Sự Tù Đày Và Cái Chết Của Giăng
Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 11:1-11; Ma-thi-ơ 14:1-11; Mác 6:17-28; Lu-ca 7:19-28. DA 214.1
Giăng Báp-tít đã là người đầu tiên rao truyền về nước của Đấng Christ, và ông cũng là người đầu tiên chịu khổ. Từ bầu không khí tự do của đồng vắng và những đoàn dân đông đảo từng say mê lời của ông, giờ đây ông bị giam kín giữa bốn bức tường của một xà lim ngục tối. Ông đã trở thành tù nhân trong pháo đài của Hê-rốt An-ti-ba. Phần lớn chức vụ của Giăng đã được thi hành tại lãnh thổ phía đông sông Giô-đanh, là vùng nằm dưới quyền cai trị của An-ti-ba. Chính Hê-rốt đã từng nghe lời rao giảng của Giăng Báp-tít. Vị vua phóng đãng ấy đã run sợ trước lời kêu gọi ăn năn. “Hê-rốt sợ Giăng, vì biết là người công bình và thánh khiết;… và khi nghe lời người rồi, lòng hằng bối rối, mà cũng thích nghe.” Giăng đối xử với vua cách trung thực, lên án sự liên kết tội lỗi của vua với Hê-rô-đia, vợ của em vua. Trong một thời gian, Hê-rốt yếu ớt cố gắng dứt bỏ xiềng xích của dục vọng đang trói buộc mình; nhưng Hê-rô-đia càng siết chặt vua trong cạm bẫy của ả, và đã tìm cách trả thù Giăng Báp-tít bằng cách xui giục Hê-rốt tống ông vào ngục. DA 214.2
Cuộc đời của Giăng vốn là một đời sống lao động tích cực, nên sự u ám và bất động của cuộc sống tù ngục đè nặng trên ông. Khi tuần này nối tiếp tuần kia trôi qua mà chẳng có gì thay đổi, sự ngã lòng và nghi ngờ len lỏi vào tâm hồn ông. Các môn đồ của ông không bỏ rơi ông. Họ được phép vào ngục, và đem đến cho ông tin tức về các công việc của Đức Chúa Giê-su, kể cho ông nghe dân chúng đang đổ xô đến với Ngài như thế nào. Nhưng họ thắc mắc, nếu vị thầy mới này là Đấng Mê-si, thì tại sao Ngài lại chẳng làm gì để giải thoát Giăng. Làm sao Ngài có thể để cho người rao truyền trung thành của Ngài bị tước đoạt tự do và có lẽ cả mạng sống? DA 214.3
Những câu hỏi này không phải là không có tác động. Những mối nghi ngờ vốn lẽ ra không bao giờ nảy sinh nay được gợi lên trong lòng Giăng. Sa-tan vui mừng khi nghe lời của các môn đồ này, và thấy họ làm tổn thương tâm hồn của sứ giả của Chúa như thế nào. Ôi, biết bao lần những kẻ tự cho mình là bạn của một người tốt, và hăng hái muốn tỏ lòng trung thành với người ấy, lại hóa ra là kẻ thù nguy hiểm nhất của người! Biết bao lần, thay vì làm vững mạnh đức tin của người, lời của họ lại khiến người chán nản và ngã lòng! DA 215.1
Cũng như các môn đồ của Đấng Cứu Thế, Giăng Báp-tít không hiểu bản chất của nước Đấng Christ. Ông trông đợi Đức Chúa Giê-su lên ngôi Đa-vít; và khi thời gian trôi qua mà Đấng Cứu Thế chẳng hề tuyên bố quyền uy của bậc đế vương, Giăng trở nên hoang mang và bối rối. Ông đã tuyên bố với dân chúng rằng để dọn đường trước mặt Chúa, lời tiên tri của Ê-sai phải được ứng nghiệm; các núi và đồi phải bị hạ thấp, đường quanh co phải làm cho ngay thẳng, nơi gồ ghề phải làm cho bằng phẳng. Ông đã trông đợi những nơi cao của lòng kiêu ngạo và quyền lực của con người sẽ bị đánh đổ. Ông đã chỉ về Đấng Mê-si như Đấng cầm nia trong tay, sẽ quét sạch sân đạp lúa của Ngài, sẽ thâu lúa mì vào kho, và đốt rơm rạ bằng lửa chẳng hề tắt. Cũng như tiên tri Ê-li, người mà Giăng đã đến với Y-sơ-ra-ên trong tâm thần và quyền phép, ông trông đợi Chúa sẽ tự bày tỏ chính mình là Đức Chúa Trời đáp lời bằng lửa. DA 215.2
Trong sứ mạng của mình, Giăng Báp-tít đã đứng như một người quở trách tội ác cách không sợ hãi, dù ở nơi cao hay nơi thấp. Ông đã dám đối diện với vua Hê-rốt với lời quở trách tội lỗi cách thẳng thắn. Ông chẳng kể mạng sống mình là quý, hầu cho có thể hoàn thành công việc đã được giao phó. Và nay từ trong ngục tối, ông trông chờ Sư Tử của chi phái Giu-đa đánh đổ lòng kiêu ngạo của kẻ áp bức, và giải cứu kẻ nghèo khó cùng kẻ kêu xin. Nhưng Đức Chúa Giê-su dường như bằng lòng với việc quy tụ các môn đồ quanh Ngài, chữa lành và dạy dỗ dân chúng. Ngài ngồi ăn tại bàn của những người thâu thuế, trong khi mỗi ngày ách của La-mã càng đè nặng hơn trên Y-sơ-ra-ên, trong khi vua Hê-rốt và người tình hèn hạ của hắn mặc tình làm theo ý muốn, và tiếng kêu của kẻ nghèo khó và đau khổ thấu đến trời. DA 215.3
Đối với vị tiên tri của đồng vắng, tất cả những điều này dường như là một điều mầu nhiệm vượt quá sự hiểu biết của ông. Có những giờ mà tiếng thì thầm của ma quỷ giày vò tâm hồn ông, và bóng tối của một nỗi sợ hãi khủng khiếp len lỏi vào lòng ông. Phải chăng Đấng Giải Cứu hằng được trông đợi từ lâu vẫn chưa xuất hiện? Vậy thì sứ điệp mà chính ông đã được thúc giục rao truyền có nghĩa gì? Giăng đã thất vọng cay đắng về kết quả của sứ mạng mình. Ông đã trông đợi sứ điệp từ Đức Chúa Trời sẽ có cùng tác động như khi luật pháp được đọc trong những ngày của Giô-si-a và E-xơ-ra (2 Sử-ký 34; Nê-hê-mi 8, 9); rằng sẽ tiếp theo đó là một công cuộc ăn năn sâu xa và sự trở lại cùng Chúa. Vì sự thành công của sứ mạng này, cả cuộc đời ông đã được hy sinh. Lẽ nào tất cả đều vô ích? DA 216.1
Giăng đau lòng khi thấy rằng vì lòng yêu mến ông, chính các môn đồ của ông lại ấp ủ lòng vô tín đối với Đức Chúa Giê-su. Phải chăng công việc của ông cho họ đã không sinh ra kết quả? Phải chăng ông đã bất trung trong sứ mạng của mình, đến nỗi nay bị cắt khỏi công việc? Nếu Đấng Giải Cứu đã hứa đã xuất hiện, và Giăng đã được tìm thấy là trung thành với ơn kêu gọi của mình, thì lẽ nào Đức Chúa Giê-su nay lại không lật đổ quyền lực của kẻ áp bức, và giải thoát người rao truyền của Ngài? DA 216.2
Nhưng Giăng Báp-tít không từ bỏ đức tin nơi Đấng Christ. Ký ức về tiếng phán từ trời và chim bồ câu giáng xuống, sự tinh sạch không tì vết của Đức Chúa Giê-su, quyền năng của Đức Thánh Linh đã ngự trên Giăng khi ông đến trước mặt Đấng Cứu Thế, cùng với lời chứng của các lời tiên tri trong Kinh Thánh — tất cả đều làm chứng rằng Đức Chúa Giê-su người Na-xa-rét chính là Đấng đã được hứa ban. DA 216.3
Giăng không muốn bàn luận về những mối nghi ngờ và lo âu của mình với các bạn đồng hành. Ông quyết định gửi một lời hỏi thăm đến Đức Chúa Giê-su. Ông giao việc này cho hai môn đồ của mình, hy vọng rằng một cuộc gặp gỡ với Đấng Cứu Thế sẽ làm vững đức tin của họ, và đem lại sự bảo đảm cho anh em mình. Và ông cũng khao khát một lời nào đó từ Đấng Christ nói riêng cho chính mình. DA 216.4
Các môn đồ đến cùng Đức Chúa Giê-su với lời nhắn của mình: “Thầy có phải là Đấng phải đến, hay là chúng tôi còn phải đợi đấng khác chăng?” DA 216.5
Mới cách đây không lâu, Giăng Báp-tít đã chỉ về Đức Chúa Giê-su và tuyên bố:
“Qua ngày sau, Giăng thấy Đức Chúa Giê-su đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi.” (Giăng 1:29)
“Ấy là Đấng đến sau ta, ta chẳng đáng mở dây giày Ngài.” (Giăng 1:27)
Và nay lại có câu hỏi: “Thầy có phải là Đấng phải đến chăng?” Điều đó thật cay đắng và làm thất vọng sâu xa cho bản tánh con người. Nếu Giăng, người tiền hô trung thành, mà không nhận ra được sứ mạng của Đấng Christ, thì còn có thể trông đợi gì nơi đoàn dân ích kỷ vụ lợi? DA 216.6
Đấng Cứu Thế không trả lời ngay câu hỏi của các môn đồ. Trong khi họ đứng kinh ngạc trước sự im lặng của Ngài, thì những người bệnh tật và khổ đau đang kéo đến cùng Ngài để được chữa lành. Những người mù dò dẫm tìm đường giữa đám đông; những người bệnh thuộc mọi tầng lớp, kẻ thì tự chen lấn tới, kẻ thì được bạn bè khiêng đến, đều hăng hái chen vào trước mặt Đức Chúa Giê-su. Tiếng của Đấng Chữa Lành quyền năng thấu vào tai kẻ điếc. Một lời phán, một cái chạm của tay Ngài, mở mắt kẻ mù để được trông thấy ánh sáng ban ngày, cảnh vật thiên nhiên, gương mặt của bạn hữu, và gương mặt của Đấng Giải Cứu. Đức Chúa Giê-su quở trách bệnh tật và đuổi cơn sốt. Tiếng Ngài thấu đến tai kẻ hấp hối, và họ trỗi dậy mạnh khỏe và đầy sức sống. Những kẻ bị quỷ ám bại liệt vâng theo lời Ngài, sự điên cuồng lìa khỏi họ, và họ thờ lạy Ngài. Trong khi chữa lành bệnh tật của họ, Ngài dạy dỗ dân chúng. Những nông dân và người lao động nghèo khó, vốn bị các thầy thông giáo xa lánh như kẻ ô uế, nay quây quần thật gần bên Ngài, và Ngài phán cho họ những lời của sự sống đời đời. DA 216.7
Cứ như vậy ngày trôi qua, các môn đồ của Giăng thấy và nghe hết mọi điều. Cuối cùng, Đức Chúa Giê-su gọi họ đến và bảo họ hãy đi thuật lại cho Giăng những gì họ đã chứng kiến, và thêm rằng:
“Phước cho kẻ không vấp phạm vì cớ ta!” (Lu-ca 7:23)
Bằng chứng về thần tánh của Ngài được thấy trong sự thích hợp của nó với nhu cầu của nhân loại đau khổ. Vinh quang của Ngài được tỏ ra trong sự hạ mình của Ngài xuống địa vị thấp hèn của chúng ta. DA 217.1
Các môn đồ đã mang sứ điệp đến, và như thế là đủ. Giăng nhớ lại lời tiên tri về Đấng Mê-si,
“Thần của Chúa Giê-hô-va ngự trên ta; vì Đức Giê-hô-va đã xức dầu cho ta, đặng giảng tin lành cho kẻ khiêm nhường. Ngài đã sai ta đến đặng rịt những kẻ vỡ lòng, đặng rao cho kẻ phu tù được tự do, kẻ bị cầm tù được ra khỏi ngục; đặng rao năm ban ơn của Đức Giê-hô-va, và ngày báo thù của Đức Chúa Trời chúng ta; đặng yên ủi mọi kẻ buồn rầu;” (Ê-sai 61:1,2)
Những công việc của Đấng Christ không những bày tỏ Ngài là Đấng Mê-si, mà còn cho thấy nước Ngài sẽ được thiết lập theo cách nào. Cùng một lẽ thật đã đến với Ê-li trong đồng vắng nay được mở ra cho Giăng, khi “có một ngọn gió mạnh thổi dữ tợn trước mặt Đức Giê-hô-va, xé núi ra, và làm tan nát các hòn đá; nhưng không có Đức Giê-hô-va trong trận gió. Sau trận gió có cơn động đất; nhưng không có Đức Giê-hô-va trong cơn động đất. Sau cơn động đất có đám lửa; nhưng không có Đức Giê-hô-va trong đám lửa;” và sau đám lửa, Đức Chúa Trời phán cùng tiên tri bằng “một tiếng êm dịu nhỏ nhẹ.” 1 Các Vua 19:11, 12. Vậy nên Đức Chúa Giê-su sẽ làm công việc của Ngài, không phải bằng tiếng binh khí va chạm và sự lật đổ các ngai và các vương quốc, nhưng bằng cách nói với lòng người qua một đời sống đầy lòng thương xót và sự hy sinh chính mình. DA 217.2
Nguyên tắc về đời sống tự khước từ của chính Giăng Báp-tít chính là nguyên tắc của nước Đấng Mê-si. Giăng biết rõ tất cả những điều này xa lạ biết bao đối với các nguyên tắc và hy vọng của những nhà lãnh đạo trong Y-sơ-ra-ên. Điều mà đối với ông là bằng chứng thuyết phục về thần tính của Đấng Christ thì lại chẳng phải là bằng chứng gì đối với họ. Họ đang trông đợi một Đấng Mê-si chưa hề được hứa ban. Giăng thấy rằng sứ mạng của Đấng Cứu Thế chỉ có thể nhận lấy từ họ sự thù ghét và sự lên án. Ông, người tiền hô, chỉ đang uống chén mà chính Đấng Christ phải cạn đến đáy. DA 218.1
Lời của Đấng Cứu Thế, “Phước cho ai chẳng vấp phạm vì cớ Ta!” là một lời quở trách nhẹ nhàng dành cho Giăng. Lời ấy không hề vô ích đối với ông. Giờ đây hiểu rõ hơn về bản chất sứ mạng của Đấng Christ, ông phó dâng chính mình cho Đức Chúa Trời dù sống hay chết, miễn sao phục vụ tốt nhất cho lợi ích của chính nghĩa mà ông yêu mến. DA 218.2
Sau khi các sứ giả đã ra đi, Đức Chúa Giê-su phán cùng dân chúng về Giăng. Lòng của Đấng Cứu Thế tràn đầy sự cảm thông đối với chứng nhân trung thành nay đang bị giam trong ngục tối của Hê-rốt. Ngài không muốn để dân chúng kết luận rằng Đức Chúa Trời đã từ bỏ Giăng, hay rằng đức tin của ông đã thất bại trong ngày thử thách. Ngài phán: “Các ngươi đã đi xem chi trong đồng vắng? Có phải xem cây sậy bị gió rung chăng?” DA 218.3
Những cây sậy cao mọc bên bờ sông Giô-đanh, ngả nghiêng trước mỗi cơn gió, là hình ảnh thích hợp cho các thầy ra-bi vốn đứng làm những kẻ phê bình và xét đoán sứ mạng của Giăng Báp-tít. Họ bị xô đẩy lúc thế này lúc thế nọ bởi những ngọn gió của dư luận quần chúng. Họ không chịu hạ mình để tiếp nhận sứ điệp dò xét tấm lòng của Giăng Báp-tít, nhưng vì sợ dân chúng nên họ không dám công khai chống lại công việc của ông. Nhưng sứ giả của Đức Chúa Trời chẳng có tinh thần hèn nhát như thế. Đoàn dân đông tụ họp quanh Đấng Christ đã từng chứng kiến công việc của Giăng. Họ đã nghe ông quở trách tội lỗi cách dạn dĩ. Đối với những người Pha-ri-si tự cho mình là công bình, những người Sa-đu-sê thuộc dòng tế lễ, vua Hê-rốt và triều đình của ông, các quan trưởng và binh lính, kẻ thâu thuế và người nông dân, Giăng đều đã nói với sự thẳng thắn như nhau. Ông không phải là cây sậy run rẩy, bị xô đẩy bởi những ngọn gió khen ngợi hay thành kiến của loài người. Trong ngục tù, ông vẫn giữ nguyên lòng trung thành với Đức Chúa Trời và lòng sốt sắng cho sự công bình như khi ông giảng sứ điệp của Đức Chúa Trời trong đồng vắng. Trong sự trung tín với nguyên tắc, ông vững chắc như một tảng đá. DA 218.4
Đức Chúa Giê-su tiếp tục, “Các ngươi đi xem chi nữa? Có phải xem người mặc áo mềm mại chăng? Kìa, những người mặc áo mềm mại cùng sống cách xa hoa thì ở trong cung vua.” Giăng đã được kêu gọi để quở trách tội lỗi và sự xa hoa quá độ của thời đại ông, và y phục đơn sơ cùng đời sống tự khước từ của ông hài hòa với tính chất của sứ mạng ông. Áo quần sang trọng và những xa xỉ của đời này không phải là phần của các tôi tớ Đức Chúa Trời, nhưng của những kẻ sống “trong cung vua,” những kẻ cai trị của thế gian này, là những kẻ nắm giữ quyền lực và sự giàu sang của thế gian. Đức Chúa Giê-su muốn hướng sự chú ý đến sự tương phản giữa y phục của Giăng và y phục của các thầy tế lễ cùng các nhà cai trị. Những quan chức này khoác lên mình những áo choàng sang trọng và những đồ trang sức đắt tiền. Họ ưa phô trương, và mong làm cho dân chúng phải lóa mắt, để bởi đó được tôn trọng hơn. Họ lo lắng giành được sự thán phục của loài người hơn là đạt được sự thanh sạch của tấm lòng vốn sẽ giành được sự chấp thuận của Đức Chúa Trời. Bởi đó họ bày tỏ rằng lòng trung thành của họ không dâng cho Đức Chúa Trời, mà cho vương quốc của thế gian này. DA 218.5
Đức Chúa Giê-su phán: “Nhưng các ngươi lại đi xem chi nữa? Có phải xem đấng tiên tri chăng? Phải, Ta nói cùng các ngươi, cũng hơn đấng tiên tri nữa. Ấy về đấng đó mà có lời chép rằng,— DA 219.1
“Nầy, Ta sai sứ Ta đến trước mặt con, Người sẽ dọn đường sẵn cho con đi. DA 219.2
“Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, trong những người bởi đàn bà sanh ra, không có ai được tôn trọng hơn Giăng Báp-tít.” Trong lời loan báo cho Xa-cha-ri trước khi Giăng ra đời, thiên sứ đã tuyên bố, “Vì người sẽ nên tôn trọng trước mặt Chúa.” Lu-ca 1:15. Theo sự đánh giá của Thiên đàng, điều gì tạo nên sự cao trọng? Không phải điều mà thế gian xem là cao trọng; không phải sự giàu sang, hay địa vị, hay dòng dõi quyền quý, hay tài năng trí tuệ, tự thân chúng. Nếu sự cao trọng về trí tuệ, tách rời khỏi bất kỳ điều cao quý hơn nào, là đáng được tôn vinh, thì sự kính trọng của chúng ta phải dành cho Sa-tan, là kẻ có quyền năng trí tuệ mà chưa người nào từng sánh bằng. Nhưng khi bị bóp méo để phục vụ bản thân, ân tứ càng lớn thì càng trở thành sự rủa sả lớn hơn. Chính giá trị đạo đức là điều Đức Chúa Trời quý trọng. Tình yêu thương và sự thanh sạch là những phẩm chất Ngài coi trọng nhất. Giăng đã là người cao trọng trước mặt Chúa, khi, trước mặt các sứ giả từ Tòa Công Luận, trước mặt dân chúng, và trước mặt chính các môn đồ của ông, ông đã không tìm kiếm sự tôn trọng cho chính mình, mà chỉ về Đức Chúa Giê-su là Đấng Được Hứa Ban. Niềm vui không ích kỷ của ông trong chức vụ của Đấng Christ trình bày kiểu mẫu cao quý nhất từng được bày tỏ nơi con người. DA 219.3
Lời chứng được những kẻ đã nghe ông làm chứng về Đức Chúa Giê-su nói về ông sau khi ông qua đời là, “Giăng chưa làm một phép lạ nào, nhưng mọi điều Giăng đã nói về người nầy là thật.” Giăng 10:41. Giăng không được ban cho quyền gọi lửa từ trời xuống, hay khiến kẻ chết sống lại, như Ê-li đã làm, cũng chẳng cầm cây gậy quyền năng của Môi-se nhân danh Đức Chúa Trời. Ông được sai đi để báo trước sự hiện đến của Đấng Cứu Thế, và để kêu gọi dân chúng chuẩn bị cho sự đến của Ngài. Ông đã hoàn thành sứ mạng mình cách trung thành đến nỗi khi dân chúng nhớ lại những điều ông đã dạy họ về Đức Chúa Giê-su, họ có thể nói, “Mọi điều Giăng đã nói về người nầy là thật.” Mỗi môn đồ của Thầy đều được kêu gọi để làm chứng như thế về Đấng Christ. DA 219.4
Là người báo tin của Đấng Mê-si, Giăng còn “hơn đấng tiên tri nữa.” Vì trong khi các tiên tri đã từ xa nhìn thấy sự hiện đến của Đấng Christ, thì Giăng được ban cho ơn nhìn thấy Ngài, được nghe lời chứng từ trời về chức vị Mê-si của Ngài, và được trình diện Ngài cho Y-sơ-ra-ên là Đấng được Đức Chúa Trời sai đến. Tuy vậy, Đức Chúa Giê-su phán, “Song trong nước thiên đàng, kẻ rất nhỏ còn được tôn trọng hơn người.” DA 220.1
Tiên tri Giăng là mắt xích nối kết giữa hai thời kỳ. Là đại diện của Đức Chúa Trời, ông đứng ra để bày tỏ mối liên hệ của luật pháp và các tiên tri với thời kỳ Cơ-đốc Giáo. Ông là ánh sáng nhỏ hơn, mà sau đó sẽ có ánh sáng lớn hơn theo sau. Tâm trí của Giăng được Đức Thánh Linh soi sáng, để ông có thể chiếu sáng cho dân tộc mình; nhưng chưa từng có ánh sáng nào khác đã hay sẽ chiếu sáng cách rõ ràng như thế trên loài người sa ngã hơn ánh sáng phát ra từ sự dạy dỗ và gương mẫu của Đức Chúa Giê-su. Đấng Christ và sứ mạng của Ngài chỉ được hiểu cách lờ mờ qua hình bóng được tiêu biểu trong những của lễ mang tính biểu tượng. Ngay cả Giăng cũng chưa hiểu trọn vẹn về đời sống tương lai, bất tử qua Đấng Cứu Thế. DA 220.2
Ngoài niềm vui mà Giăng tìm thấy trong sứ mạng của mình, cuộc đời ông là một cuộc đời đầy buồn khổ. Tiếng nói của ông ít khi được nghe đến trừ khi ở nơi đồng vắng. Số phận của ông thật cô đơn. Và ông không được phép thấy kết quả của chính công lao mình. Đó không phải là đặc ân của ông để được ở cùng Đấng Christ và chứng kiến sự biểu lộ quyền năng thiêng liêng đi kèm với ánh sáng lớn hơn. Ông không được thấy người mù được sáng mắt, người bệnh được chữa lành, và kẻ chết được sống lại. Ông không nhìn thấy ánh sáng chiếu qua mỗi lời nói của Đấng Christ, làm rạng rỡ những lời hứa của các tiên tri. Theo nghĩa này, môn đồ nhỏ nhất từng thấy những việc làm quyền năng của Đấng Christ và nghe lời Ngài còn được đặc ân cao trọng hơn Giăng Báp-tít, và do đó được nói là lớn hơn ông. DA 220.3
Qua những đám đông khổng lồ đã lắng nghe sự giảng dạy của Giăng, danh tiếng ông đã lan rộng khắp xứ. Người ta cảm thấy một mối quan tâm sâu sắc về kết quả của việc ông bị giam cầm. Tuy nhiên, đời sống không chỗ trách được của ông, cùng với tình cảm mạnh mẽ của công chúng dành cho ông, khiến người ta tin rằng sẽ không có biện pháp bạo lực nào được thực hiện chống lại ông. DA 220.4
Hê-rốt tin Giăng là một tiên tri của Đức Chúa Trời, và ông hoàn toàn có ý định trả tự do cho Giăng. Nhưng ông trì hoãn ý định của mình vì sợ Hê-rô-đia. DA 220.5
Hê-rô-đia biết rằng bằng các biện pháp trực tiếp bà không bao giờ có thể giành được sự đồng ý của Hê-rốt cho cái chết của Giăng, nên bà quyết tâm hoàn thành mục đích của mình bằng mưu kế. Vào ngày sinh nhật của vua, một buổi tiệc sẽ được tổ chức cho các quan chức nhà nước và các quý tộc trong triều. Sẽ có yến tiệc và say sưa. Như vậy Hê-rốt sẽ mất cảnh giác, và khi ấy có thể bị tác động theo ý muốn của bà. DA 221.1
Khi ngày trọng đại đến, và vua cùng các quan đại thần đang yến tiệc và uống rượu, Hê-rô-đia sai con gái mình vào phòng tiệc để nhảy múa giúp vui cho các khách mời. Sa-lô-mê đang ở độ tuổi thiếu nữ tươi mới, và vẻ đẹp gợi cảm của nàng đã làm say đắm giác quan của những kẻ chè chén quyền quý. Theo lệ thường, các quý bà trong triều không xuất hiện tại những buổi tiệc này, nên đây là một lời ngợi khen tâng bốc dành cho Hê-rốt khi người con gái của các thầy tế lễ và các vương tử Y-sơ-ra-ên này nhảy múa để mua vui cho khách của ông. DA 221.2
Vua đã ngây ngất vì rượu. Dục vọng chiếm ưu thế, và lý trí bị truất phế. Ông chỉ thấy gian phòng lạc thú, với những khách chè chén, bàn tiệc, rượu lấp lánh và ánh đèn rực rỡ, cùng cô gái trẻ đang nhảy múa trước mặt ông. Trong sự liều lĩnh của giây phút ấy, ông muốn phô trương điều gì đó để tự đề cao mình trước những bậc vĩ nhân trong vương quốc. Với một lời thề, ông hứa ban cho con gái Hê-rô-đia bất cứ điều gì nàng cầu xin, dù là phân nửa nước của ông. DA 221.3
Sa-lô-mê vội vàng chạy đến mẹ mình để biết nàng nên xin điều gì. Câu trả lời đã sẵn sàng — cái đầu của Giăng Báp-tít. Sa-lô-mê không biết về sự khao khát báo thù trong lòng mẹ mình, và nàng ngại ngùng khi trình bày lời thỉnh cầu; nhưng quyết tâm của Hê-rô-đia đã thắng thế. Cô gái trở lại với lời thỉnh cầu khủng khiếp,
“Tức thì nàng vội trở vào nơi vua mà xin rằng: Tôi muốn vua lập tức cho tôi cái đầu Giăng Báp-tít để trên mâm.” (Mác 6:25)
DA 221.4
Hê-rốt kinh ngạc và hoang mang. Sự vui chơi ồn ào ngưng lại, và một sự im lặng đầy điềm gở bao trùm cảnh chè chén. Vua kinh hoàng trước ý nghĩ lấy đi mạng sống của Giăng. Tuy nhiên ông đã cam kết lời thề, và ông không muốn tỏ ra hay thay đổi hoặc hấp tấp. Lời thề đã được thốt ra để tôn vinh các khách mời, và nếu một trong số họ thốt ra một lời phản đối việc thực hiện lời hứa của ông, ông sẽ vui lòng tha mạng cho tiên tri. Ông cho họ cơ hội để nói thay cho người tù. Họ đã đi những quãng đường xa để nghe Giăng giảng, và họ biết ông là người không phạm tội, một tôi tớ của Đức Chúa Trời. Nhưng dù sửng sốt trước lời yêu cầu của cô gái, họ đã quá u mê để can ngăn. Không một tiếng nói nào cất lên để cứu mạng sứ giả của Thiên đàng. Những người này nắm giữ những chức vụ trọng yếu trong nước, và những trách nhiệm nghiêm trọng đặt trên họ; vậy mà họ đã buông mình vào yến tiệc và say sưa cho đến khi các giác quan bị tê liệt. Đầu óc họ quay cuồng với cảnh nhạc múa chếnh choáng, và lương tâm thì ngủ yên. Bằng sự im lặng, họ tuyên án tử hình cho tiên tri của Đức Chúa Trời để thỏa mãn lòng báo thù của một người đàn bà sa đọa. DA 221.5
Hê-rốt vô vọng chờ đợi được giải thoát khỏi lời thề của mình; rồi miễn cưỡng truyền lệnh hành quyết tiên tri. Chẳng bao lâu cái đầu của Giăng được mang vào trước mặt vua và các khách của ông. Đôi môi đã trung thành cảnh báo Hê-rốt phải lìa bỏ cuộc đời tội lỗi của mình giờ đây đã bị bịt kín mãi mãi. Không bao giờ còn nghe tiếng nói ấy kêu gọi người ta ăn năn nữa. Cuộc chè chén của một đêm đã trả giá bằng mạng sống của một trong những vị tiên tri vĩ đại nhất. DA 222.1
Ôi, biết bao lần mạng sống của người vô tội đã bị hy sinh qua sự buông tuồng của những kẻ đáng lẽ phải là người canh giữ công lý! Kẻ đưa chén rượu say lên môi tự khiến mình phải chịu trách nhiệm về mọi điều bất công mà mình có thể phạm phải dưới quyền lực u mê của nó. Bằng cách làm tê liệt giác quan của mình, hắn khiến cho mình không thể nào phán đoán cách bình tĩnh hay nhận thức rõ ràng điều phải lẽ trái. Hắn mở đường cho Sa-tan hành động qua hắn để áp bức và hủy diệt người vô tội.
“Rượu khiến người ta nhạo báng, đồ uống say làm cho hỗn hào; Phàm ai dùng nó quá độ, chẳng phải là khôn ngoan.” (Châm-ngôn 20:1)
Như vậy mà
“Cho nên sự công bình trở lui lại, sự nhân nghĩa đứng xa; vì lẽ thật vấp ngã giữa đường phố, và sự ngay thẳng chẳng được vào. Lẽ thật đã không còn, ai lánh điều dữ thì phải cướp bắt. Đức Giê-hô-va thấy không có sự công bình thì chẳng đẹp lòng,” (Ê-sai 59:14,15)
Những kẻ nắm quyền trên mạng sống của đồng loại mình phải bị xem là phạm tội khi họ buông mình theo sự buông tuồng. Tất cả những ai thi hành luật pháp đều phải là người giữ luật pháp. Họ phải là người biết tự chủ. Họ cần làm chủ hoàn toàn các năng lực thể chất, tinh thần và đạo đức của mình, để họ có thể có một trí tuệ tinh anh và một ý thức cao về công lý. DA 222.2
Cái đầu của Giăng Báp-tít được mang đến cho Hê-rô-đia, người đã đón nhận nó với sự thỏa mãn hiểm độc. Bà vui sướng trong sự báo thù của mình, và tự huyễn hoặc rằng lương tâm Hê-rốt sẽ không còn bị quấy nhiễu nữa. Nhưng tội lỗi không đem lại hạnh phúc nào cho bà. Tên tuổi bà trở nên tai tiếng và bị ghê tởm, trong khi Hê-rốt bị giày vò bởi sự hối hận còn hơn cả những lời cảnh báo của tiên tri đã từng quấy rầy ông. Ảnh hưởng từ những lời dạy của Giăng không hề bị dập tắt; nó sẽ lan đến mọi thế hệ cho đến tận thế. DA 222.3
Tội lỗi của Hê-rốt luôn ở trước mặt ông. Ông liên tục tìm cách thoát khỏi những lời buộc tội của một lương tâm tội lỗi. Sự tin tưởng của ông nơi Giăng không hề lay chuyển. Khi ông nhớ lại đời sống tự chối mình của Giăng, những lời kêu gọi trang nghiêm và tha thiết của ông, sự phán đoán sáng suốt trong lời khuyên răn của ông, rồi nhớ lại cách ông đã chết, Hê-rốt không thể tìm được sự yên nghỉ. Bận rộn với việc nước, nhận lãnh sự tôn vinh từ loài người, ông mang một gương mặt tươi cười và phong thái đường bệ, trong khi che giấu một tấm lòng lo âu, luôn bị đè nặng bởi nỗi sợ rằng một lời rủa sả đang ở trên ông. DA 223.1
Hê-rốt đã bị ấn tượng sâu sắc bởi những lời của Giăng rằng không có điều gì có thể giấu kín khỏi Đức Chúa Trời. Ông tin chắc rằng Đức Chúa Trời hiện diện ở mọi nơi, rằng Ngài đã chứng kiến cuộc chè chén trong phòng tiệc, rằng Ngài đã nghe mệnh lệnh chặt đầu Giăng, và đã thấy sự hân hoan của Hê-rô-đia, cùng sự sỉ nhục mà bà đã dành cho cái đầu bị chặt lìa của người quở trách bà. Và nhiều điều Hê-rốt đã nghe từ môi miệng của tiên tri giờ đây nói với lương tâm ông cách rõ ràng hơn cả khi ông giảng nơi đồng vắng. DA 223.2
Khi Hê-rốt nghe về những việc làm của Đấng Christ, ông vô cùng bối rối. Ông nghĩ rằng Đức Chúa Trời đã làm cho Giăng sống lại từ kẻ chết, và sai ông ra đi với quyền năng còn lớn hơn để lên án tội lỗi. Ông luôn sợ hãi rằng Giăng sẽ báo thù cho cái chết của mình bằng cách giáng án phạt trên ông và nhà ông. Hê-rốt đang gặt lấy điều mà Đức Chúa Trời đã tuyên bố là kết quả của con đường tội lỗi —
“Trong các nước ấy, ngươi không được an tịnh, bàn chân ngươi không được nghỉ ngơi; nhưng tại đó Đức Giê-hô-va sẽ ban cho ngươi một tấm lòng run sợ, mắt mờ yếu, và linh hồn hao mòn. Sự sống ngươi vẫn không chắc trước mặt ngươi; ngày và đêm ngươi hằng sợ hãi, khó liệu bảo tồn sự sống mình. Bởi cớ sự kinh khủng đầy dẫy lòng ngươi, và bi cảnh mắt ngươi sẽ thấy, nên sớm mai ngươi sẽ nói: Chớ chi được chiều tối rồi! Chiều tối ngươi sẽ nói: Ước gì được sáng mai rồi!” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 28:65-67)
Chính những ý tưởng của kẻ tội lỗi là những kẻ buộc tội hắn; và không có sự tra tấn nào nhức nhối hơn những vết châm chích của một lương tâm tội lỗi, là điều không cho hắn được nghỉ ngơi ngày hay đêm. DA 223.3
Đối với nhiều tâm trí, một sự huyền nhiệm sâu xa bao trùm số phận của Giăng Báp-tít. Họ thắc mắc tại sao ông lại bị bỏ mặc để héo mòn và chết trong tù. Tầm nhìn hạn hẹp của con người không thể thấu hiểu sự huyền nhiệm của một sự quan phòng tăm tối như vậy; nhưng điều đó không bao giờ có thể làm lung lay lòng tin cậy của chúng ta nơi Đức Chúa Trời khi chúng ta nhớ rằng Giăng chỉ là người cùng chia sẻ trong những sự thống khổ của Đấng Christ. Tất cả những ai theo Đấng Christ đều sẽ mang mão triều của sự hy sinh. Chắc chắn họ sẽ bị những kẻ ích kỷ hiểu lầm, và sẽ trở thành mục tiêu cho những cuộc tấn công dữ dội của Sa-tan. Chính nguyên tắc hy sinh quên mình này mà nước của hắn được lập nên để hủy diệt, và hắn sẽ chiến đấu chống lại nó ở bất cứ nơi nào nó được bày tỏ. DA 223.4
Thời thơ ấu, tuổi thanh xuân và tuổi trưởng thành của Giăng đều được đánh dấu bằng sự cương quyết và sức mạnh đạo đức. Khi tiếng của ông được nghe nơi đồng vắng rằng: “Hãy dọn đường Chúa, ban bằng các nẻo Ngài” (Ma-thi-ơ 3:3), Sa-tan lo sợ cho sự an nguy của nước hắn. Tính tội lỗi của tội lỗi được phơi bày theo cách khiến loài người phải run sợ. Quyền lực của Sa-tan trên nhiều người từng nằm dưới sự kiểm soát của hắn đã bị phá vỡ. Hắn đã không mệt mỏi trong nỗ lực kéo Báp-tít ra khỏi đời sống hoàn toàn đầu phục Đức Chúa Trời; nhưng hắn đã thất bại. Và hắn cũng đã thất bại trong việc chế ngự Đức Chúa Giê-su. Trong sự cám dỗ nơi đồng vắng, Sa-tan đã bị đánh bại, và cơn thịnh nộ của hắn thật lớn. Bấy giờ hắn quyết định gây ra nỗi đau buồn cho Đấng Christ bằng cách đánh vào Giăng. Đấng mà hắn không thể dụ dỗ phạm tội thì hắn sẽ khiến Ngài phải chịu khổ. DA 224.1
Đức Chúa Giê-su đã không can thiệp để giải cứu đầy tớ của Ngài. Ngài biết rằng Giăng sẽ chịu nổi sự thử thách. Đấng Cứu Thế hẳn vui lòng đến với Giăng, để làm sáng tỏ bóng tối ngục tù bằng sự hiện diện của chính Ngài. Nhưng Ngài không được phép đặt mình vào tay kẻ thù và gây nguy hiểm cho sứ mạng của chính Ngài. Ngài hẳn vui lòng giải cứu đầy tớ trung thành của Ngài. Nhưng vì cớ hàng ngàn người trong những năm về sau phải đi từ ngục tù đến cái chết, Giăng phải uống chén tử đạo. Khi những kẻ theo Đức Chúa Giê-su phải héo mòn trong những xà lim cô đơn, hoặc bị diệt vong bởi gươm đao, giá tra tấn, hay giàn hỏa thiêu, dường như bị Đức Chúa Trời và loài người bỏ rơi, thì ý nghĩ rằng Giăng Báp-tít—người mà chính Đấng Christ đã làm chứng về lòng trung thành của ông—đã trải qua một kinh nghiệm tương tự, sẽ là một sự nâng đỡ lớn lao biết bao cho lòng họ! DA 224.2
Sa-tan được phép cắt ngắn cuộc đời trần thế của sứ giả Đức Chúa Trời; nhưng cuộc sống vốn “giấu với Đấng Christ trong Đức Chúa Trời” thì kẻ hủy diệt không thể chạm tới. Cô-lô-se 3:3. Hắn hớn hở vì đã gây nỗi đau buồn cho Đấng Christ, nhưng hắn đã thất bại trong việc chinh phục Giăng. Chính sự chết chỉ đặt ông mãi mãi ra ngoài quyền lực của sự cám dỗ. Trong cuộc chiến này, Sa-tan đang bày tỏ bản tính của chính mình. Trước cả vũ trụ đang chứng kiến, hắn đã phơi bày lòng thù nghịch của mình đối với Đức Chúa Trời và loài người. DA 224.3
Dù không có sự giải cứu kỳ diệu nào được ban cho Giăng, ông cũng không bị bỏ rơi. Ông luôn có sự đồng hành của các thiên sứ thiên đàng, là những đấng mở ra cho ông những lời tiên tri về Đấng Christ, và những lời hứa quý báu của Kinh Thánh. Đây là nơi nương tựa của ông, cũng như sẽ là nơi nương tựa của dân Đức Chúa Trời qua các thời đại sắp đến. Đối với Giăng Báp-tít, cũng như đối với những người đến sau ông, lời bảo đảm này đã được ban cho: “Nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.” Ma-thi-ơ 28:20. DA 224.4
Đức Chúa Trời không bao giờ dẫn dắt con cái Ngài khác với cách mà chính họ sẽ chọn để được dẫn dắt, nếu họ có thể thấy được sự cuối cùng từ ban đầu, và nhận ra vinh quang của mục đích mà họ đang hoàn thành với tư cách là những người đồng công với Ngài. Không phải Hê-nóc, người đã được cất lên thiên đàng, không phải Ê-li, người đã thăng thiên trong một cỗ xe bằng lửa, lại cao trọng hay được tôn vinh hơn Giăng Báp-tít, người đã chết một mình trong ngục tối. “Ngài nhân Đấng Christ, ban ơn cho anh em, không những tin Đấng Christ mà thôi, lại phải chịu khổ vì Ngài nữa.” Phi-líp 1:29. Và trong tất cả những món quà mà thiên đàng có thể ban cho loài người, sự thông công với Đấng Christ trong những sự thống khổ của Ngài là sự ủy thác trọng đại nhất và là vinh dự cao quý nhất. DA 224.5