“Há Chẳng Phải Là Con Người Thợ Mộc Sao?”

Chương này dựa trên Lu-ca 4:16-30. DA 236.1

Suốt những ngày tươi sáng của chức vụ Đấng Christ tại xứ Ga-li-lê, có một bóng tối phủ xuống. Dân thành Na-xa-rét đã chối bỏ Ngài. Họ nói: “Người nầy chẳng phải là con trai của người thợ mộc sao?” DA 236.2

Trong thời thơ ấu và niên thiếu, Đức Chúa Giê-su đã thờ phượng giữa vòng anh em mình trong nhà hội tại Na-xa-rét. Kể từ khi bắt đầu chức vụ, Ngài đã vắng mặt khỏi họ, nhưng họ chẳng phải không hay biết những điều đã xảy đến cho Ngài. Khi Ngài lại xuất hiện giữa vòng họ, sự chú ý và mong đợi của họ dấy lên đến tột độ. Nơi đây là những hình dáng và gương mặt quen thuộc của những người mà Ngài đã biết từ thuở ấu thơ. Nơi đây có mẹ Ngài, các anh em và chị em của Ngài, và mọi con mắt đều đổ dồn vào Ngài khi Ngài bước vào nhà hội trong ngày Sa-bát và ngồi vào chỗ giữa những người thờ phượng. DA 236.3

Trong buổi lễ thường lệ của ngày ấy, vị trưởng lão đọc sách các tiên tri và khuyên dân chúng cứ tiếp tục trông đợi Đấng sẽ đến, là Đấng sẽ thiết lập một triều đại vinh hiển và đánh đuổi mọi sự áp bức. Ông tìm cách khích lệ những người nghe bằng cách nhắc lại bằng chứng rằng sự đến của Đấng Mê-si đã gần. Ông mô tả sự vinh hiển của Đấng ấy khi đến, luôn nhấn mạnh ý tưởng rằng Ngài sẽ xuất hiện đứng đầu các đạo quân để giải cứu dân Y-sơ-ra-ên. DA 236.4

Khi có một thầy ra-bi hiện diện trong nhà hội, người ấy được trông đợi giảng bài giảng, và bất cứ người Y-sơ-ra-ên nào cũng có thể đọc sách các tiên tri. Trong ngày Sa-bát này, Đức Chúa Giê-su được mời tham gia vào buổi lễ. Ngài “đứng dậy đặng đọc. Có người trao sách tiên tri Ê-sai cho Ngài.” Lu-ca 4:16, 17, R. V., chú thích lề. Đoạn Kinh Thánh mà Ngài đọc là đoạn được hiểu là chỉ về Đấng Mê-si: DA 236.5

“Thần của Chúa ngự trên ta; Vì Ngài đã xức dầu cho ta đặng truyền tin lành cho kẻ nghèo; Ngài đã sai ta để rao cho kẻ bị cầm được tha, Kẻ mù được sáng, Kẻ bị hà hiếp được tự do; Và để đồn ra năm lành của Chúa.” (Lu-ca 4:18-19)

DA 237.1

“Đoạn, Ngài xếp sách, trả lại cho kẻ giúp việc… và mọi người trong nhà hội đều chăm chỉ ngó Ngài… Ai nấy đều làm chứng về Ngài, lấy làm lạ về các lời đầy ơn lành từ miệng Ngài ra.” Lu-ca 4:20-22, R. V., chú thích lề. DA 237.2

Đức Chúa Giê-su đứng trước dân chúng như một nhà giải nghĩa sống động về những lời tiên tri liên quan đến chính Ngài. Khi giải thích những lời Ngài vừa đọc, Ngài nói về Đấng Mê-si như Đấng an ủi kẻ bị áp bức, Đấng giải phóng kẻ bị cầm tù, Đấng chữa lành kẻ đau khổ, làm cho kẻ mù được sáng mắt, và bày tỏ cho thế gian ánh sáng của lẽ thật. Phong thái đầy ấn tượng của Ngài cùng ý nghĩa kỳ diệu của những lời Ngài đã làm rúng động những người nghe bằng một quyền năng mà họ chưa từng cảm nhận. Làn sóng ảnh hưởng thiêng liêng phá vỡ mọi rào cản; giống như Môi-se, họ chiêm ngưỡng Đấng Vô Hình. Khi lòng họ được Đức Thánh Linh cảm động, họ đáp lại bằng những lời a-men sốt sắng và lời ngợi khen Chúa. DA 237.3

Nhưng khi Đức Chúa Giê-su tuyên bố: “Hôm nay đã được ứng nghiệm lời Kinh Thánh nầy trước mặt các ngươi,” họ chợt được kéo về suy nghĩ đến chính mình và đến những lời tuyên bố của Đấng đã nói với họ. Họ, những người Y-sơ-ra-ên, con cháu Áp-ra-ham, đã bị mô tả như đang ở trong cảnh nô lệ. Họ đã được nói đến như những tù nhân cần được giải thoát khỏi quyền lực của điều ác; như đang ở trong tối tăm và cần ánh sáng của lẽ thật. Lòng kiêu hãnh của họ bị xúc phạm, và nỗi sợ hãi của họ bị khuấy động. Những lời của Đức Chúa Giê-su cho thấy rằng công việc của Ngài cho họ sẽ hoàn toàn khác với điều họ mong muốn. Những việc làm của họ có thể bị tra xét quá kỹ lưỡng. Mặc dù họ rất tỉ mỉ trong các nghi thức bề ngoài, họ vẫn co rúm trước sự xem xét của những con mắt trong sáng, dò xét ấy. DA 237.4

Họ thắc mắc: Đức Chúa Giê-su nầy là ai? Đấng đã tự nhận cho mình sự vinh hiển của Đấng Mê-si lại là con của một người thợ mộc, và đã làm nghề ấy với cha Ngài là Giô-sép. Họ đã thấy Ngài cực nhọc lên xuống các đồi núi, họ quen biết anh em và chị em Ngài, và biết rõ cuộc đời cùng công việc của Ngài. Họ đã thấy Ngài lớn lên từ thơ ấu đến niên thiếu, và từ niên thiếu đến tuổi trưởng thành. Mặc dù đời sống của Ngài không tì vết, họ vẫn không chịu tin rằng Ngài là Đấng đã được hứa ban. DA 237.5

Sự tương phản giữa lời dạy của Ngài về nước mới và điều họ đã nghe từ vị trưởng lão lớn biết bao! Đức Chúa Giê-su chẳng nói gì về việc giải cứu họ khỏi tay người La-mã. Họ đã nghe về các phép lạ của Ngài, và đã hy vọng quyền năng của Ngài sẽ được thi thố vì lợi ích của họ, nhưng họ chẳng thấy dấu hiệu nào của mục đích như vậy. DA 238.1

Khi họ mở cửa cho sự nghi ngờ, lòng họ trở nên cứng cỏi hơn vì đã được mềm lòng trong chốc lát. Sa-tan quyết định rằng những con mắt mù lòa sẽ không được mở ra trong ngày ấy, và những linh hồn bị trói buộc trong vòng nô lệ sẽ không được giải thoát. Với năng lực mãnh liệt, nó ra sức giam chặt họ trong sự chẳng tin. Họ chẳng để ý đến dấu hiệu đã được ban cho, khi họ đã bị xúc động bởi niềm xác tín rằng chính Đấng Cứu Chuộc của họ đang nói với họ. DA 238.2

Nhưng giờ đây Đức Chúa Giê-su ban cho họ một bằng chứng về thần tánh của Ngài bằng cách bày tỏ những tư tưởng thầm kín của họ.

“Ngài phán rằng: Chắc các ngươi lấy lời tục ngữ này mà nói cùng ta rằng: Hỡi thầy thuốc, hãy tự chữa lấy mình; mọi điều chúng ta nghe ngươi đã làm tại Ca-bê-na-um, thì cũng hãy làm tại đây, là quê hương ngươi. Ngài lại phán rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, không có một đấng tiên tri nào được trọng đãi trong quê hương mình. Ta nói thật cùng các ngươi, về đời Ê-li, khi trời đóng chặt trong ba năm sáu tháng, cả xứ bị đói kém, trong dân Y-sơ-ra-ên có nhiều đàn bà góa; dầu vậy, Ê-li chẳng được sai đến cùng một người nào trong đám họ, nhưng được sai đến cùng một đàn bà góa ở Sa-rép-ta, xứ Si-đôn. Trong đời đấng tiên tri Ê-li-sê, dân Y-sơ-ra-ên cũng có nhiều kẻ mắc tật phung; song không có ai lành sạch được, chỉ Na-a-man, người xứ Sy-ri mà thôi.” (Lu-ca 4:23-27)

DA 238.3

Bằng cách thuật lại những biến cố trong đời sống các tiên tri, Đức Chúa Giê-su đã đáp lại những thắc mắc của những người nghe Ngài. Những đầy tớ mà Đức Chúa Trời đã chọn cho một công việc đặc biệt không được phép lao nhọc cho một dân tộc cứng lòng và chẳng tin. Nhưng những ai có tấm lòng để cảm nhận và có đức tin để tin cậy thì được đặc biệt ưu đãi với những bằng chứng về quyền năng của Ngài qua các tiên tri. Trong thời Ê-li, dân Y-sơ-ra-ên đã lìa bỏ Đức Chúa Trời. Họ bám lấy tội lỗi mình và chối bỏ những lời cảnh báo của Thánh Linh qua các sứ giả của Chúa. Vì thế họ tự cắt đứt mình khỏi con đường mà phước lành của Đức Chúa Trời có thể đến với họ. Chúa đi ngang qua các nhà của dân Y-sơ-ra-ên, và tìm một nơi nương náu cho đầy tớ Ngài tại một xứ dân ngoại, nơi một người đàn bà không thuộc về dân được chọn. Nhưng người đàn bà này được ưu đãi vì bà đã đi theo ánh sáng mình đã nhận được, và lòng bà mở ra với ánh sáng lớn hơn mà Đức Chúa Trời đã ban cho bà qua tiên tri của Ngài. DA 238.4

Cũng vì lý do ấy mà trong thời Ê-li-sê, những kẻ phung của dân Y-sơ-ra-ên bị bỏ qua. Nhưng Na-a-man, một nhà quý tộc dân ngoại, đã trung thành với những điều ngay lành mình xác tín, và đã cảm thấy mình rất cần được giúp đỡ. Ông ở trong tình trạng có thể nhận lãnh các ân tứ của ân điển Đức Chúa Trời. Ông không chỉ được tẩy sạch khỏi bệnh phung, mà còn được ban phước với sự hiểu biết về Đức Chúa Trời chân thật. DA 239.1

Địa vị của chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời tùy thuộc, không phải vào lượng ánh sáng chúng ta đã nhận được, mà vào việc chúng ta sử dụng điều mình có như thế nào. Như vậy, ngay cả những người ngoại chọn điều ngay lành theo mức họ có thể phân biệt được cũng ở trong tình trạng thuận lợi hơn những kẻ đã có ánh sáng lớn, xưng mình phục vụ Đức Chúa Trời, nhưng lại coi thường ánh sáng, và bằng đời sống hằng ngày của họ làm mâu thuẫn với lời xưng nhận của mình. DA 239.2

Những lời của Đức Chúa Giê-su nói với những người nghe trong nhà hội đã đánh vào cội rễ của sự tự cho mình là công bình của họ, ép buộc họ phải đối diện với lẽ thật cay đắng rằng họ đã lìa bỏ Đức Chúa Trời và đánh mất quyền được gọi là dân của Ngài. Mỗi lời như lưỡi dao cắt vào lòng khi tình trạng thật của họ được phơi bày ra trước mắt. Giờ đây họ khinh dể đức tin mà Đức Chúa Giê-su lúc đầu đã khơi dậy trong họ. Họ không chịu thừa nhận rằng Đấng xuất thân từ cảnh nghèo khó và hèn hạ lại là điều gì khác hơn một người tầm thường. DA 239.3

Sự chẳng tin của họ sanh ra lòng hiểm độc. Sa-tan kiểm soát họ, và trong cơn thạnh nộ họ la lối chống lại Đấng Cứu Thế. Họ đã quay lưng khỏi Đấng có sứ mạng chữa lành và phục hồi; giờ đây họ biểu lộ những đặc tính của kẻ hủy diệt. DA 239.4

Khi Đức Chúa Giê-su nhắc đến các phước lành ban cho dân ngoại, lòng tự hào dân tộc mãnh liệt của những người nghe Ngài bị khơi dậy, và lời Ngài bị chìm lấp trong tiếng la ó hỗn loạn. Những người này từng tự hào về việc giữ luật pháp; nhưng giờ đây khi thành kiến của họ bị xúc phạm, họ sẵn sàng phạm tội giết người. Buổi nhóm tan vỡ, và họ đặt tay trên Đức Chúa Giê-su, đẩy Ngài ra khỏi nhà hội và ra khỏi thành. Tất cả dường như khao khát muốn hủy diệt Ngài. Họ vội vã kéo Ngài đến mép một vực sâu, định xô Ngài xuống. Tiếng la hét và những lời nguyền rủa vang đầy không trung. Một số người đang ném đá vào Ngài, thì bỗng nhiên Ngài biến mất khỏi giữa họ. Các sứ giả thiên đàng từng ở bên Ngài trong nhà hội cũng ở với Ngài giữa đám đông điên cuồng ấy. Họ che chở Ngài khỏi kẻ thù và dẫn Ngài đến nơi an toàn. DA 240.1

Cũng vậy, các thiên sứ đã bảo vệ Lót, và dẫn ông ra khỏi giữa thành Sô-đôm một cách an toàn. Cũng vậy, họ đã bảo vệ Ê-li-sê trong thành nhỏ trên núi. Khi những ngọn đồi bao quanh đầy ngựa và chiến xa của vua Sy-ri, cùng đoàn binh lính đông đảo của vua, Ê-li-sê thấy các sườn đồi gần hơn phủ đầy đạo binh của Đức Chúa Trời—ngựa và xe bằng lửa vây quanh tôi tớ của Chúa. DA 240.2

Cũng vậy, trong mọi thời đại, các thiên sứ luôn ở gần những kẻ trung tín theo Đấng Christ. Liên minh rộng lớn của sự dữ dàn trận chống lại tất cả những ai muốn đắc thắng; nhưng Đấng Christ muốn chúng ta nhìn vào những điều không trông thấy được, vào các đạo binh thiên đàng đóng trại quanh tất cả những ai yêu mến Đức Chúa Trời, để giải cứu họ. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được mình đã được gìn giữ khỏi bao nhiêu hiểm nguy, hữu hình và vô hình, nhờ sự can thiệp của các thiên sứ, cho đến khi trong ánh sáng của cõi đời đời chúng ta thấy được sự quan phòng của Đức Chúa Trời. Bấy giờ chúng ta sẽ biết rằng cả gia đình thiên đàng đã quan tâm đến gia đình dưới thế này, và rằng các sứ giả từ ngôi Đức Chúa Trời đã hộ tống bước chân chúng ta từng ngày một. DA 240.3

Khi Đức Chúa Giê-su đọc lời tiên tri trong nhà hội, Ngài đã dừng lại trước phần xác định cuối cùng liên quan đến công việc của Đấng Mê-si. Sau khi đọc câu “rao năm ban ơn của Đức Giê-hô-va,” Ngài bỏ qua cụm từ “và ngày báo thù của Đức Chúa Trời chúng ta.” Ê-sai 61:2. Đây cũng là chân lý chẳng kém phần đầu của lời tiên tri, và bằng sự im lặng của mình, Đức Chúa Giê-su không phủ nhận chân lý ấy. Nhưng câu cuối cùng này là điều mà những người nghe Ngài thích thú ngẫm nghĩ, và là điều họ mong muốn thực hiện. Họ kết án sự phán xét trên dân ngoại, mà không nhận biết rằng tội lỗi của chính họ còn lớn hơn tội lỗi của người khác. Chính họ mới là người cần nhất lòng thương xót mà họ sẵn sàng chối bỏ đối với dân ngoại. Ngày hôm ấy trong nhà hội, khi Đức Chúa Giê-su đứng giữa họ, là cơ hội để họ chấp nhận tiếng gọi của Thiên đàng. Đấng “vui thích sự nhân từ” (Mi-chê 7:18) hằng mong muốn cứu họ khỏi sự hủy diệt mà tội lỗi của họ đang mời gọi. DA 240.4

Ngài không thể từ bỏ họ nếu không kêu gọi họ ăn năn thêm một lần nữa. Vào cuối thời kỳ chức vụ của Ngài ở Ga-li-lê, Ngài lại đến thăm quê hương thời thơ ấu của mình. Kể từ khi Ngài bị từ chối tại đó, danh tiếng về sự giảng dạy và các phép lạ của Ngài đã lan khắp xứ. Bây giờ không ai có thể phủ nhận rằng Ngài sở hữu quyền năng vượt quá con người. Dân thành Na-xa-rét biết rằng Ngài đi khắp nơi làm điều lành và chữa lành mọi kẻ bị Sa-tan áp bức. Quanh họ có những làng mạc nguyên vẹn mà trong các nhà không còn một tiếng rên la vì bệnh tật; bởi Ngài đã đi qua đó và chữa lành mọi kẻ đau yếu của họ. Lòng thương xót được tỏ ra trong mỗi việc làm của đời Ngài đã làm chứng cho sự xức dầu thiêng liêng của Ngài. DA 241.1

Một lần nữa khi nghe lời Ngài, dân Na-xa-rét được Đức Thánh Linh cảm động. Nhưng ngay cả lúc ấy họ vẫn không chịu thừa nhận rằng Người này, từng được nuôi dưỡng giữa họ, lại khác hay cao trọng hơn chính họ. Ký ức cay đắng vẫn nhức nhối rằng trong khi Ngài tự xưng mình là Đấng Được Hứa, thì Ngài thực sự đã chối bỏ chỗ đứng của họ giữa Y-sơ-ra-ên; bởi Ngài đã cho thấy họ kém xứng đáng với ơn của Đức Chúa Trời hơn cả một người ngoại đạo nam và nữ. Vì thế dù họ hỏi nhau, “Bởi đâu mà người này được khôn ngoan và những phép lạ này?” họ vẫn không tiếp nhận Ngài làm Đấng Christ của Đức Chúa Trời. Vì lòng vô tín của họ, Đấng Cứu Thế không thể làm nhiều phép lạ giữa họ. Chỉ một ít lòng mở ra đón nhận phước lành của Ngài, và Ngài đã ra đi cách miễn cưỡng, chẳng bao giờ trở lại. DA 241.2

Lòng vô tín, một khi đã được ấp ủ, tiếp tục cai trị người dân thành Na-xa-rét. Nó cũng cai trị Tòa Công luận và cả dân tộc. Đối với các thầy tế lễ và dân chúng, lần đầu tiên chối bỏ sự biểu lộ quyền năng của Đức Thánh Linh chính là khởi đầu của sự cuối cùng. Để chứng tỏ rằng sự kháng cự ban đầu của họ là đúng, từ đó về sau họ tiếp tục bắt bẻ lời của Đấng Christ. Sự chối bỏ Đức Thánh Linh của họ lên đến tột đỉnh nơi thập tự giá Gô-gô-tha, trong sự tàn phá thành của họ, và trong sự tan tác của dân tộc theo các hướng gió trời. DA 241.3

Ôi, Đấng Christ đã khao khát biết bao được mở ra cho Y-sơ-ra-ên những kho báu quý giá của chân lý! Nhưng sự mù lòa thuộc linh của họ lớn đến nỗi không thể bày tỏ cho họ những chân lý liên quan đến nước Ngài. Họ bám lấy tín điều và các nghi lễ vô ích của họ trong khi chân lý của Thiên đàng đang chờ họ chấp nhận. Họ tiêu tiền cho trấu và vỏ, trong khi bánh sự sống ở ngay trong tầm với của họ. Tại sao họ không đến với lời Đức Chúa Trời và tra xét cách cần mẫn để biết mình có lầm lạc hay không? Kinh Thánh Cựu Ước đã trình bày rõ ràng mọi chi tiết về chức vụ của Đấng Christ, và hết lần này đến lần khác Ngài trích dẫn lời các tiên tri và tuyên bố, “Hôm nay đã được ứng nghiệm lời Kinh Thánh mà các ngươi mới vừa nghe đó.” Nếu họ thành thật tra xét Kinh Thánh, đem các lý thuyết của mình thử nghiệm với lời Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Giê-su đã chẳng cần phải khóc thương sự cứng lòng không ăn năn của họ. Ngài đã chẳng cần phải tuyên bố, “Nầy, nhà các ngươi sẽ bỏ hoang.” Lu-ca 13:35. Họ lẽ ra đã có thể biết rõ bằng chứng về cương vị Đấng Mê-si của Ngài, và tai họa đã đặt thành kiêu hãnh của họ thành đống đổ nát lẽ ra đã có thể tránh được. Nhưng tâm trí của người Do Thái đã trở nên hẹp hòi bởi sự cố chấp vô lý của họ. Những bài học của Đấng Christ phơi bày những khuyết điểm trong tánh nết của họ và đòi hỏi sự ăn năn. Nếu họ chấp nhận lời dạy của Ngài, thì cách sống của họ phải thay đổi, và những hy vọng được ấp ủ phải bị từ bỏ. Để được Thiên đàng tôn trọng, họ phải hy sinh sự tôn trọng của loài người. Nếu họ vâng theo lời của vị thầy mới này, họ phải đi ngược lại quan điểm của những nhà tư tưởng và những bậc thầy vĩ đại của thời đại. DA 241.4

Chân lý không được ưa chuộng trong thời của Đấng Christ. Nó cũng không được ưa chuộng trong thời đại chúng ta. Nó đã không được ưa chuộng kể từ khi Sa-tan lần đầu khiến con người chán ghét nó bằng cách trình bày những chuyện hoang đường dẫn đến sự tự tôn. Ngày nay chẳng phải chúng ta cũng gặp những lý thuyết và giáo lý không có nền tảng trong lời Đức Chúa Trời hay sao? Con người bám chặt lấy chúng cũng như người Do Thái bám lấy các truyền thống của mình. DA 242.1

Các lãnh đạo Do Thái đầy lòng kiêu hãnh thuộc linh. Lòng khao khát tôn vinh bản thân của họ bộc lộ ngay cả trong việc phục vụ nơi đền thánh. Họ thích những chỗ ngồi cao trọng nhất trong nhà hội. Họ thích được chào hỏi ngoài chợ, và lấy làm thỏa lòng khi nghe những danh hiệu của mình trên môi người ta. Khi lòng tin kính chân thật suy giảm, họ càng ghen tị giữ gìn các truyền thống và nghi lễ của mình. DA 242.2

Vì sự hiểu biết của họ bị tối tăm bởi thành kiến ích kỷ, họ không thể dung hòa quyền năng của những lời cáo trách của Đấng Christ với sự khiêm nhường trong đời sống Ngài. Họ không nhận ra rằng sự cao trọng thật sự có thể bỏ qua hình thức phô trương bên ngoài. Sự nghèo khó của Người này dường như hoàn toàn không phù hợp với lời tuyên bố rằng Ngài là Đấng Mê-si. Họ thắc mắc, Nếu Ngài đúng là Đấng Ngài tự xưng, thì sao Ngài lại khiêm tốn đến vậy? Nếu Ngài bằng lòng không có sức mạnh của vũ khí, thì dân tộc họ sẽ ra sao? Làm sao quyền năng và vinh quang được trông đợi từ lâu có thể đem các dân tộc về làm thần dân cho thành của người Do Thái? Chẳng phải các thầy tế lễ đã dạy rằng Y-sơ-ra-ên sẽ cai trị cả trái đất sao? và liệu có thể nào những bậc thầy tôn giáo vĩ đại lại sai lầm chăng? DA 242.3

Nhưng không chỉ vì thiếu vinh quang bên ngoài trong đời sống Ngài mà người Do Thái chối bỏ Đức Chúa Giê-su. Ngài là hiện thân của sự thanh sạch, còn họ thì ô uế. Ngài sống giữa loài người như một tấm gương về sự chính trực không tì vết. Đời sống không chỗ trách được của Ngài rọi ánh sáng vào lòng họ. Sự chân thành của Ngài phơi bày sự giả dối của họ. Nó làm lộ ra sự trống rỗng trong lòng đạo đức giả tạo của họ, và bày tỏ cho họ sự gian ác trong bản chất ghê tởm của nó. Một thứ ánh sáng như thế thật không được hoan nghênh. DA 243.1

Nếu Đấng Christ đã chú ý đến người Pha-ri-si, và ca ngợi sự học thức cùng lòng đạo đức của họ, thì họ đã vui mừng nghênh đón Ngài. Nhưng khi Ngài phán về nước thiên đàng như một thời kỳ của lòng thương xót dành cho cả nhân loại, thì Ngài đang trình bày một khía cạnh của tôn giáo mà họ không thể dung chịu. Gương mẫu và lời giảng dạy của chính họ chưa bao giờ khiến cho sự phục vụ Đức Chúa Trời trở nên đáng mong muốn. Khi họ thấy Đức Chúa Giê-su quan tâm đến chính những kẻ mà họ ghét bỏ và cự tuyệt, điều đó đã khuấy động những dục vọng xấu xa nhất trong tấm lòng kiêu ngạo của họ. Mặc dù họ khoe khoang rằng dưới quyền “Sư tử của chi phái Giu-đa”

“Bấy giờ, một người trong các trưởng lão nói với tôi rằng: Chớ khóc, kìa, sư tử của chi phái Giu-đa, tức là Chồi của vua Đa-vít, đã thắng, thì có thể mở quyển sách ấy và tháo bảy cái ấn ra.” (Khải-huyền 5:5)

dân Y-sơ-ra-ên sẽ được tôn cao vượt trổi hơn mọi dân tộc, song họ có thể chịu đựng nỗi thất vọng về những hy vọng đầy tham vọng của mình dễ hơn là chịu đựng sự quở trách của Đấng Christ về tội lỗi họ, cùng nỗi hổ thẹn mà họ cảm nhận ngay cả từ sự hiện diện của sự thanh khiết nơi Ngài. DA 243.2