứu Thế bày tỏ cho loài người. DA 277.1
Giăng Báp-tít đã vui mừng được chiêm ngưỡng Đấng Cứu Thế. Vậy thì cớ sao các môn đồ được đặc ân bước đi và trò chuyện cùng Đấng Tôn Nghiêm của thiên đàng lại không vui mừng! Đây không phải là lúc để họ than khóc và kiêng ăn. Họ phải mở rộng tấm lòng để tiếp nhận ánh sáng vinh hiển của Ngài, hầu cho họ có thể chiếu rọi ánh sáng trên những ai đang ngồi trong sự tối tăm và bóng của sự chết. DA 277.2
Đó là một bức tranh rạng rỡ mà những lời của Đấng Christ đã gợi lên, nhưng phủ ngang trên đó là một bóng tối nặng nề, mà chỉ một mình mắt Ngài nhận thấy. Ngài phán: “Song đến ngày kia, khi chàng rể sẽ bị cất khỏi họ, thì họ mới kiêng ăn trong những ngày ấy.” Khi họ thấy Chúa mình bị phản và bị đóng đinh, các môn đồ sẽ than khóc và kiêng ăn. Trong những lời cuối cùng Ngài phán với họ tại phòng cao, Ngài nói:
“Đức Chúa Giê-su hiểu ý môn đồ muốn hỏi, bèn phán rằng: Ta vừa nói: Còn ít lâu các ngươi sẽ chẳng thấy ta; rồi ít lâu nữa các ngươi lại thấy ta; các ngươi đương hỏi nhau về nghĩa câu ấy đó chi. Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, các ngươi sẽ khóc lóc, than vãn, còn người đời sẽ mừng rỡ; các ngươi sẽ ở trong sự lo buồn, nhưng sự lo buồn các ngươi sẽ đổi làm vui vẻ.” (Giăng 16:19-20)
DA 277.3
Khi Ngài ra khỏi mồ, nỗi buồn của họ sẽ trở nên niềm vui. Sau khi Ngài thăng thiên, Ngài sẽ vắng mặt về phần thân thể; nhưng qua Đấng Yên Ủi, Ngài vẫn ở cùng họ, và họ không nên dùng thì giờ của mình để than khóc. Đó chính là điều Sa-tan muốn. Hắn mong họ tạo cho thế gian ấn tượng rằng họ đã bị lừa dối và thất vọng; nhưng bởi đức tin, họ phải hướng nhìn lên đền thánh ở trên cao, nơi Đức Chúa Giê-su đang thi hành chức vụ vì họ; họ phải mở rộng tấm lòng cho Đức Thánh Linh, là Đấng đại diện của Ngài, và vui mừng trong ánh sáng của sự hiện diện Ngài. Tuy nhiên những ngày cám dỗ và thử thách sẽ đến, khi họ bị đưa vào cuộc xung đột với những kẻ cầm quyền của thế gian này, và những kẻ lãnh đạo của vương quốc tối tăm; khi Đấng Christ không hiện diện về phần thân thể với họ, và họ không nhận ra Đấng Yên Ủi, thì khi ấy sự kiêng ăn sẽ thích hợp hơn cho họ. DA 277.4
Người Pha-ri-si tìm cách tự đề cao mình qua việc tuân giữ nghiêm ngặt các hình thức, trong khi lòng họ đầy dẫy sự ghen ghét và tranh cạnh. Kinh Thánh phán:
“Thật, các ngươi kiêng ăn để tìm sự cãi cọ tranh cạnh, đến nỗi nắm tay đánh nhau cộc cằn; các ngươi kiêng ăn trong ngày như vậy, thì tiếng các ngươi chẳng được nghe thấu nơi cao. Đó há phải là sự kiêng ăn mà ta chọn lựa, há phải là ngày người ta dằn lòng mình đâu? Cúi đầu như cây sậy, nằm trên bao gai và trên tro, đó há phải điều ngươi gọi là kiêng ăn, là ngày đẹp lòng Đức Giê-hô-va sao?” (Ê-sai 58:4-5)
DA 278.1
Sự kiêng ăn chân thật không phải chỉ là một nghi lễ hình thức. Kinh Thánh mô tả sự kiêng ăn mà Đức Chúa Trời đã chọn—“mở xiềng hung ác, tháo những gánh nặng, thả cho kẻ bị ức hiếp được tự do, bẻ gãy mọi ách;” đem “lòng nhân từ giúp kẻ đói, và làm cho linh hồn khốn khổ được no nê.”
“Sự kiêng ăn mà ta chọn lựa, há chẳng phải là bẻ những xiềng hung ác, mở những trói của ách, thả cho kẻ bị ức hiếp được tự do, bẻ gãy mọi ách, hay sao? nếu ngươi mở lòng cho kẻ đói, và làm no kẻ khốn khổ, thì sự sáng ngươi sẽ sáng ra trong tối tăm, và sự tối tăm ngươi sẽ như ban trưa.” (Ê-sai 58:6,10)
Nơi đây bày tỏ chính tinh thần và tánh hạnh của công việc Đấng Christ. Cả cuộc đời Ngài là một sự hy sinh chính mình để cứu vớt thế gian. Dù khi kiêng ăn trong đồng vắng cám dỗ hay khi ăn uống với những người thâu thuế tại tiệc của Ma-thi-ơ, Ngài đều đang dâng sự sống mình vì sự cứu chuộc kẻ hư mất. Tinh thần sùng đạo chân thật không tỏ ra trong sự than khóc vô ích, trong sự hạ mình về phần xác thịt và vô số của lễ, nhưng được biểu lộ trong sự từ bỏ chính mình để hầu việc Đức Chúa Trời và loài người cách sẵn lòng. DA 278.2
Tiếp tục câu trả lời cho các môn đồ của Giăng, Đức Chúa Giê-su phán một thí dụ rằng: “Không ai vá miếng nỉ mới vào áo cũ; vì nếu làm vậy, miếng nỉ mới sẽ chằng rách áo cũ, mà đàng rách càng xấu thêm.” Sứ điệp của Giăng Báp-tít không nên bị đan dệt vào truyền thống và mê tín. Việc cố pha trộn sự giả hình của người Pha-ri-si với lòng sùng kính của Giăng chỉ làm cho sự cách biệt giữa hai bên càng rõ ràng hơn. DA 278.3
Các nguyên tắc trong sự dạy dỗ của Đấng Christ cũng không thể hòa hợp với những hình thức của chủ nghĩa Pha-ri-si. Đấng Christ không đến để hàn gắn lại sự rạn nứt đã được tạo nên bởi những lời dạy của Giăng. Ngài muốn làm cho sự phân biệt giữa cái cũ và cái mới càng rõ ràng hơn. Đức Chúa Giê-su tiếp tục minh họa sự thật này khi phán: “Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ; nếu vậy, rượu mới làm vỡ bầu ra, rượu chảy mất và bầu cũng phải hư đi.” Những bầu da được dùng làm bình chứa rượu mới, sau một thời gian trở nên khô và giòn, rồi không còn dùng vào việc ấy được nữa. Trong sự minh họa quen thuộc này, Đức Chúa Giê-su trình bày tình trạng của các nhà lãnh đạo Do Thái. Các thầy tế lễ, các thầy thông giáo và các nhà cầm quyền đã bị mắc kẹt trong lối mòn của những nghi lễ và truyền thống. Lòng họ đã trở nên co rút, giống như những bầu da khô héo mà Ngài đã so sánh họ với chúng. Khi họ vẫn còn thỏa mãn với một tôn giáo của luật pháp, thì họ không thể nào trở thành những người lưu giữ lẽ thật sống động của thiên đàng. Họ cho rằng sự công bình của riêng mình là đầy đủ cả, và không mong muốn một yếu tố mới được đem vào tôn giáo của họ. Họ không tiếp nhận thiện ý của Đức Chúa Trời đối với loài người như một điều gì đó tách biệt khỏi chính họ. Họ gắn nó với công đức của riêng mình vì những việc lành họ làm. Đức tin hành động bởi tình yêu thương và thanh tẩy linh hồn không thể nào tìm được chỗ để hòa hợp với tôn giáo của người Pha-ri-si, vốn được tạo nên bởi những nghi lễ và những điều răn dạy của loài người. Nỗ lực hòa hợp những lời dạy của Đức Chúa Giê-su với tôn giáo đã được thiết lập sẽ là vô ích. Lẽ thật sống động của Đức Chúa Trời, giống như rượu đang lên men, sẽ làm vỡ tung những bầu da cũ kỹ, mục nát của truyền thống Pha-ri-si. DA 278.4
Người Pha-ri-si tự cho mình quá khôn ngoan đến nỗi không cần được dạy dỗ, quá công bình đến nỗi không cần sự cứu rỗi, quá được tôn trọng đến nỗi không cần sự tôn vinh đến từ Đấng Christ. Đấng Cứu Thế quay khỏi họ để tìm những người khác sẽ tiếp nhận sứ điệp của thiên đàng. Nơi những người đánh cá ít học, nơi người thâu thuế tại chợ búa, nơi người phụ nữ Sa-ma-ri, nơi dân thường vui mừng lắng nghe Ngài, Ngài đã tìm được những bầu da mới cho rượu mới. Những công cụ được dùng trong công việc tin lành chính là những linh hồn vui mừng tiếp nhận ánh sáng mà Đức Chúa Trời ban cho họ. Đó là những phương tiện của Ngài để truyền bá sự hiểu biết về lẽ thật cho thế gian. Nếu nhờ ân điển của Đấng Christ mà dân sự Ngài trở thành những bầu da mới, thì Ngài sẽ đổ đầy họ với rượu mới. DA 279.1
Sự dạy dỗ của Đấng Christ, dù được tượng trưng bởi rượu mới, không phải là một giáo lý mới, mà là sự bày tỏ những điều đã được dạy dỗ từ ban đầu. Nhưng đối với người Pha-ri-si, lẽ thật của Đức Chúa Trời đã mất đi ý nghĩa và vẻ đẹp nguyên thủy của nó. Đối với họ, sự dạy dỗ của Đấng Christ là mới mẻ trong hầu hết mọi phương diện, và nó không được nhận ra cũng không được thừa nhận. DA 279.2
Đức Chúa Giê-su chỉ ra quyền lực của sự dạy dỗ sai lạc trong việc hủy hoại sự trân trọng và lòng khao khát lẽ thật. Ngài phán: “Lại không ai uống rượu cũ lại đòi rượu mới; vì người nói rằng: Rượu cũ ngon hơn.” Tất cả lẽ thật đã được ban cho thế gian qua các tổ phụ và các tiên tri đã chiếu sáng trong vẻ đẹp mới mẻ qua lời của Đấng Christ. Nhưng các thầy thông giáo và người Pha-ri-si không hề khao khát rượu mới quý báu ấy. Cho đến khi nào được dốc sạch khỏi những truyền thống, phong tục và tập quán cũ, thì trong tâm trí hay trong lòng họ vẫn không có chỗ cho những lời dạy của Đấng Christ. Họ bám víu vào những hình thức chết, và quay khỏi lẽ thật sống động cùng quyền năng của Đức Chúa Trời. DA 279.3
Chính điều này đã chứng tỏ là sự diệt vong của người Do Thái, và nó cũng sẽ chứng tỏ là sự diệt vong của nhiều linh hồn trong thời đại chúng ta. Hàng ngàn người đang phạm cùng một sai lầm như người Pha-ri-si mà Đấng Christ đã quở trách tại bữa tiệc của Ma-thi-ơ. Thay vì từ bỏ một ý tưởng yêu thích nào đó, hoặc loại bỏ một thần tượng của quan điểm, nhiều người chối từ lẽ thật đến từ Cha của sự sáng. Họ tin cậy bản thân, và nương dựa vào sự khôn ngoan của riêng mình, mà không nhận ra sự nghèo nàn thuộc linh của họ. Họ cứ khăng khăng muốn được cứu bằng một cách nào đó mà qua đó họ có thể thực hiện được một công việc quan trọng. Khi họ thấy rằng không có cách nào để đan dệt bản thân vào trong công việc ấy, thì họ chối từ sự cứu rỗi đã được ban cho. DA 280.1
Một tôn giáo của luật pháp không bao giờ có thể dẫn các linh hồn đến với Đấng Christ; vì đó là một tôn giáo vô tình yêu thương, không có Đấng Christ. Sự kiêng ăn hay cầu nguyện được thúc đẩy bởi tinh thần tự xưng công bình là điều gớm ghiếc trước mặt Đức Chúa Trời. Buổi nhóm trọng thể để thờ phượng, chuỗi các nghi lễ tôn giáo, sự hạ mình bề ngoài, của lễ phô trương, tất cả đều tuyên bố rằng người làm những điều này tự xem mình là công bình, và đáng được lên thiên đàng; nhưng đó hoàn toàn là một sự lừa dối. Những việc làm của riêng chúng ta không bao giờ có thể mua được sự cứu rỗi. DA 280.2
Như trong những ngày của Đấng Christ, ngày nay cũng vậy; người Pha-ri-si không biết sự nghèo nàn thuộc linh của mình. Sứ điệp đến với họ rằng: “Vả, ngươi nói: Ta giàu, ta nên giàu có rồi, không cần chi nữa; song ngươi không biết rằng mình khổ sở, khốn khó, nghèo ngặt, đui mù và lõa lồ. Ta khuyên ngươi hãy mua vàng thử lửa của ta, hầu cho ngươi trở nên giàu có; mua những áo trắng, hầu cho ngươi được mặc vào và điều xấu hổ về sự trần truồng ngươi khỏi lộ ra.” Khải Huyền 3:17, 18. Đức tin và tình yêu thương là vàng đã được thử trong lửa. Nhưng nơi nhiều người, vàng ấy đã trở nên lu mờ, và kho báu quý giá đã bị đánh mất. Đối với họ, sự công bình của Đấng Christ giống như một chiếc áo chưa từng mặc, một nguồn suối chưa từng chạm đến. Đối với họ có lời phán: “Nhưng điều ta trách ngươi, là ngươi đã bỏ lòng kính mến ban đầu. Vậy hãy nhớ lại ngươi đã sa sút từ đâu, hãy ăn năn và làm lại những công việc ban đầu của mình; bằng chẳng vậy, ta sẽ đến cùng ngươi, nếu ngươi không ăn năn thì ta sẽ cất chân đèn của ngươi khỏi chỗ nó.” Khải Huyền 2:4, 5. DA 280.3
“Của lễ đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là tâm thần đau thương: Đức Chúa Trời ôi! lòng đau thương thống hối Chúa không khinh dể đâu.” Thi Thiên 51:17. Con người phải được dốc sạch khỏi bản thân trước khi có thể, theo nghĩa trọn vẹn nhất, trở thành một người tin nơi Đức Chúa Giê-su. Khi cái tôi được từ bỏ, thì Chúa có thể khiến con người trở nên một tạo vật mới. Những bầu da mới có thể chứa đựng rượu mới. Tình yêu thương của Đấng Christ sẽ ban sự sống mới cho người tin. Trong người ngước nhìn lên Đấng Khởi Đầu và Hoàn Tất đức tin của chúng ta, tánh hạnh của Đấng Christ sẽ được tỏ ra. DA 280.4