Tiếng Gọi Bên Bờ Biển
Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 4:18-22; Mác 1:16-20; Lu-ca 5:1-11. DA 244.1
Ngày đang ló dạng trên Biển Ga-li-lê. Các môn đồ, mệt mỏi sau một đêm lao nhọc mà chẳng được gì, vẫn còn ở trong những chiếc thuyền đánh cá của họ trên hồ. Đức Chúa Giê-su đã đến để dành một giờ tĩnh lặng bên bờ nước. Vào lúc sáng sớm, Ngài mong có được một quãng thời gian ngắn nghỉ ngơi khỏi đám đông cứ ngày này qua ngày khác theo Ngài. Nhưng chẳng bao lâu dân chúng bắt đầu vây quanh Ngài. Số người gia tăng nhanh chóng, đến nỗi Ngài bị chen lấn tứ phía. Trong khi đó các môn đồ đã cập bến. Để thoát khỏi sự chen lấn của đám đông, Đức Chúa Giê-su bước vào thuyền của Phi-e-rơ, và bảo ông chèo ra xa bờ một chút. Tại đây mọi người có thể nhìn thấy và nghe Đức Chúa Giê-su rõ hơn, và từ trên thuyền Ngài dạy dỗ đám đông trên bãi biển. DA 244.2
Đối với các thiên sứ, đây là một cảnh tượng đáng để chiêm nghiệm biết bao; Vị Thống Lãnh vinh hiển của họ, ngồi trong chiếc thuyền của người đánh cá, bị những con sóng không ngừng lay động tới lui, và rao truyền tin lành cứu rỗi cho đoàn người lắng nghe đang chen lấn nhau xuống sát mé nước! Đấng được tôn trọng nơi thiên đàng đang công bố những điều trọng đại của vương quốc Ngài ngoài trời, cho thường dân. Thế nhưng Ngài không thể có một bối cảnh nào thích hợp hơn cho công việc của Ngài. Hồ nước, núi non, những cánh đồng trải rộng, ánh nắng tràn ngập mặt đất, tất cả đều cung cấp những hình ảnh để minh họa cho các bài học của Ngài và in sâu chúng vào tâm trí. Và không bài học nào của Đấng Christ rơi xuống mà vô ích. Mỗi sứ điệp từ môi miệng Ngài đến với một linh hồn nào đó như lời sự sống đời đời. DA 244.3
Mỗi khoảnh khắc lại thêm người vào đám đông trên bờ. Những cụ già chống gậy, những nông dân rắn rỏi từ vùng đồi núi, những người đánh cá từ công việc nhọc nhằn trên hồ, các thương gia và các thầy thông giáo, người giàu có và người học thức, già lẫn trẻ, đem theo những người bệnh tật và đau khổ của họ, chen lấn nhau để nghe lời của Vị Thầy thiên thượng. Chính những cảnh tượng như thế này mà các tiên tri đã trông đợi, và họ đã viết: DA 245.1
“Dân đi trong nơi tối tăm đã thấy sự sáng lớn; và sự sáng đã chiếu trên những kẻ ở xứ thuộc về bóng của sự chết. Chúa đã làm cho dân này thêm nhiều; và thêm sự vui cho họ. Mọi người đều vui mừng trước mặt Chúa, như vui mừng trong ngày mùa gặt, như người ta reo vui trong lúc chia của cướp.” (Ê-sai 9:1-2)
DA 245.2
Ngoài đám đông trên bờ Ghê-nê-xa-rết, trong bài giảng bên biển ấy, Đức Chúa Giê-su còn có những thính giả khác trong tâm trí Ngài. Nhìn xuyên suốt các thời đại, Ngài thấy những kẻ trung thành của Ngài đang ở trong ngục tù và pháp đình, trong cám dỗ, cô đơn và hoạn nạn. Mỗi cảnh tượng vui mừng, xung đột và bối rối đều bày ra trước mắt Ngài. Trong những lời nói với những người tụ họp quanh Ngài, Ngài cũng đang nói với những linh hồn khác ấy chính những lời mà sẽ đến với họ như một sứ điệp của hy vọng trong thử thách, của niềm an ủi trong đau buồn, và ánh sáng thiên thượng trong tối tăm. Qua Đức Thánh Linh, tiếng nói đang phán ra từ chiếc thuyền của người đánh cá trên Biển Ga-li-lê ấy, sẽ được nghe phán sự bình an cho tấm lòng con người cho đến tận cuối thời gian. DA 245.3
Bài giảng kết thúc, Đức Chúa Giê-su quay sang Phi-e-rơ, và bảo ông chèo ra biển, thả lưới xuống để đánh cá. Nhưng Phi-e-rơ thì nản lòng. Suốt đêm ông chẳng đánh được gì. Trong những giờ cô đơn ấy, ông đã nghĩ đến số phận của Giăng Báp-tít, người đang héo hon một mình trong ngục tối. Ông đã nghĩ đến viễn cảnh trước mắt Đức Chúa Giê-su và những người theo Ngài, đến sự thất bại của công cuộc truyền giáo ở Giu-đê, và đến lòng hiểm độc của các thầy tế lễ và các thầy thông giáo. Ngay cả nghề nghiệp của chính ông cũng đã làm ông thất vọng; và khi ông nhìn những tấm lưới trống không, tương lai dường như tối tăm với sự ngã lòng. Ông thưa: “Thưa Thầy, chúng tôi đã làm việc suốt đêm chẳng bắt được chi hết; dầu vậy, tôi cũng theo lời Thầy mà thả lưới.” DA 245.4
Ban đêm là thời điểm thuận lợi duy nhất để đánh lưới trong làn nước trong vắt của hồ. Sau khi làm việc suốt đêm mà không thành công, việc thả lưới giữa ban ngày dường như là vô vọng; nhưng Đức Chúa Giê-su đã ra lệnh, và lòng yêu mến Thầy mình đã thúc đẩy các môn đồ vâng lời. Si-môn và em ông cùng nhau thả lưới xuống. Khi họ cố kéo lưới lên, số cá bắt được nhiều đến nỗi lưới bắt đầu rách. Họ buộc phải gọi Gia-cơ và Giăng đến giúp. Khi đã thu được mẻ cá, cả hai chiếc thuyền đều chở nặng đến nỗi gần chìm. DA 246.1
Nhưng lúc này Phi-e-rơ không còn để ý đến thuyền hay cá nữa. Phép lạ này, hơn bất kỳ phép lạ nào khác mà ông từng chứng kiến, đối với ông là một sự bày tỏ quyền năng thiên thượng. Nơi Đức Chúa Giê-su, ông thấy một Đấng nắm giữ cả thiên nhiên trong sự kiểm soát của Ngài. Sự hiện diện của thần tánh phơi bày sự bất khiết của chính ông. Lòng yêu mến Thầy mình, sự xấu hổ vì lòng vô tín của chính mình, lòng biết ơn vì sự hạ mình của Đấng Christ, và trên hết, cảm nhận về sự ô uế của mình trước sự thanh sạch vô hạn, đã tràn ngập tâm hồn ông. Trong khi các bạn ông đang thu lấy mẻ cá trong lưới, Phi-e-rơ phục dưới chân Đấng Cứu Thế, kêu lên rằng: “Lạy Chúa, xin Ngài lìa khỏi con, vì con là người có tội.” DA 246.2
Cũng chính sự hiện diện của sự thánh khiết thiên thượng ấy đã khiến tiên tri Đa-ni-ên ngã xuống như chết trước thiên sứ của Đức Chúa Trời. Ông nói: “Mặt ta biến sắc cho đến tái xanh, và ta chẳng còn sức nữa.” Cũng vậy, khi Ê-sai chiêm ngưỡng sự vinh hiển của Chúa, ông kêu lên rằng: “Khốn nạn cho tôi! Xong đời tôi rồi! Vì tôi là người có môi dơ dáy, ở giữa một dân có môi dơ dáy, bởi mắt tôi đã thấy Vua, tức là Đức Giê-hô-va vạn quân!” Đa-ni-ên 10:8; Ê-sai 6:5. Nhân tánh, với sự yếu đuối và tội lỗi của nó, được đặt tương phản với sự trọn vẹn của thần tánh, và ông cảm thấy mình hoàn toàn thiếu sót và bất khiết. Hết thảy những ai đã được ban cho một cái nhìn về sự cao cả và uy nghi của Đức Chúa Trời đều như vậy. DA 246.3
Phi-e-rơ kêu lên rằng: “Xin Ngài lìa khỏi con, vì con là người có tội;” thế nhưng ông vẫn bám lấy chân Đức Chúa Giê-su, cảm thấy rằng ông không thể nào bị tách rời khỏi Ngài. Đấng Cứu Thế đáp: “Đừng sợ chi, từ nay trở đi, ngươi sẽ nên tay đánh lưới người.” Chính sau khi Ê-sai đã chiêm ngưỡng sự thánh khiết của Đức Chúa Trời và sự bất xứng của chính mình mà ông được giao phó sứ điệp thiên thượng. Chính sau khi Phi-e-rơ được dẫn đến chỗ từ bỏ chính mình và nương cậy vào quyền năng thiên thượng mà ông nhận được sự kêu gọi vào công việc cho Đấng Christ. DA 246.4
Cho đến lúc này, chưa môn đồ nào hoàn toàn hiệp một làm bạn đồng công với Đức Chúa Giê-su. Họ đã chứng kiến nhiều phép lạ của Ngài, và đã lắng nghe lời dạy dỗ của Ngài; nhưng họ chưa hoàn toàn từ bỏ nghề nghiệp trước kia của mình. Việc Giăng Báp-tít bị tù đã là một sự thất vọng cay đắng cho tất cả họ. Nếu đó là kết cục của sứ mạng của Giăng, thì họ khó có thể hy vọng gì cho Thầy mình, khi mọi nhà lãnh đạo tôn giáo liên kết chống lại Ngài. Trong hoàn cảnh ấy, việc trở về với nghề đánh cá một thời gian ngắn là một sự khuây khỏa cho họ. Nhưng giờ đây Đức Chúa Giê-su kêu gọi họ từ bỏ đời sống cũ, và gắn liền lợi ích của họ với lợi ích của Ngài. Phi-e-rơ đã chấp nhận sự kêu gọi. Khi cập bến, Đức Chúa Giê-su bảo ba môn đồ kia: “Hãy theo ta, ta sẽ làm cho các ngươi nên tay đánh lưới người.” Lập tức họ bỏ hết thảy mà theo Ngài. DA 246.5
Trước khi yêu cầu họ rời bỏ lưới và thuyền đánh cá, Đức Chúa Giê-su đã ban cho họ sự bảo đảm rằng Đức Chúa Trời sẽ chu cấp những nhu cầu của họ. Việc dùng chiếc thuyền của Phi-e-rơ cho công việc của tin lành đã được đền đáp dồi dào. Đấng “ban ơn dư dật cho mọi kẻ kêu cầu đến Ngài” đã phán: “Hãy cho, người sẽ cho mình; họ sẽ lấy đấu lớn, nhận, lắc cho đầy tràn.” Rô-ma 10:12; Lu-ca 6:38. Bằng phép đo lường ấy Ngài đã thưởng cho công lao của môn đồ. Và mỗi sự hy sinh được làm trong chức vụ của Ngài sẽ được đền đáp tùy theo “sự giàu có dư dật của ân điển Ngài.” Ê-phê-sô 3:20; 2:7. DA 249.1
Trong đêm buồn thảm trên hồ ấy, khi họ bị tách rời khỏi Đấng Christ, các môn đồ bị lòng vô tín đè nặng, và mệt mỏi vì lao nhọc mà chẳng được gì. Nhưng sự hiện diện của Ngài đã khơi dậy đức tin của họ, và đem lại cho họ niềm vui và sự thành công. Đối với chúng ta cũng vậy; khi xa cách Đấng Christ, công việc của chúng ta là vô ích, và thật dễ ngờ vực và lằm bằm. Nhưng khi Ngài ở gần, và chúng ta làm việc dưới sự dẫn dắt của Ngài, chúng ta vui mừng trong bằng chứng về quyền năng của Ngài. Khiến cho linh hồn nản lòng là công việc của Sa-tan; đem lại cảm hứng bằng đức tin và hy vọng là công việc của Đấng Christ. DA 249.2
Bài học sâu xa hơn mà phép lạ này truyền đạt cho các môn đồ cũng là một bài học cho chúng ta — rằng Đấng mà lời phán của Ngài có thể gom cá lại từ biển cũng có thể cảm động tấm lòng con người, và lôi kéo họ bằng sợi dây yêu thương của Ngài, để các tôi tớ của Ngài có thể trở nên “tay đánh lưới người.” DA 249.3
Họ là những con người khiêm nhường và ít học, những người đánh cá vùng Ga-li-lê ấy; nhưng Đấng Christ, sự sáng của thế gian, dư sức trang bị cho họ để đảm nhận vị trí mà Ngài đã chọn họ. Đấng Cứu Thế không khinh thường sự học vấn; vì khi được tình yêu thương của Đức Chúa Trời chi phối và hiến dâng cho sự phục vụ Ngài, thì sự rèn luyện trí tuệ là một phước lành. Nhưng Ngài đã bỏ qua những người khôn ngoan của thời đại Ngài, bởi vì họ quá tự tin đến nỗi không thể đồng cảm với nhân loại đang đau khổ, và trở nên những bạn đồng lao với Người ở Na-xa-rét. Trong sự cố chấp của mình, họ khinh dể việc được Đấng Christ dạy dỗ. Đức Chúa Giê-su tìm kiếm sự hợp tác của những người sẵn lòng trở nên các kênh thông suốt để truyền đạt ân điển của Ngài. Điều đầu tiên mà tất cả những ai muốn trở nên người cùng làm việc với Đức Chúa Trời phải học là bài học về sự nghi ngờ chính mình; bấy giờ họ mới được chuẩn bị để được ban cho tánh hạnh của Đấng Christ. Điều này không thể đạt được qua sự giáo dục trong các trường khoa học nhất. Đó là bông trái của sự khôn ngoan chỉ có thể nhận được từ Đấng Giáo Sư thiêng liêng mà thôi. DA 249.4
Đức Chúa Giê-su chọn những người đánh cá ít học bởi vì họ chưa bị huấn luyện trong các truyền thống và những phong tục sai lạc của thời đại họ. Họ là những người có năng lực bẩm sinh, và họ khiêm nhường cùng dễ dạy—những người mà Ngài có thể giáo dục cho công việc của Ngài. Trong những bước đường thường nhật của cuộc đời, có biết bao người đang kiên nhẫn lê bước qua vòng lao động hằng ngày, mà không hề biết rằng mình sở hữu những năng lực mà, nếu được kêu gọi vào hành động, sẽ nâng họ lên ngang hàng với những người được tôn trọng nhất trên thế gian. Cần đến sự chạm đến của một bàn tay khéo léo để đánh thức những khả năng đang ngủ yên ấy. Chính những người như vậy mà Đức Chúa Giê-su đã kêu gọi làm bạn đồng lao của Ngài; và Ngài đã ban cho họ lợi ích của sự kết giao với chính Ngài. Chưa bao giờ những bậc vĩ nhân của thế gian có được một bậc thầy như thế. Khi các môn đồ ra khỏi sự rèn luyện của Đấng Cứu Thế, họ không còn dốt nát và thiếu giáo dục nữa. Họ đã trở nên giống như Ngài trong tâm trí và tánh hạnh, và người ta nhận biết rằng họ đã từng ở với Đức Chúa Giê-su. DA 250.1
Công việc cao quý nhất của sự giáo dục không phải chỉ là truyền đạt kiến thức, mà là truyền ban năng lực sống động được tiếp nhận qua sự tiếp xúc của tâm trí với tâm trí, và linh hồn với linh hồn. Chỉ có sự sống mới có thể sinh ra sự sống. Vậy thì đặc ân nào lớn hơn của những người trong ba năm được tiếp xúc hằng ngày với sự sống thiêng liêng ấy, từ đó đã tuôn chảy mọi sự thúc đẩy ban sự sống đã ban phước cho thế gian! Trên hết các bạn đồng hành của mình, Giăng, người môn đồ được yêu dấu, đã thuận phục mình cho quyền năng của sự sống kỳ diệu ấy. Ông nói:
“vì sự sống đã bày tỏ ra, chúng tôi có thấy, và đang làm chứng cho, chúng tôi rao truyền cho anh em sự sống đời đời vốn ở cùng Đức Chúa Cha và đã bày tỏ ra cho chúng tôi rồi; —” (I Giăng 1:2)
“Vả, bởi sự đầy dẫy của Ngài mà chúng ta đều có nhận được, và ơn càng thêm ơn.” (Giăng 1:16)
DA 250.2
Trong các sứ đồ của Chúa chúng ta không có điều gì đem vinh hiển về cho chính họ. Rõ ràng rằng sự thành công trong công lao của họ chỉ nhờ Đức Chúa Trời mà thôi. Cuộc đời của những người này, những tánh hạnh mà họ đã phát triển, và công việc lớn lao mà Đức Chúa Trời đã làm qua họ, là một bằng chứng về điều Ngài sẽ làm cho tất cả những ai dễ dạy và vâng lời. DA 250.3
Ai yêu mến Đấng Christ nhiều nhất sẽ làm được nhiều điều tốt lành nhất. Không có giới hạn nào cho sự hữu ích của một người, là kẻ bằng cách đặt cái tôi sang một bên, dành chỗ cho công việc của Đức Thánh Linh trong lòng mình, và sống một đời hoàn toàn hiến dâng cho Đức Chúa Trời. Nếu loài người chịu đựng kỷ luật cần thiết, mà không phàn nàn hay ngất xỉu giữa đường, thì Đức Chúa Trời sẽ dạy dỗ họ từng giờ và từng ngày. Ngài khao khát bày tỏ ân điển của Ngài. Nếu dân sự Ngài chịu dẹp bỏ những chướng ngại, thì Ngài sẽ đổ ra nguồn nước cứu rỗi trong những dòng suối dồi dào qua các kênh nhân loại. Nếu những người trong cuộc sống khiêm nhường được khích lệ làm tất cả điều tốt lành mà họ có thể làm, nếu không có những bàn tay kiềm chế đặt trên họ để dập tắt lòng sốt sắng của họ, thì sẽ có một trăm người làm việc cho Đấng Christ ở nơi mà hiện nay chỉ có một. DA 250.4
Đức Chúa Trời tiếp nhận loài người như chính họ, và giáo dục họ cho sự phục vụ Ngài, nếu họ chịu thuận phục Ngài. Thánh Linh của Đức Chúa Trời, được tiếp nhận vào linh hồn, sẽ làm sống động tất cả các khả năng của nó. Dưới sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh, tâm trí dâng trọn vẹn cho Đức Chúa Trời sẽ phát triển hài hòa, và được làm cho mạnh mẽ để hiểu biết và làm trọn những đòi hỏi của Đức Chúa Trời. Tánh hạnh yếu đuối, do dự được biến đổi thành một tánh hạnh mạnh mẽ và vững vàng. Sự hiến dâng liên tục thiết lập một mối quan hệ mật thiết giữa Đức Chúa Giê-su và môn đồ Ngài đến nỗi người Cơ-đốc trở nên giống như Ngài trong tâm trí và tánh hạnh. Qua sự kết nối với Đấng Christ, người ấy sẽ có những cái nhìn rõ ràng và rộng rãi hơn. Sự nhận thức của người sẽ thấu suốt hơn, sự phán đoán của người sẽ cân bằng tốt hơn. Ai khao khát phục vụ Đấng Christ thì được làm sống động bởi quyền năng ban sự sống của Mặt Trời Công Bình đến nỗi người có thể kết nhiều bông trái cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. DA 251.1
Những người có học vấn cao nhất trong các ngành nghệ thuật và khoa học đã học được những bài học quý báu từ những người Cơ-đốc trong cuộc sống khiêm nhường mà thế gian gọi là ít học. Nhưng những môn đồ thầm lặng ấy đã đạt được một sự giáo dục trong trường học cao quý nhất trong mọi trường học. Họ đã ngồi dưới chân Đấng phán dạy như “chưa hề có người nào phán dạy như vậy.” DA 251.2