“Chúa Có Thể Khiến Tôi Sạch Được”

Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 8:2-4; Ma-thi-ơ 9:1-8; Ma-thi-ơ 9:32-34; Mác 1:40-45; Mác 2:1-12; Lu-ca 5:12-28. DA 262.1

Trong tất cả các bệnh tật được biết đến ở phương Đông, bệnh phung là đáng sợ nhất. Đặc tính nan y và lây nhiễm của nó, cùng với tác động khủng khiếp lên những nạn nhân, khiến cho ngay cả những người gan dạ nhất cũng phải khiếp sợ. Đối với người Do Thái, nó được coi là sự phán xét vì cớ tội lỗi, và do đó được gọi là “tai họa”, “ngón tay của Đức Chúa Trời.” Ăn sâu, không thể chữa khỏi, gây chết người, nó được xem như một biểu tượng của tội lỗi. Theo luật nghi lễ, người phung bị tuyên bố là ô uế. Như một kẻ đã chết, người ấy bị loại khỏi nơi cư trú của loài người. Bất cứ vật gì người ấy chạm đến đều trở nên ô uế. Không khí bị ô nhiễm bởi hơi thở của người ấy. Ai bị nghi ngờ mắc bệnh phải trình diện trước các thầy tế lễ, là những người sẽ khám và quyết định trường hợp của người ấy. Nếu bị tuyên bố là người phung, người ấy bị cách ly khỏi gia đình, bị cắt khỏi hội chúng Y-sơ-ra-ên, và phải chịu cảnh chỉ được kết bạn với những người cùng cảnh ngộ. Luật pháp ấy không khoan nhượng trong yêu cầu của nó. Ngay cả các vua và quan cũng không được miễn trừ. Một quân vương bị căn bệnh khủng khiếp này tấn công phải từ bỏ vương trượng và trốn khỏi xã hội. DA 262.2

Xa rời bạn bè và thân thuộc, người phung phải mang lấy lời rủa sả của căn bệnh mình. Người ấy buộc phải công bố tai họa của chính mình, phải xé áo và phát đi lời báo động, cảnh báo mọi người hãy tránh xa sự hiện diện gây lây nhiễm của mình. Tiếng kêu “Ô uế! Ô uế!” vọng ra trong giọng điệu thê lương từ kẻ lưu đày cô độc, là một dấu hiệu được nghe với nỗi sợ hãi và ghê tởm. DA 262.3

Trong vùng có chức vụ của Đấng Christ, có nhiều người mang bệnh như vậy, và tin tức về công việc của Ngài đã đến với họ, thắp lên một tia hy vọng. Nhưng kể từ thời tiên tri Ê-li-sê, một việc như thế chưa từng được biết đến là sự tẩy sạch một người đã bị căn bệnh này bám lấy. Họ không dám trông đợi Đức Chúa Giê-su làm cho mình điều Ngài chưa từng làm cho bất cứ ai. Tuy nhiên, có một người mà trong lòng đức tin bắt đầu nảy nở. Nhưng người ấy không biết làm sao đến được với Đức Chúa Giê-su. Bị ngăn cản tiếp xúc với đồng loại, làm sao người ấy có thể trình diện trước Đấng Chữa Lành? Và người ấy tự hỏi liệu Đấng Christ có chữa lành cho mình không. Liệu Ngài có hạ mình để đoái đến một kẻ bị tin là đang chịu khổ dưới sự phán xét của Đức Chúa Trời chăng? Liệu Ngài có giống như người Pha-ri-si, và ngay cả các thầy thuốc, tuyên bố một lời rủa sả trên người ấy, và cảnh báo người ấy hãy trốn khỏi nơi loài người lui tới chăng? Người ấy nghĩ đến tất cả những gì đã được kể cho mình về Đức Chúa Giê-su. Không một ai từng tìm kiếm sự giúp đỡ của Ngài mà bị từ chối. Con người khốn khổ ấy quyết tâm tìm Đấng Cứu Thế. Dù bị loại khỏi các thành phố, có lẽ người ấy có thể gặp Ngài trên một lối đi nào đó dọc theo các con đường núi, hoặc tìm thấy Ngài khi Ngài đang dạy dỗ bên ngoài các thị trấn. Những khó khăn thật lớn lao, nhưng đây là hy vọng duy nhất của người ấy. DA 262.4

Người phung được dẫn đến Đấng Cứu Thế. Đức Chúa Giê-su đang dạy dỗ bên bờ hồ, và dân chúng tụ tập quanh Ngài. Đứng từ xa, người phung nghe được vài lời từ môi Đấng Cứu Thế. Người ấy thấy Ngài đặt tay trên kẻ đau. Người ấy thấy kẻ què, kẻ mù, kẻ bại, và những người đang hấp hối vì đủ thứ bệnh tật được đứng dậy khỏe mạnh, ngợi khen Đức Chúa Trời vì sự giải cứu của họ. Đức tin được củng cố trong lòng người ấy. Người ấy đến gần hơn, gần hơn nữa với đám đông đang tụ họp. Những hạn chế đặt trên người ấy, sự an toàn của dân chúng, và nỗi sợ hãi mà mọi người dành cho người ấy đều bị quên đi. Người ấy chỉ nghĩ đến niềm hy vọng phước hạnh được chữa lành. DA 263.1

Người ấy là một cảnh tượng ghê tởm. Căn bệnh đã tàn phá khủng khiếp, và thân thể đang rữa nát của người ấy thật kinh khủng khi nhìn vào. Trông thấy người ấy, dân chúng kinh hoàng lùi lại. Họ chen lấn nhau trong nỗi vội vàng muốn tránh tiếp xúc với người ấy. Một số người cố ngăn người ấy đến gần Đức Chúa Giê-su, nhưng vô ích. Người ấy chẳng thấy cũng chẳng nghe họ. Những lời ghê tởm của họ chẳng có tác dụng gì với người ấy. Người ấy chỉ thấy Con Đức Chúa Trời. Người ấy chỉ nghe tiếng phán sự sống cho kẻ hấp hối. Tiến đến gần Đức Chúa Giê-su, người ấy phủ phục dưới chân Ngài mà kêu lên rằng: “Lạy Chúa, nếu Chúa khứng, chắc có thể làm cho tôi sạch được.” DA 263.2

Đức Chúa Giê-su đáp: “Ta khứng, hãy sạch đi,” và đặt tay trên người ấy. Ma-thi-ơ 8:3, R. V. DA 263.3

Lập tức một sự thay đổi xảy đến trên người phung. Thịt người ấy trở nên lành lặn, các dây thần kinh nhạy cảm, các cơ bắp rắn chắc. Bề mặt sần sùi, có vảy đặc trưng của bệnh phung biến mất, và một sắc da mịn màng, như trên làn da của một đứa trẻ khỏe mạnh, thế chỗ vào. DA 263.4

Đức Chúa Giê-su dặn người ấy đừng cho ai biết về công việc đã được thực hiện, nhưng hãy lập tức trình diện cùng với một của lễ tại đền thờ. Của lễ như vậy không thể được chấp nhận cho đến khi các thầy tế lễ đã khám xét và tuyên bố người ấy hoàn toàn khỏi bệnh. Dù họ có thể miễn cưỡng đến đâu trong việc thực hiện công việc này, họ cũng không thể tránh né việc khám xét và quyết định trường hợp ấy. DA 264.1

Lời của Kinh Thánh cho thấy Đấng Christ đã khẩn thiết nhấn mạnh với người ấy về sự cần thiết phải im lặng và hành động mau lẹ như thế nào. “Tức thì Ðức Chúa Jêsus cho người ấy ra, lấy giọng nghiêm phán rằng: Hãy giữ chớ tỏ điều đó cùng ai; song khá đi tỏ mình cùng thầy tế lễ, và vì người được sạch, hãy dâng của lễ theo như Môi-se dạy, để điều đó làm chứng cho họ.” Nếu các thầy tế lễ biết được sự thật về việc chữa lành người phung, lòng căm ghét của họ đối với Đấng Christ có thể đã dẫn họ đến chỗ đưa ra một phán quyết bất công. Đức Chúa Giê-su muốn người ấy trình diện tại đền thờ trước khi có bất kỳ lời đồn nào về phép lạ đến tai họ. Như vậy, một quyết định công bằng có thể được bảo đảm, và người phung được phục hồi sẽ được phép một lần nữa đoàn tụ với gia đình và bạn bè mình. DA 264.2

Có những mục đích khác mà Đấng Christ nhắm đến khi truyền cho người ấy phải im lặng. Đấng Cứu Thế biết rằng kẻ thù của Ngài luôn tìm cách giới hạn công việc của Ngài và làm cho dân chúng xa rời Ngài. Ngài biết rằng nếu việc chữa lành người phung được loan truyền khắp nơi, những người khác mắc căn bệnh khủng khiếp này sẽ chen chúc quanh Ngài, và sẽ dấy lên tiếng kêu rằng dân chúng sẽ bị lây nhiễm khi tiếp xúc với họ. Nhiều người phung sẽ không sử dụng món quà sức khỏe để biến nó thành phước hạnh cho chính mình hay cho người khác. Và bằng cách thu hút những người phung đến quanh mình, Ngài sẽ tạo cớ cho lời buộc tội rằng Ngài đang phá vỡ những hạn chế của luật nghi lễ. Như vậy, công việc rao giảng tin lành của Ngài sẽ bị cản trở. DA 264.3

Sự việc đã chứng minh lời cảnh báo của Đấng Christ là đúng. Một đám đông dân chúng đã chứng kiến việc chữa lành người phung, và họ háo hức muốn biết quyết định của các thầy tế lễ. Khi người ấy trở về với bạn bè mình, có sự náo động lớn. Bất kể lời dặn dò của Đức Chúa Giê-su, người ấy không nỗ lực thêm để giấu sự thật về việc mình được chữa lành. Quả thật, sẽ không thể nào giấu được điều ấy, nhưng người phung đã loan truyền việc đó ra khắp nơi. Tưởng rằng chỉ vì sự khiêm nhường của Đức Chúa Giê-su mà Ngài đặt hạn chế này trên mình, người ấy đi khắp nơi rao truyền quyền năng của Đấng Chữa Lành Vĩ Đại này. Người ấy không hiểu rằng mỗi sự biểu lộ như vậy khiến các thầy tế lễ và trưởng lão càng quyết tâm hơn trong việc tiêu diệt Đức Chúa Giê-su. Người được phục hồi cảm thấy ân huệ sức khỏe thật quý báu vô cùng. Người ấy vui mừng trong sức lực của tuổi tráng niên, và trong sự được phục hồi với gia đình và xã hội, và cảm thấy không thể nào kiềm chế việc dâng vinh hiển cho Đấng Thầy Thuốc đã làm cho mình lành lặn. Nhưng hành động loan truyền việc ấy khắp nơi của người ấy đã dẫn đến việc cản trở công việc của Đấng Cứu Thế. Nó khiến dân chúng kéo đến với Ngài đông đảo đến nỗi Ngài buộc phải ngưng công việc của mình trong một thời gian. DA 264.4

Mọi hành động trong chức vụ của Đấng Christ đều có mục đích sâu rộng. Nó bao hàm nhiều hơn những gì hiện ra trong chính hành động ấy. Trường hợp người phung cũng vậy. Trong khi Đức Chúa Giê-su phục vụ tất cả những ai đến cùng Ngài, Ngài cũng khao khát ban phước cho những ai chưa đến. Trong khi Ngài thu hút những người thâu thuế, dân ngoại, và người Sa-ma-ri, Ngài cũng mong mỏi đến được với các thầy tế lễ và thầy dạy luật là những người bị giam hãm bởi thành kiến và truyền thống. Ngài không bỏ qua phương cách nào để có thể đến được với họ. Khi sai người phung được chữa lành đến với các thầy tế lễ, Ngài đã ban cho họ một bằng chứng có khả năng tháo gỡ những thành kiến của họ. DA 265.1

Người Pha-ri-si đã khẳng định rằng sự dạy dỗ của Đấng Christ chống nghịch với luật pháp mà Đức Chúa Trời đã ban qua Môi-se; nhưng lời chỉ dẫn của Ngài cho người phung được sạch phải dâng một của lễ theo luật pháp đã bác bỏ lời buộc tội này. Đó là bằng chứng đủ cho tất cả những ai sẵn lòng được thuyết phục. DA 265.2

Các nhà lãnh đạo tại Giê-ru-sa-lem đã phái những kẻ do thám đi tìm cớ để giết Đấng Christ. Ngài đáp lại bằng cách ban cho họ một bằng chứng về tình yêu thương của Ngài đối với nhân loại, lòng tôn kính của Ngài đối với luật pháp, và quyền năng của Ngài để giải cứu khỏi tội lỗi và sự chết. Như vậy, Ngài làm chứng về họ rằng:

“Chúng nó lấy dữ trả lành, Lấy ghét báo thương.” (Thi-thiên 109:5)

Đấng đã ban điều răn trên núi rằng: “Hãy yêu kẻ thù nghịch mình,” thì chính Ngài đã làm gương cho nguyên tắc ấy, không lấy “ác trả ác, hoặc lời rủa sả trả lời rủa sả; trái lại, phải chúc phước.” Ma-thi-ơ 5:44; 1 Phi-e-rơ 3:9. DA 265.3

Cũng chính những thầy tế lễ đã lên án người phung phải bị trục xuất nay xác nhận sự lành bệnh của người. Bản án này, được công bố và ghi nhận công khai, là một bằng chứng lâu dài cho Đấng Christ. Và khi người được chữa lành được phục hồi vào trong hội chúng Y-sơ-ra-ên, dựa trên chính lời bảo đảm của các thầy tế lễ rằng nơi người không còn dấu vết của bệnh tật, thì chính người là một nhân chứng sống cho Đấng Ân Nhân của mình. Người vui mừng dâng của lễ và tôn cao danh Đức Chúa Giê-su. Các thầy tế lễ bị thuyết phục về quyền năng thiên thượng của Đấng Cứu Thế. Cơ hội được ban cho họ để biết lẽ thật và để hưởng lợi từ ánh sáng. Nếu bị khước từ, ánh sáng ấy sẽ qua đi, không bao giờ trở lại. Nhiều người đã khước từ ánh sáng; nhưng nó không được ban ra cách vô ích. Nhiều tấm lòng được cảm động dù trong một thời gian không tỏ ra dấu hiệu gì. Trong cuộc đời của Đấng Cứu Thế, sứ mạng của Ngài dường như khơi dậy rất ít sự đáp lại bằng tình yêu thương từ các thầy tế lễ và các thầy dạy luật; nhưng sau khi Ngài thăng thiên, “cũng có rất nhiều thầy tế lễ vâng theo đạo nữa.” Công vụ 6:7. DA 265.4

Công việc của Đấng Christ trong việc làm sạch người phung khỏi căn bệnh khủng khiếp của người là một minh họa cho công việc của Ngài trong việc tẩy sạch linh hồn khỏi tội lỗi. Người đến cùng Đức Chúa Giê-su “mình đầy những phung.” Chất độc chết người của nó thấm vào toàn thân người. Các môn đồ tìm cách ngăn Thầy mình đụng đến người ấy; vì ai đụng đến người phung thì chính mình trở nên ô uế. Nhưng khi đặt tay trên người phung, Đức Chúa Giê-su không hề bị ô uế. Sự đụng chạm của Ngài truyền ban quyền năng ban sự sống. Bệnh phung được làm sạch. Tội lỗi cũng như bệnh phung vậy—ăn sâu, chết người, và không thể nào được tẩy sạch bởi quyền năng con người. “Cả đầu đều đau đớn, cả lòng đều mòn mỏi. Từ bàn chân cho đến đỉnh đầu, chẳng có chỗ nào lành; rặt những vết thương, vít sưng cùng lằn mới.” Ê-sai 1:5, 6. Nhưng Đức Chúa Giê-su, khi đến ngự trong nhân tánh, không hề bị nhiễm ô. Sự hiện diện của Ngài có quyền năng chữa lành cho kẻ có tội. Bất cứ ai chịu sấp mình dưới chân Ngài, lấy đức tin mà thưa rằng: “Lạy Chúa, nếu Chúa khứng, chắc có thể làm cho tôi được sạch,” thì sẽ nghe lời đáp: “Ta khứng, hãy sạch đi.” Ma-thi-ơ 8:2, 3. DA 266.1

Trong một số trường hợp chữa lành, Đức Chúa Giê-su không ban ngay phước lành được cầu xin. Nhưng trong trường hợp bệnh phung, vừa khi lời cầu xin được thốt ra thì liền được nhậm. Khi chúng ta cầu xin các phước lành thuộc về trần thế, lời đáp cho lời cầu nguyện của chúng ta có thể bị trì hoãn, hoặc Đức Chúa Trời có thể ban cho chúng ta điều khác hơn điều chúng ta cầu xin, nhưng không phải vậy khi chúng ta cầu xin sự giải cứu khỏi tội lỗi. Ý muốn của Ngài là làm sạch chúng ta khỏi tội lỗi, làm cho chúng ta trở nên con cái Ngài, và ban năng lực cho chúng ta sống một đời sống thánh khiết. Đấng Christ “đã phó mình vì tội lỗi chúng ta, hầu cho cứu chúng ta khỏi đời ác nầy, y theo ý muốn Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta.” Ga-la-ti 1:4. Và “nầy là điều chúng ta dạn dĩ ở trước mặt Chúa, nếu chúng ta theo ý muốn Ngài mà cầu xin việc gì, thì Ngài nghe chúng ta. Nếu chúng ta biết không cứ mình xin điều gì, Ngài cũng nghe chúng ta, thì chúng ta biết mình đã nhận lãnh điều mình xin Ngài.” 1 Giăng 5:14, 15. “Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác.” 1 Giăng 1:9. DA 266.2

Trong việc chữa lành người bại tại Ca-bê-na-um, Đấng Christ lại một lần nữa dạy dỗ cùng một lẽ thật ấy. Phép lạ được thực hiện là để bày tỏ quyền năng tha tội của Ngài. Và việc chữa lành người bại cũng minh họa những lẽ thật quý báu khác. Nó đầy hy vọng và sự khích lệ, và qua mối liên hệ với những người Pha-ri-si hay bắt bẻ, nó cũng chứa đựng một bài học cảnh báo nữa. DA 267.1

Cũng như người phung, người bại này đã mất hết hy vọng được lành bệnh. Bệnh tật của người là kết quả của một đời sống tội lỗi, và sự đau đớn của người càng thêm cay đắng bởi nỗi hối hận. Từ lâu trước đó, người đã cầu cứu nơi những người Pha-ri-si và các thầy thuốc, hy vọng được giải thoát khỏi nỗi khổ tâm và sự đau đớn thể xác. Nhưng họ lạnh lùng tuyên bố rằng người không thể chữa được, và bỏ mặc người cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Những người Pha-ri-si xem hoạn nạn là bằng chứng của sự bất bình của Đức Chúa Trời, và họ giữ mình xa cách những người đau ốm và thiếu thốn. Tuy nhiên, chính những kẻ tự tôn mình là thánh thiện này lại thường có tội nhiều hơn những người chịu khổ mà họ đã lên án. DA 267.2

Người bại hoàn toàn bất lực, và khi không thấy hy vọng được cứu giúp từ bất cứ nơi nào, người đã chìm vào nỗi tuyệt vọng. Rồi người nghe tin về những công việc lạ lùng của Đức Chúa Giê-su. Người được kể cho biết rằng những người khác cũng tội lỗi và bất lực như người đã được chữa lành; ngay cả những người phung cũng được làm sạch. Và những người bạn thuật lại những điều này khích lệ người tin rằng người cũng có thể được chữa lành nếu được khiêng đến cùng Đức Chúa Giê-su. Nhưng hy vọng của người tan biến khi người nhớ lại bệnh tật ấy đã đến trên mình mình như thế nào. Người sợ rằng vị Lương Y thanh sạch sẽ không dung chịu mình trước mặt Ngài. DA 267.3

Tuy nhiên, điều người mong muốn không phải là sự phục hồi thể xác cho bằng sự giải thoát khỏi gánh nặng tội lỗi. Nếu người có thể thấy Đức Chúa Giê-su, và nhận được sự bảo đảm về sự tha thứ và bình an với Thiên đàng, thì người sẽ vui lòng sống hay chết, tùy theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Tiếng kêu của người hấp hối là: Ôi, ước gì tôi được đến trước mặt Ngài! Không còn thời gian để mất; thân thể tiều tụy của người đã hiện rõ dấu hiệu tan rã. Người nài xin các bạn mình khiêng người trên giường đến cùng Đức Chúa Giê-su, và họ vui lòng làm việc đó. Nhưng đám đông tụ tập trong và quanh nhà nơi Đấng Cứu Thế đang ở thì quá chen chúc, đến nỗi người bệnh và các bạn không thể nào đến gần Ngài, hay thậm chí đến trong tầm nghe được tiếng của Ngài. DA 267.4

Đức Chúa Giê-su đang giảng dạy trong nhà của Phi-e-rơ. Theo thói quen của mình, các môn đồ ngồi sát quanh Ngài, và “có mấy người Pha-ri-si và mấy thầy dạy luật từ các làng xứ Ga-li-lê, xứ Giu-đê, và thành Giê-ru-sa-lem đều đến mà ngồi đó.” Những người này đến với tư cách là kẻ do thám, tìm cách buộc tội Đức Chúa Giê-su. Ngoài những quan chức này còn có đám đông hỗn tạp chen chúc, người thì háo hức, người thì kính cẩn, người thì hiếu kỳ, và người thì không tin. Đủ mọi dân tộc và mọi giai tầng xã hội đều có mặt. “Quyền phép Chúa ở trong Ngài để chữa lành các bịnh.” Thần linh ban sự sống bao trùm trên hội chúng, nhưng những người Pha-ri-si và các thầy dạy luật không nhận biết sự hiện diện của Ngài. Họ không cảm thấy mình có nhu cầu gì, và sự chữa lành không dành cho họ. “Ngài đã làm cho kẻ đói được đầy thức ngon, và đuổi kẻ giàu về tay không.” Lu-ca 1:53. DA 267.5

Hết lần này đến lần khác, những người khiêng người bại cố gắng lách qua đám đông, nhưng vô ích. Người bệnh nhìn quanh trong nỗi đau đớn không thể tả. Khi sự cứu giúp hằng mong mỏi đã gần kề như vậy, làm sao người có thể từ bỏ hy vọng? Theo lời đề nghị của người, các bạn khiêng người lên mái nhà và, dỡ mái ra, dòng người xuống ngay dưới chân Đức Chúa Giê-su. Bài giảng bị gián đoạn. Đấng Cứu Thế nhìn vào gương mặt sầu thảm, và thấy đôi mắt nài xin chăm chú nhìn Ngài. Ngài hiểu rõ hoàn cảnh; chính Ngài đã thu hút linh hồn bối rối và nghi ngờ ấy đến với mình. Khi người bại còn ở nhà, Đấng Cứu Thế đã đem sự thức tỉnh đến cho lương tâm người. Khi người ăn năn tội lỗi mình và tin nơi quyền năng của Đức Chúa Giê-su để làm cho mình được lành, thì lòng thương xót ban sự sống của Đấng Cứu Thế trước hết đã ban phước cho tấm lòng khao khát của người. Đức Chúa Giê-su đã trông xem tia đức tin đầu tiên lớn dần thành niềm tin rằng Ngài là Đấng cứu giúp duy nhất của kẻ có tội, và đã thấy nó càng thêm mạnh mẽ với mỗi nỗ lực đến gần trước mặt Ngài. DA 268.1

Bấy giờ, bằng những lời êm dịu như tiếng nhạc bên tai người chịu khổ, Đấng Cứu Thế phán: “Hỡi con, hãy vững lòng, tội lỗi con đã được tha.” DA 268.2

Gánh nặng tuyệt vọng lăn khỏi linh hồn người bệnh; sự bình an của ơn tha thứ ngự trên thần linh người, và chiếu rọi trên gương mặt người. Cơn đau thể xác của người tiêu tan, và toàn bộ con người người được biến đổi. Người bại bất lực được chữa lành! Kẻ có tội phạm tội được tha thứ! DA 268.3

Với đức tin đơn sơ, người tiếp nhận lời của Đức Chúa Giê-su như ân tứ của sự sống mới. Người không nài xin thêm điều gì nữa, nhưng nằm trong sự im lặng hạnh phúc, vui mừng quá đỗi không thốt nên lời. Ánh sáng của thiên đàng tỏa rạng trên gương mặt người, và dân chúng kinh ngạc nhìn cảnh tượng ấy. DA 268.4

Các thầy ra-bi đã hồi hộp chờ xem Đấng Christ sẽ giải quyết trường hợp này ra sao. Họ nhớ lại người này đã kêu cầu họ giúp đỡ thế nào, và họ đã từ chối ban cho ông niềm hy vọng hay sự cảm thông. Chưa thỏa lòng với điều đó, họ còn tuyên bố rằng ông đang chịu sự rủa sả của Đức Chúa Trời vì tội lỗi mình. Những điều này lại hiện lên tươi mới trong tâm trí họ khi họ thấy người bệnh ở trước mặt. Họ nhận thấy sự quan tâm mà mọi người đang theo dõi cảnh tượng ấy, và họ cảm thấy một nỗi sợ hãi kinh khủng rằng mình sẽ mất đi ảnh hưởng đối với dân chúng. DA 268.5

Những bậc chức sắc này không trao đổi lời nào với nhau, nhưng khi nhìn vào mặt nhau, họ đọc thấy cùng một ý nghĩ trong mỗi người, rằng phải làm điều gì đó để chặn đứng làn sóng cảm xúc này. Đức Chúa Giê-su đã tuyên bố rằng tội lỗi của người bại liệt được tha. Người Pha-ri-si chộp lấy những lời này cho là phạm thượng, và nghĩ rằng họ có thể trình bày đây như một tội đáng chết. Họ tự nhủ trong lòng,

“Sao người này nói như vậy? Người nói phạm thượng đó! Ngoài một mình Đức Chúa Trời, còn có ai tha tội được chăng?” (Mác 2:7)

DA 269.1

Đức Chúa Giê-su nhìn chăm vào họ, dưới ánh nhìn đó họ co rúm lại và lùi ra sau, Ngài phán,

“Song Đức Chúa Giê-su biết ý tưởng mấy thầy đó, thì phán rằng: Nhân sao trong lòng các ngươi có ác tưởng làm vậy? Trong hai lời này: Một là nói, tội lỗi ngươi đã được tha; hai là nói, ngươi hãy đứng dậy mà đi, thì lời nào dễ nói hơn? Vả, hầu cho các ngươi biết Con người ở thế gian có quyền tha tội. Rồi Ngài phán cùng người bại rằng: Hãy đứng dậy, vác lấy giường, mà trở về nhà ngươi.” (Ma-thi-ơ 9:4-6)

Ngài quay sang người bại liệt và phán: “Hãy chờ dậy, vác giường đi về nhà ngươi.” DA 269.2

Rồi người vừa được khiêng đến với Đức Chúa Giê-su trên cáng đứng dậy với sự dẻo dai và sức lực của tuổi thanh xuân. Dòng máu ban sự sống dồn dập chảy qua các mạch của ông. Mỗi cơ quan trong thân thể ông bỗng nhiên hoạt động. Sắc hồng của sức khỏe thay thế cho sự xanh xao của cái chết đang đến gần. “Tức thì người đứng dậy, vác giường đi ra trước mặt thiên hạ; đến nỗi ai nấy đều lấy làm lạ, ngợi khen Đức Chúa Trời, mà rằng: Chúng tôi chưa hề thấy việc thể nầy.” DA 269.3

Ôi, tình yêu thương kỳ diệu của Đấng Christ, hạ mình xuống để chữa lành kẻ có tội và người đau khổ! Thần tánh sầu khổ về và xoa dịu những bệnh tật của nhân loại đau thương! Ôi, quyền năng diệu kỳ được tỏ bày như vậy cho con cái loài người! Ai có thể nghi ngờ sứ điệp cứu rỗi? Ai có thể coi nhẹ lòng thương xót của Đấng Cứu Chuộc đầy lòng trắc ẩn? DA 269.4

Phải có quyền năng sáng tạo không kém mới có thể phục hồi sức khỏe cho thân thể đang mục nát ấy. Cũng chính tiếng phán đã ban sự sống cho người được dựng nên từ bụi đất đã phán sự sống cho người bại liệt đang hấp hối. Và cũng chính quyền năng đã ban sự sống cho thân thể đã đổi mới tấm lòng. Đấng mà tại buổi sáng thế “đã phán, thì việc liền có,” Đấng đã “ra lịnh, thì vật bèn vững bền,” (Thi-thiên 33:9), đã phán sự sống cho linh hồn chết trong sự vi phạm và tội lỗi. Sự chữa lành thân thể là một bằng chứng về quyền năng đã đổi mới tấm lòng. Đấng Christ truyền cho người bại liệt chờ dậy và bước đi, Ngài phán, “hầu cho các ngươi biết rằng Con người ở thế gian có quyền tha tội.” DA 269.5

Người bại liệt đã tìm thấy nơi Đấng Christ sự chữa lành cho cả linh hồn lẫn thân thể. Sự chữa lành thuộc linh được tiếp nối bởi sự phục hồi thuộc thể. Bài học này không nên bị bỏ qua. Ngày nay có hàng ngàn người đau khổ vì bệnh tật thân thể, giống như người bại liệt, đang khao khát sứ điệp, “Tội lỗi ngươi đã được tha.” Gánh nặng tội lỗi, với sự bất an và những ham muốn không được thỏa mãn, là nền tảng của những căn bệnh của họ. Họ không thể tìm được sự nhẹ nhõm cho đến khi họ đến với Đấng Chữa Lành linh hồn. Sự bình an mà chỉ một mình Ngài có thể ban cho sẽ truyền sức mạnh cho tâm trí và sức khỏe cho thân thể. DA 270.1

Đức Chúa Giê-su đã đến để “phá hủy công việc của ma quỷ.” “Trong Ngài có sự sống,” và Ngài phán, “Ta đã đến, hầu cho chiên được sự sống, và được sự sống dư dật.” Ngài là “thần ban sự sống.” 1 Giăng 3:8; Giăng 1:4; 10:10; 1 Cô-rinh-tô 15:45. Và Ngài vẫn còn có cùng quyền năng ban sự sống như khi ở trên đất Ngài đã chữa lành kẻ bệnh tật và phán sự tha thứ cho kẻ có tội. Ngài “tha thứ các tội ác ngươi,” Ngài “chữa lành các bịnh tật ngươi.” Thi-thiên 103:3. DA 270.2

Ảnh hưởng tạo ra trên dân chúng bởi sự chữa lành người bại liệt giống như thể thiên đàng đã mở ra và bày tỏ những vinh quang của thế giới tốt đẹp hơn. Khi người vừa được chữa lành đi qua đám đông, ngợi khen Đức Chúa Trời từng bước, và mang lấy gánh nặng của mình nhẹ như chiếc lông chim, dân chúng tránh ra nhường chỗ cho ông, và với gương mặt đầy kinh ngạc nhìn chăm vào ông, khẽ thì thầm với nhau, “Hôm nay chúng ta đã thấy những việc lạ thường.” DA 270.3

Người Pha-ri-si câm lặng vì kinh ngạc và bị áp đảo bởi sự thất bại. Họ thấy rằng nơi đây không có cơ hội nào cho lòng ghen tị của họ kích động đám đông. Công việc kỳ diệu được làm ra trên người mà họ đã phó cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đã gây ấn tượng cho dân chúng đến nỗi các thầy ra-bi tạm thời bị lãng quên. Họ thấy rằng Đấng Christ có một quyền năng mà họ đã gán riêng cho Đức Chúa Trời; tuy nhiên phong thái dịu dàng đầy uy nghi của Ngài tương phản rõ rệt với thái độ kiêu căng của chính họ. Họ bối rối và xấu hổ, nhận biết, nhưng không thừa nhận, sự hiện diện của một Đấng cao cả hơn. Bằng chứng càng mạnh mẽ rằng Đức Chúa Giê-su có quyền tha tội ở thế gian, thì họ càng cố thủ chắc hơn trong sự chẳng tin. Từ nhà của Phi-e-rơ, nơi họ đã thấy người bại liệt được phục hồi bởi lời Ngài, họ ra đi để bày ra những âm mưu mới nhằm làm câm lặng Con Đức Chúa Trời. DA 270.4

Bệnh tật thuộc thể, dù hiểm độc và ăn sâu đến đâu, cũng được chữa lành bởi quyền năng của Đấng Christ; nhưng căn bệnh của linh hồn lại bám chặt hơn trên những kẻ nhắm mắt lại trước ánh sáng. Bệnh phung và bệnh bại liệt không đáng sợ bằng sự cố chấp và sự chẳng tin. DA 271.1

Trong gia đình của người bại liệt được chữa lành có niềm vui mừng lớn lao khi ông trở về với người thân, mang một cách dễ dàng chiếc giường mà chỉ ít lâu trước đó người ta đã chậm rãi khiêng ông đi khỏi trước mặt họ. Họ tụ tập quanh ông với những giọt nước mắt vui mừng, hầu như chẳng dám tin vào mắt mình. Ông đứng trước họ trong sức lực tràn đầy của một người trưởng thành. Những cánh tay mà họ đã từng thấy bất động nay nhanh nhẹn vâng theo ý muốn của ông. Da thịt đã từng teo tóp và xám xịt nay tươi tắn và hồng hào. Ông bước đi với bước chân vững chắc, thoải mái. Niềm vui và hy vọng được khắc trên từng nét của gương mặt ông; và một vẻ tinh khiết và bình an đã thay thế cho những dấu vết của tội lỗi và đau khổ. Lời tạ ơn mừng rỡ dâng lên từ gia đình ấy, và Đức Chúa Trời được tôn vinh qua Con Ngài, Đấng đã phục hồi hy vọng cho kẻ tuyệt vọng, và sức lực cho người bị đánh ngã. Người này và gia đình ông sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì Đức Chúa Giê-su. Không một sự nghi ngờ nào làm mờ đức tin của họ, không một sự chẳng tin nào làm hư hỏng lòng trung thành của họ đối với Đấng đã đem ánh sáng vào căn nhà tăm tối của họ. DA 271.2