“Nước Đức Chúa Trời Đã Đến Gần”
“Sau khi Giăng bị tù, Đức Chúa Giê-su đến xứ Ga-li-lê, giảng Tin lành của Đức Chúa Trời, mà rằng: Kỳ đã trọn, nước Đức Chúa Trời đã đến gần; các ngươi hãy ăn năn và tin đạo Tin lành.” (Mác 1:14-15)
DA 231.1
Sự đến của Đấng Mê-si trước hết đã được loan báo tại xứ Giu-đê. Trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, sự ra đời của người tiền hô đã được báo trước cho Xa-cha-ri khi ông đang phục vụ trước bàn thờ. Trên những ngọn đồi của Bết-lê-hem, các thiên sứ đã công bố sự ra đời của Đức Chúa Giê-su. Các nhà thông thái đã đến Giê-ru-sa-lem để tìm kiếm Ngài. Trong đền thờ, Si-mê-ôn và An-ne đã làm chứng về thần tánh của Ngài. “Giê-ru-sa-lem và cả xứ Giu-đê” đã lắng nghe lời rao giảng của Giăng Báp-tít; và phái đoàn từ Tòa Công luận, cùng với đoàn dân đông, đã nghe lời chứng của ông về Đức Chúa Giê-su. Tại xứ Giu-đê, Đấng Christ đã nhận các môn đồ đầu tiên của Ngài. Nơi đây phần lớn chức vụ ban đầu của Ngài đã được thực hiện. Sự bừng tỏa thần tánh của Ngài trong việc thanh tẩy đền thờ, các phép lạ chữa lành của Ngài, và những bài học chân lý thiêng liêng phát ra từ môi miệng Ngài, tất cả đều công bố điều mà sau khi chữa lành tại Bê-tết-đa Ngài đã tuyên bố trước Tòa Công luận, — rằng Ngài là Con của Đấng Đời Đời. DA 231.2
Nếu các nhà lãnh đạo trong Y-sơ-ra-ên tiếp nhận Đấng Christ, hẳn Ngài đã tôn trọng họ làm sứ giả của Ngài để đem tin lành đến cho thế gian. Họ là những người đầu tiên được ban cho cơ hội để trở thành những người truyền giảng về nước và ân điển của Đức Chúa Trời. Nhưng Y-sơ-ra-ên không nhận biết thời điểm mình được thăm viếng. Lòng ganh tị và nghi ngờ của các nhà lãnh đạo Do Thái đã chín muồi thành lòng thù ghét công khai, và lòng dân đã quay khỏi Đức Chúa Giê-su. DA 231.3
Tòa Công luận đã chối bỏ sứ điệp của Đấng Christ và quyết tâm giết Ngài; vì thế Đức Chúa Giê-su rời khỏi Giê-ru-sa-lem, rời khỏi các thầy tế lễ, đền thờ, các nhà lãnh đạo tôn giáo, và dân chúng vốn đã được dạy dỗ về luật pháp, mà quay sang một tầng lớp khác để công bố sứ điệp của Ngài, và để chọn lấy những người sẽ đem tin lành đến cho muôn dân. DA 232.1
Như sự sáng và sự sống của loài người đã bị các nhà cầm quyền tôn giáo chối bỏ trong thời Đấng Christ, thì điều đó cũng đã bị chối bỏ trong mỗi thế hệ kế tiếp. Hết lần này đến lần khác, lịch sử về việc Đấng Christ rời khỏi xứ Giu-đê đã được lặp lại. Khi các nhà Cải chánh rao giảng Lời Đức Chúa Trời, họ không hề có ý định tách mình ra khỏi giáo hội đã được thiết lập; nhưng các nhà lãnh đạo tôn giáo không dung chịu sự sáng, và những người mang sự sáng ấy buộc phải tìm đến một tầng lớp khác đang khao khát chân lý. Trong thời đại chúng ta, ít người xưng mình là môn đồ của các nhà Cải chánh được thúc đẩy bởi tinh thần của họ. Ít người lắng nghe tiếng của Đức Chúa Trời, và sẵn sàng tiếp nhận chân lý dưới bất cứ hình thức nào nó được trình bày. Thường thì những ai bước theo dấu chân của các nhà Cải chánh buộc phải lìa bỏ những giáo hội mà họ yêu mến, để có thể công bố sự dạy dỗ rõ ràng của Lời Đức Chúa Trời. Và nhiều khi những ai đang tìm kiếm sự sáng cũng bởi sự dạy dỗ ấy mà buộc phải lìa bỏ giáo hội của tổ phụ mình, để có thể vâng phục. DA 232.2
Dân chúng xứ Ga-li-lê bị các thầy ra-bi tại Giê-ru-sa-lem khinh dể là thô lỗ và dốt nát, thế nhưng họ lại là một cánh đồng thuận lợi hơn cho công việc của Đấng Cứu Thế. Họ chân thành và thành thật hơn; ít bị cuồng tín kiểm soát hơn; tâm trí họ cởi mở hơn để tiếp nhận chân lý. Khi đi đến Ga-li-lê, Đức Chúa Giê-su không tìm kiếm sự ẩn dật hay cô lập. Vào thời điểm này, tỉnh ấy là nơi cư ngụ của một dân số đông đúc, với sự pha trộn của những người thuộc các dân tộc khác nhiều hơn so với xứ Giu-đê. DA 232.3
Khi Đức Chúa Giê-su đi khắp xứ Ga-li-lê, giảng dạy và chữa lành, đoàn dân đông từ các thành và làng mạc kéo đến cùng Ngài. Nhiều người đến từ tận xứ Giu-đê và các tỉnh lân cận. Thường thì Ngài buộc phải lánh mình khỏi dân chúng. Lòng nhiệt thành dâng lên cao đến nỗi cần phải đề phòng kẻo nhà cầm quyền La-mã bị khích động mà lo sợ một cuộc nổi loạn. Trước đây thế gian chưa từng có một thời kỳ nào như thế này. Thiên đàng được mang xuống cho loài người. Những linh hồn đói khát vốn đã trông đợi lâu nay sự cứu chuộc của Y-sơ-ra-ên, nay được dự tiệc nơi ân điển của một Đấng Cứu Thế đầy lòng thương xót. DA 232.4
Trọng tâm lời rao giảng của Đấng Christ là, “Kỳ đã trọn, nước Đức Chúa Trời đã đến gần; các ngươi hãy ăn năn và tin đạo tin lành.” Như vậy, sứ điệp tin lành, như chính Đấng Cứu Thế đã ban, được đặt trên nền tảng các lời tiên tri. “Kỳ” mà Ngài tuyên bố là đã trọn chính là thời kỳ được thiên sứ Gáp-ri-ên cho Đa-ni-ên biết. “Bảy mươi tuần lễ,” thiên sứ phán,
“Có bảy mươi tuần lễ định trên dân ngươi và thành thánh ngươi, đặng ngăn sự phạm phép, trừ tội lỗi, làm sạch sự gian ác, và đem sự công bình đời đời vào, đặng đặt ấn tín nơi sự hiện thấy và lời tiên tri, và xức dầu cho Đấng rất thánh.” (Đa-ni-ên 9:24)
Một ngày trong lời tiên tri tượng trưng cho một năm. Xem Dân Số Ký 14:34; Ê-xê-chi-ên 4:6. Bảy mươi tuần lễ, hay bốn trăm chín mươi ngày, tượng trưng cho bốn trăm chín mươi năm. Một điểm khởi đầu cho thời kỳ này được ban cho:
“Ngươi khá biết và hiểu rằng từ khi ra lệnh tu bổ và xây lại Giê-ru-sa-lem, cho đến Đấng chịu xức dầu, tức là vua, thì được bảy tuần lễ, và sáu mươi hai tuần lễ; thành đó sẽ được xây lại, có đường phố và hào, trong kỳ khó khăn.” (Đa-ni-ên 9:25)
sáu mươi chín tuần lễ, hay bốn trăm tám mươi ba năm. Mạng lệnh tu bổ và xây lại Giê-ru-sa-lem, được hoàn tất bởi sắc lệnh của Ạt-ta-xét-xe Lông-ghi-ma-nút (xem E-xơ-ra 6:14; 7:1, 9, chú thích lề), có hiệu lực vào mùa thu năm 457 trước Chúa. Từ thời điểm này, bốn trăm tám mươi ba năm kéo dài đến mùa thu năm 27 sau Chúa. Theo lời tiên tri, thời kỳ này phải kéo dài cho đến Đấng Mê-si, Đấng Chịu Xức Dầu. Vào năm 27 sau Chúa, Đức Chúa Giê-su khi chịu báp-têm đã nhận sự xức dầu của Đức Thánh Linh, và ngay sau đó bắt đầu chức vụ của Ngài. Bấy giờ sứ điệp được công bố, “Kỳ đã trọn.” DA 233.1
Rồi, thiên sứ phán, “Người sẽ lập giao ước vững bền với nhiều người trong một tuần lễ [bảy năm].” Trong bảy năm sau khi Đấng Cứu Thế bắt đầu chức vụ của Ngài, tin lành phải được rao giảng đặc biệt cho người Do Thái; trong ba năm rưỡi bởi chính Đấng Christ; và sau đó bởi các sứ đồ. “Đến giữa tuần lễ ấy, Người sẽ khiến của lễ và của dâng dứt đi.” Đa-ni-ên 9:27. Vào mùa xuân năm 31 sau Chúa, Đấng Christ là của lễ chân thật đã được dâng trên đồi Gô-gô-tha. Bấy giờ bức màn trong đền thờ xé làm hai, cho thấy rằng sự thánh khiết và ý nghĩa của việc tế lễ đã chấm dứt. Đã đến lúc của lễ và của dâng dưới đất phải dứt đi. DA 233.2
Một tuần lễ — bảy năm — kết thúc vào năm 34 sau Chúa. Bấy giờ, bởi việc ném đá Ê-tiên, người Do Thái cuối cùng đã đóng ấn sự chối bỏ tin lành của họ; các môn đồ bị tản lạc bởi cuộc bắt bớ “đi từ nơi này đến nơi khác truyền giảng đạo Tin Lành” (Công vụ 8:4); và ít lâu sau, Sau-lơ kẻ bắt bớ đã được cải đạo, và trở thành Phao-lô, sứ đồ cho dân ngoại. DA 233.3
Thời điểm Đấng Christ đến, sự xức dầu của Ngài bởi Đức Thánh Linh, sự chết của Ngài, và việc ban tin lành cho dân ngoại, tất cả đều được chỉ ra rõ ràng. Người Do Thái có đặc ân hiểu được những lời tiên tri này, và nhận ra sự ứng nghiệm của chúng trong sứ mạng của Đức Chúa Giê-su. Đấng Christ thúc giục các môn đồ Ngài về tầm quan trọng của việc nghiên cứu lời tiên tri. Khi nói đến lời tiên tri đã ban cho Đa-ni-ên về thời của họ, Ngài phán, “Ai đọc thì phải hiểu.” Ma-thi-ơ 24:15. Sau khi sống lại, Ngài giải nghĩa cho các môn đồ trong “cả các đấng tiên tri” “những lời chỉ về Ngài.” Lu-ca 24:27. Đấng Cứu Thế đã phán qua hết thảy các tiên tri. “Thánh Linh của Đấng Christ ở trong họ” đã “làm chứng trước về sự đau đớn của Đấng Christ, và về sự vinh hiển sẽ theo sau.” 1 Phi-e-rơ 1:11. DA 234.1
Chính Gáp-ri-ên, thiên sứ có thứ bậc kế sau Con Đức Chúa Trời, là đấng đã đến với sứ điệp thiêng liêng cho Đa-ni-ên. Chính Gáp-ri-ên, “thiên sứ của Ngài,” là đấng mà Đấng Christ đã sai đến để bày tỏ tương lai cho Giăng yêu dấu; và một phước lành được ban cho những ai đọc và nghe những lời của lời tiên tri, và giữ những điều đã chép trong đó. Khải Huyền 1:3. DA 234.2
“Chúa Giê-hô-va chẳng có làm một việc gì mà Ngài chưa tỏ sự kín nhiệm Ngài ra trước cho tôi tớ Ngài, là các đấng tiên tri.” Trong khi “những sự bí mật thuộc về Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta,” thì “những sự bày tỏ ra thuộc về chúng ta, và con cháu chúng ta đời đời.” A-mốt 3:7; Phục-truyền 29:29. Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta những điều này, và phước lành của Ngài sẽ ở cùng sự nghiên cứu cung kính và đầy cầu nguyện về các lời tiên tri trong Kinh Thánh. DA 234.3
Như sứ điệp về sự giáng sinh lần thứ nhất của Đấng Christ công bố nước ân điển của Ngài, thì sứ điệp về sự tái lâm của Ngài công bố nước vinh hiển của Ngài. Và sứ điệp thứ hai, cũng như sứ điệp thứ nhất, được đặt nền trên các lời tiên tri. Những lời thiên sứ phán cùng Đa-ni-ên liên quan đến những ngày cuối cùng phải được hiểu vào kỳ cuối cùng. Trong thời ấy, “nhiều kẻ sẽ đi qua đi lại, và sự học thức sẽ được thêm lên.” “Những kẻ dữ sẽ cứ làm dữ; trong những kẻ dữ chẳng ai sẽ hiểu biết; song kẻ khôn sáng sẽ hiểu biết.”
“Còn như ngươi, hỡi Đa-ni-ên, ngươi hãy đóng lại những lời này, và hãy đóng ấn sách này cho đến kỳ cuối cùng. Nhiều kẻ sẽ đi qua đi lại, và sự học thức sẽ được thêm lên. Sẽ có nhiều kẻ tự làm nên tinh sạch và trắng, và được luyện lọc. Nhưng những kẻ dữ sẽ cứ làm điều dữ; trong những kẻ dữ chẳng ai sẽ hiểu; song kẻ khôn sáng sẽ hiểu.” (Đa-ni-ên 12:4,10)
Chính Đấng Cứu Thế đã ban cho những dấu hiệu về sự đến của Ngài, và Ngài phán rằng: “Khi các ngươi thấy những điều ấy xảy ra, hãy biết nước Đức Chúa Trời gần đến.” “Vậy, hãy tự giữ lấy mình, e rằng vì sự ăn uống quá độ, sự say sưa và sự lo lắng đời nầy làm cho lòng các ngươi mê mẩn chăng, và e ngày ấy đến thình lình trên các ngươi như lưới bủa.” “Vậy, hãy tỉnh thức luôn và cầu nguyện, để các ngươi được tránh khỏi các tai nạn sẽ xảy ra, và đứng trước mặt Con người.”
“Cũng vậy, khi các ngươi thấy những điều ấy xảy ra, hãy biết nước Đức Chúa Trời gần đến. Vậy, hãy tự giữ lấy mình, e rằng vì sự ăn uống quá độ, sự say sưa và sự lo lắng đời này làm cho lòng các ngươi mê mẩn chăng, và e ngày ấy đến thình lình trên các ngươi như lưới bủa; Vậy, hãy tỉnh thức luôn và cầu nguyện, để các ngươi được tránh khỏi các tai nạn sẽ xảy ra, và đứng trước mặt Con người.” (Lu-ca 21:31,34,36)
DA 234.4
Chúng ta đã đến thời kỳ được báo trước trong những đoạn Kinh Thánh nầy. Kỳ cuối cùng đã đến, các sự hiện thấy của các tiên tri đã được mở ra, và những lời cảnh báo nghiêm trang của họ chỉ cho chúng ta thấy rằng sự đến trong vinh hiển của Chúa chúng ta đã gần. DA 235.1
Người Do Thái đã hiểu sai và áp dụng sai Lời Đức Chúa Trời, nên họ không nhận biết kỳ thăm viếng của mình. Những năm chức vụ của Đấng Christ và các sứ đồ Ngài — những năm ân điển cuối cùng quý báu dành cho dân được chọn — họ đã dùng để mưu toan tiêu diệt các sứ giả của Chúa. Những tham vọng trần thế đã chiếm trọn lòng họ, và lời mời gọi vào nước thuộc linh đã đến với họ một cách vô ích. Cũng vậy, ngày nay nước của thế gian nầy chiếm trọn tư tưởng của loài người, và họ chẳng để ý đến những lời tiên tri đang ứng nghiệm cách nhanh chóng cùng những dấu hiệu của nước Đức Chúa Trời đang mau đến. DA 235.2
“Nhưng, hỡi anh em, anh em chẳng phải ở nơi tối tăm, để ngày đó đến thình lình trên anh em như kẻ trộm. Anh em đều là con của sự sáng và con của ban ngày. Chúng ta không phải thuộc về ban đêm, cũng không phải thuộc về sự mờ tối.” Tuy chúng ta không thể biết giờ Chúa chúng ta trở lại, nhưng chúng ta có thể biết khi nào giờ ấy đã gần. “Vậy, chúng ta chớ ngủ như kẻ khác, nhưng phải tỉnh thức và dè giữ.”
“Nhưng, hỡi anh em, anh em chẳng phải ở nơi tối tăm, nên nỗi ngày đó đến thình lình cho anh em như kẻ trộm. Anh em đều là con của sự sáng và con của ban ngày. Chúng ta không phải thuộc về ban đêm, cũng không phải thuộc về sự mờ tối. Vậy, chúng ta chớ ngủ như kẻ khác, nhưng phải tỉnh thức và dè giữ.” (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:4-6)
DA 235.3