Bê-tết-đa Và Tòa Công Luận
Chương này dựa theo Giăng đoạn 5. DA 201.1
“Số là, tại thành Giê-ru-sa-lem, gần cửa Chiên, có một cái ao, tiếng Hê-bơ-rơ gọi là Bê-tết-đa, xung quanh ao có năm cái vòm cửa. Những kẻ đau ốm, mù quáng, tàn tật, bại xuội nằm tại đó rất đông, (chờ khi nước động;” (Giăng 5:2-3)
DA 201.2
Vào một số thời điểm nhất định, nước của ao này bị khuấy động, và người ta thường tin rằng đây là kết quả của quyền năng siêu nhiên, và bất cứ ai bước xuống nước đầu tiên sau khi ao bị khuấy động sẽ được chữa lành khỏi bất cứ bệnh tật nào mà người ấy mắc phải. Hàng trăm người đau khổ tìm đến nơi này; nhưng đám đông quá lớn khi nước bị khuấy động đến nỗi họ chen lấn xông tới, giẫm đạp dưới chân những người đàn ông, đàn bà và trẻ con yếu đuối hơn mình. Nhiều người không thể đến gần ao. Nhiều người đã đến được bên ao lại chết ngay trên bờ. Người ta đã dựng những mái che chung quanh nơi đó, để người bệnh được bảo vệ khỏi cái nóng ban ngày và cái lạnh ban đêm. Có một số người trải qua đêm tối trong những hành lang này, ngày này qua ngày khác lê mình đến bên bờ ao, trong niềm hy vọng được giải thoát nhưng vô vọng. DA 201.3
Đức Chúa Giê-su lại có mặt tại thành Giê-ru-sa-lem. Bước đi một mình, dường như trong sự suy gẫm và cầu nguyện, Ngài đến bên ao. Ngài thấy những người đau khổ khốn cùng đang chờ đợi điều mà họ tưởng là cơ hội duy nhất được chữa lành. Ngài khao khát thi thố quyền năng chữa lành của mình, và làm cho mọi người đau khổ được lành lặn. Nhưng đó là ngày Sa-bát. Đoàn dân đông đang đi đến đền thờ để thờ phượng, và Ngài biết rằng một hành động chữa lành như vậy sẽ khơi dậy thành kiến của người Do Thái đến nỗi cắt ngắn công việc của Ngài. DA 201.4
Nhưng Đấng Cứu Thế thấy một trường hợp khốn khổ tột cùng. Đó là một người đã bị què quặt bất lực suốt ba mươi tám năm. Bệnh tật của ông phần lớn là kết quả của tội lỗi chính mình, và bị xem như sự phán xét đến từ Đức Chúa Trời. Cô đơn và không bạn bè, cảm thấy mình bị loại trừ khỏi lòng thương xót của Đức Chúa Trời, người đau khổ ấy đã trải qua nhiều năm dài khốn khổ. Vào lúc người ta trông đợi nước sẽ bị khuấy động, những ai thương hại tình trạng bất lực của ông thì khiêng ông đến các hành lang. Nhưng đến giây phút thuận lợi ấy thì ông chẳng có ai giúp đỡ mình xuống. Ông đã thấy nước gợn sóng, nhưng chưa bao giờ có thể đến xa hơn bờ ao. Những người mạnh hơn ông lao xuống trước ông. Ông không thể tranh giành thành công với đám đông ích kỷ chen lấn. Những nỗ lực kiên trì của ông hướng về mục tiêu duy nhất ấy, cùng nỗi lo âu và sự thất vọng liên tục, đang nhanh chóng làm hao mòn chút sức lực còn sót lại của ông. DA 202.1
Người bệnh đang nằm trên chiếc chiếu của mình, thỉnh thoảng ngẩng đầu lên nhìn cái ao, thì một gương mặt dịu dàng, đầy lòng trắc ẩn cúi xuống trên ông, và những lời, “Ngươi có muốn lành chăng?” khiến ông chú ý. Niềm hy vọng đến với lòng ông. Ông cảm thấy rằng bằng cách nào đó mình sẽ được giúp đỡ. Nhưng tia khích lệ ấy sớm phai nhạt. Ông nhớ lại bao lần mình đã cố đến bên ao, và giờ đây ông có ít hy vọng sống được cho đến khi nước lại bị khuấy động. Ông mỏi mệt quay đi, nói rằng, “Lạy Chúa, tôi chẳng có ai để quăng tôi xuống ao trong khi nước động; lúc tôi đi đến, thì kẻ khác đã xuống ao trước tôi rồi.” DA 202.2
Đức Chúa Giê-su không đòi hỏi người đau khổ này phải thi thố đức tin nơi Ngài. Ngài chỉ phán, “Hãy đứng dậy, vác giường ngươi và đi.” Nhưng đức tin của người ấy nắm lấy lời phán đó. Mỗi sợi gân và bắp thịt rung lên với sự sống mới, và hoạt động lành mạnh đến với các chi thể tê liệt của ông. Không nghi ngờ gì, ông đặt ý chí của mình vào việc vâng theo mạng lịnh của Đấng Christ, và toàn thể bắp thịt ông đáp ứng với ý chí của ông. Bật dậy đứng lên, ông thấy mình là một người khỏe mạnh hoạt động. DA 202.3
Đức Chúa Giê-su đã không cho ông một sự bảo đảm nào về sự trợ giúp của Đức Chúa Trời. Người ấy có thể đã dừng lại để nghi ngờ, và đánh mất cơ hội duy nhất được chữa lành. Nhưng ông tin lời của Đấng Christ, và khi hành động theo lời ấy ông nhận được sức lực. DA 203.1
Qua cùng đức tin ấy, chúng ta có thể nhận được sự chữa lành thuộc linh. Bởi tội lỗi, chúng ta đã bị tách lìa khỏi sự sống của Đức Chúa Trời. Linh hồn chúng ta bị bại liệt. Tự mình, chúng ta không thể sống một đời sống thánh khiết hơn là người bất lực có thể bước đi. Có nhiều người nhận thức được sự bất lực của mình, và khao khát sự sống thuộc linh sẽ đem họ vào sự hòa hợp với Đức Chúa Trời; họ đang nỗ lực một cách vô vọng để đạt được nó. Trong tuyệt vọng họ kêu lên, “Khốn nạn cho tôi! Ai sẽ cứu tôi thoát khỏi thân thể hay chết này?” Rô-ma 7:24, lời ghi bên lề. Hãy để những kẻ nản lòng, đang vật lộn này ngước mắt lên. Đấng Cứu Thế đang cúi xuống trên vật đã mua bằng huyết Ngài, phán với lòng dịu dàng và thương xót không thể tả xiết, “Ngươi có muốn lành chăng?” Ngài truyền cho ngươi hãy chỗi dậy trong sự mạnh khỏe và bình an. Đừng chờ đợi cho đến khi cảm thấy mình đã được lành lặn. Hãy tin lời Ngài, và lời ấy sẽ được ứng nghiệm. Hãy đặt ý chí của ngươi về phía Đấng Christ. Hãy quyết tâm phục vụ Ngài, và khi hành động theo lời Ngài ngươi sẽ nhận được sức lực. Bất kể là thói quen xấu xa nào, niềm đam mê chế ngự nào mà qua sự buông thả lâu dài đã trói buộc cả linh hồn lẫn thể xác, Đấng Christ vẫn có thể và khao khát giải cứu. Ngài sẽ ban sự sống cho linh hồn “đã chết vì lầm lỗi.” Ê-phê-sô 2:1. Ngài sẽ giải phóng kẻ bị giam cầm bởi sự yếu đuối, bất hạnh và những xiềng xích của tội lỗi. DA 203.2
Người bại liệt được phục hồi cúi xuống nhặt chiếc giường của mình, vốn chỉ là một tấm thảm và một tấm chăn, và khi ông đứng thẳng người lên lần nữa với cảm giác vui sướng, ông nhìn quanh để tìm Đấng Giải Cứu của mình; nhưng Đức Chúa Giê-su đã khuất mất trong đám đông. Người ấy sợ rằng mình sẽ không nhận ra Ngài nếu gặp lại Ngài. Khi ông vội vã đi trên đường với bước chân vững chãi, tự do, ngợi khen Đức Chúa Trời và vui mừng trong sức lực mới tìm được, ông gặp mấy người Pha-ri-si, và lập tức thuật lại cho họ về việc mình được chữa lành. Ông ngạc nhiên trước sự lạnh nhạt mà họ lắng nghe câu chuyện của mình. DA 203.3
Với cặp lông mày cau lại, họ ngắt lời ông, hỏi tại sao ông lại vác giường mình trong ngày Sa-bát. Họ nghiêm khắc nhắc ông rằng vác gánh nặng trong ngày của Chúa là không hợp luật pháp. Trong niềm vui mừng, người ấy đã quên rằng đó là ngày Sa-bát; tuy nhiên ông không cảm thấy bị lên án vì đã vâng theo mạng lịnh của Đấng có quyền năng như vậy từ Đức Chúa Trời. Ông mạnh dạn đáp, “Chính người đã chữa tôi được lành biểu tôi rằng: Hãy vác giường ngươi và đi.” Họ hỏi ai là người đã làm điều này, nhưng ông không thể nói được. Những kẻ cai trị này biết rõ rằng chỉ có Một Đấng đã tỏ ra có thể thực hiện phép lạ này; nhưng họ muốn có bằng chứng trực tiếp rằng đó là Đức Chúa Giê-su, để họ có thể lên án Ngài là kẻ phạm ngày Sa-bát. Theo sự phán đoán của họ, Ngài không những đã phá luật pháp khi chữa lành người bệnh trong ngày Sa-bát, mà còn phạm tội báng bổ khi bảo ông vác giường mình đi. DA 203.4
Người Do Thái đã làm sai lệch luật pháp đến nỗi biến nó thành cái ách nô lệ. Những đòi hỏi vô nghĩa của họ đã trở thành lời chế giễu giữa các dân tộc khác. Đặc biệt là ngày Sa-bát bị vây kín bởi đủ mọi thứ hạn chế vô lý. Đối với họ, ngày ấy không phải là niềm vui thích, ngày thánh của Chúa, và đáng tôn trọng. Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si đã biến sự giữ ngày Sa-bát thành một gánh nặng không thể chịu đựng nổi. Một người Do Thái không được phép nhóm lửa hay thậm chí thắp một ngọn nến trong ngày Sa-bát. Hậu quả là dân chúng phải lệ thuộc vào dân ngoại trong nhiều công việc mà luật lệ của họ cấm họ tự làm cho mình. Họ không suy xét rằng nếu những hành động ấy là tội lỗi, thì kẻ thuê người khác làm chúng cũng có tội như thể chính họ đã làm công việc ấy. Họ tưởng rằng sự cứu rỗi chỉ giới hạn cho người Do Thái, và tình trạng của tất cả những người khác, vốn đã vô vọng, thì không thể trở nên tồi tệ hơn được. Nhưng Đức Chúa Trời đã không ban một điều răn nào mà không thể được mọi người vâng giữ. Luật pháp của Ngài không cho phép những hạn chế vô lý hay ích kỷ. DA 204.1
Trong đền thờ, Đức Chúa Giê-su gặp người đã được chữa lành. Ông đã đến để dâng một của lễ chuộc tội và cũng dâng một của lễ tạ ơn vì lòng thương xót lớn lao mà ông đã nhận được. Tìm thấy ông giữa những người thờ phượng, Đức Chúa Giê-su tỏ mình ra, với những lời cảnh báo, “Kìa, ngươi đã lành rồi, đừng phạm tội nữa, e có sự gì càng xấu xa xảy đến cho ngươi chăng.” DA 204.2
Người được chữa lành vui mừng khôn xiết khi gặp Đấng Giải Cứu của mình. Không biết về sự thù ghét đối với Đức Chúa Giê-su, ông nói với những người Pha-ri-si đã chất vấn ông rằng đây chính là Đấng đã thực hiện sự chữa lành. “Nhân đó dân Giu-đa bắt bớ Đức Chúa Giê-su, vì cớ Ngài làm những sự ấy trong ngày Sa-bát.” DA 204.3
Đức Chúa Giê-su bị giải đến trước Tòa Công Luận để trả lời lời buộc tội vi phạm ngày Sa-bát. Nếu lúc bấy giờ người Do Thái là một quốc gia độc lập, thì lời buộc tội như vậy đã đủ để họ đạt được mục đích đem Ngài đi giết. Nhưng việc họ lệ thuộc người La-mã đã ngăn cản điều đó. Người Do Thái không có quyền thi hành án tử hình, và những lời cáo buộc chống lại Đấng Christ sẽ không có sức nặng nào trong một tòa án La-mã. Tuy nhiên, có những mục tiêu khác mà họ hy vọng đạt được. Mặc dù họ ra sức chống lại công việc của Ngài, Đấng Christ vẫn đang gây được, ngay cả tại Giê-ru-sa-lem, một ảnh hưởng trên dân chúng lớn hơn ảnh hưởng của chính họ. Vô số người vốn không quan tâm đến những bài diễn thuyết dài dòng của các thầy thông giáo lại bị thu hút bởi lời dạy của Ngài. Họ có thể hiểu được lời Ngài, và lòng họ được sưởi ấm và an ủi. Ngài nói về Đức Chúa Trời, không phải như một quan án báo thù, mà như một người Cha dịu dàng, và Ngài đã bày tỏ hình ảnh của Đức Chúa Trời được phản chiếu trong chính Ngài. Lời Ngài như dầu thoa cho tâm hồn bị thương tích. Qua cả lời nói lẫn những việc làm thương xót của Ngài, Ngài đang phá vỡ quyền lực áp bức của những truyền thống cũ kỹ và những điều răn do loài người đặt ra, và trình bày tình yêu thương của Đức Chúa Trời trong sự trọn vẹn vô tận của nó. DA 204.4
Trong một trong những lời tiên tri sớm nhất về Đấng Christ có chép rằng,
“Cây phủ việt chẳng hề dời khỏi Giu-đa, Kẻ lập pháp không dứt khỏi giữa chân nó, Cho đến chừng Đấng Si-lô hiện tới, Và các dân vâng phục Đấng đó.” (Sáng-thế Ký 49:10)
Dân chúng đang quy tụ về Đấng Christ. Tấm lòng đầy thiện cảm của đoàn dân đông tiếp nhận những bài học về tình yêu thương và lòng nhân từ hơn là những nghi lễ cứng nhắc mà các thầy tế lễ đòi hỏi. Nếu các thầy tế lễ và các thầy thông giáo không can thiệp vào, thì lời dạy của Ngài đã tạo nên một cuộc cải cách mà thế gian này chưa từng chứng kiến. Nhưng để duy trì quyền lực của mình, các nhà lãnh đạo này đã quyết tâm phá đổ ảnh hưởng của Đức Chúa Giê-su. Việc đem Ngài ra trước Tòa Công Luận, và công khai lên án những lời dạy của Ngài, sẽ giúp họ đạt được điều này; vì dân chúng vẫn còn rất kính trọng các nhà lãnh đạo tôn giáo của họ. Bất cứ ai dám lên án những đòi hỏi của các thầy thông giáo, hoặc tìm cách làm nhẹ bớt những gánh nặng mà họ đã đặt lên dân chúng, thì bị xem là có tội, không chỉ là phạm thượng, mà còn là phản nghịch. Trên cơ sở đó, các thầy thông giáo hy vọng khơi dậy sự nghi ngờ đối với Đấng Christ. Họ mô tả Ngài như đang tìm cách lật đổ những phong tục đã được thiết lập, do đó gây chia rẽ trong dân chúng, và dọn đường cho sự khuất phục hoàn toàn dưới tay người La-mã. DA 205.1
Nhưng những kế hoạch mà các thầy thông giáo này hăng hái thực hiện đã bắt nguồn từ một hội đồng khác chứ không phải Tòa Công Luận. Sau khi Sa-tan thất bại trong việc đánh bại Đấng Christ nơi đồng vắng, hắn đã tập hợp lực lượng của mình để chống lại Ngài trong chức vụ của Ngài, và nếu có thể thì cản trở công việc của Ngài. Điều gì hắn không thể đạt được bằng nỗ lực trực tiếp, cá nhân, thì hắn quyết tâm thực hiện bằng mưu kế. Vừa mới rút lui khỏi cuộc xung đột nơi đồng vắng, hắn liền bàn bạc với các thiên sứ đồng minh của mình và hoạch định kế hoạch để tiếp tục làm mù lòa tâm trí người Do Thái hơn nữa, hầu cho họ không thể nhận ra Đấng Cứu Chuộc của mình. Hắn lập kế hoạch hành động qua những công cụ loài người trong thế giới tôn giáo, bằng cách thấm nhuần trong họ chính lòng thù hận của hắn đối với đấng vô địch của lẽ thật. Hắn sẽ dẫn dắt họ chối bỏ Đấng Christ và làm cho đời sống Ngài cay đắng đến mức tối đa, với hy vọng khiến Ngài nản lòng trong sứ mạng của Ngài. Và các nhà lãnh đạo trong dân Y-sơ-ra-ên đã trở thành công cụ của Sa-tan trong cuộc chiến chống lại Đấng Cứu Thế. DA 205.2
Đức Chúa Giê-su đã đến để “làm cho luật pháp được tôn trọng và vinh hiển.” Ngài không đến để hạ thấp phẩm giá của luật pháp, mà để nâng cao nó. Kinh Thánh chép,
“Người chẳng mòn mỏi, chẳng ngã lòng, cho đến chừng nào lập xong sự công bình trên đất; các cù lao sẽ trông đợi luật pháp người.” (Ê-sai 42:4)
Ngài đã đến để giải phóng ngày Sa-bát khỏi những đòi hỏi nặng nề đã biến nó thành một sự rủa sả thay vì một phước lành. DA 206.1
Vì lý do này mà Ngài đã chọn ngày Sa-bát để thực hiện hành động chữa lành tại Bê-tết-đa. Ngài cũng có thể chữa lành người bệnh đó vào bất kỳ ngày nào khác trong tuần; hoặc Ngài có thể chỉ đơn giản chữa lành cho người ấy mà không bảo người mang vác chiếc giường của mình đi. Nhưng làm như vậy sẽ không cho Ngài cơ hội mà Ngài mong muốn. Một mục đích khôn ngoan ẩn chứa trong mọi hành động của đời sống Đấng Christ trên đất. Mọi việc Ngài làm đều quan trọng tự thân và trong sự dạy dỗ của nó. Trong số những người đau yếu tại ao nước, Ngài đã chọn trường hợp tệ hại nhất để thi thố quyền năng chữa lành của mình, và bảo người ấy vác giường đi qua thành phố để công bố công việc lớn lao đã được thực hiện trên người. Điều này sẽ làm dấy lên câu hỏi về việc gì là hợp pháp được làm trong ngày Sa-bát, và sẽ mở đường cho Ngài tố cáo những hạn chế của người Do Thái liên quan đến ngày của Chúa, và tuyên bố những truyền thống của họ là vô hiệu. DA 206.2
Đức Chúa Giê-su tuyên bố với họ rằng công việc cứu giúp những người đau khổ là phù hợp với luật pháp ngày Sa-bát. Nó phù hợp với công việc của các thiên sứ của Đức Chúa Trời, là những vị luôn lên xuống giữa trời và đất để phục vụ nhân loại đau khổ. Đức Chúa Giê-su phán, “Cha ta làm việc cho đến bây giờ, ta đây cũng làm việc như vậy.” Mọi ngày đều thuộc về Đức Chúa Trời, là những ngày để Ngài thực hiện các kế hoạch của Ngài cho loài người. Nếu cách giải thích luật pháp của người Do Thái là đúng, thì Đức Giê-hô-va đã sai lầm, là Đấng mà công việc của Ngài đã ban sức sống và nâng đỡ mọi vật sống kể từ khi Ngài đặt nền móng của trái đất; thì Đấng đã tuyên bố công việc của Ngài là tốt lành, và lập ngày Sa-bát để kỷ niệm sự hoàn tất của nó, hẳn phải chấm dứt công lao của Ngài, và ngừng vận hành không bao giờ ngơi nghỉ của vũ trụ. DA 206.3
Liệu Đức Chúa Trời có cấm mặt trời thi hành nhiệm vụ của nó trong ngày Sa-bát, cắt bỏ những tia sáng ấm áp của nó sưởi ấm trái đất và nuôi dưỡng cây cỏ chăng? Liệu hệ thống các thế giới có phải đứng yên trong suốt ngày thánh đó chăng? Liệu Ngài có ra lệnh cho các dòng suối ngừng tưới mát đồng ruộng và rừng cây, và bảo những đợt sóng biển ngừng dòng nước lên xuống không ngơi nghỉ của chúng chăng? Liệu lúa mì và bắp có phải ngừng mọc lên, và chùm trái chín có phải hoãn lại màu tím rực rỡ của nó chăng? Liệu cây cối và hoa lá có phải không đâm chồi nở nụ trong ngày Sa-bát chăng? DA 206.4
Trong trường hợp đó, con người sẽ thiếu mất hoa quả của đất, và những phước lành làm cho cuộc sống đáng mong ước. Thiên nhiên phải tiếp tục tiến trình không thay đổi của nó. Đức Chúa Trời không thể ngừng tay Ngài dù chỉ một giây phút, nếu không con người sẽ ngã quỵ và chết đi. Và con người cũng có một công việc phải làm trong ngày này. Những nhu cầu của cuộc sống phải được chu cấp, người bệnh phải được chăm sóc, những nhu cầu của người thiếu thốn phải được đáp ứng. Ai bỏ qua việc cứu giúp người đau khổ trong ngày Sa-bát sẽ không được kể là vô tội. Ngày yên nghỉ thánh của Đức Chúa Trời được dựng nên cho loài người, và những hành động thương xót hoàn toàn phù hợp với mục đích của nó. Đức Chúa Trời không muốn các tạo vật của Ngài chịu đau đớn dù chỉ một giờ mà có thể được cứu giúp trong ngày Sa-bát hay bất kỳ ngày nào khác. DA 207.1
Những đòi hỏi đối với Đức Chúa Trời thậm chí còn lớn hơn trong ngày Sa-bát so với những ngày khác. Khi đó dân sự Ngài bỏ công việc thường ngày, và dành thời gian để suy gẫm và thờ phượng. Họ cầu xin nhiều ân huệ nơi Ngài trong ngày Sa-bát hơn những ngày khác. Họ đòi hỏi sự chú ý đặc biệt của Ngài. Họ khao khát những phước lành chọn lọc nhất của Ngài. Đức Chúa Trời không chờ cho ngày Sa-bát qua đi rồi mới ban cho những điều cầu xin này. Công việc của thiên đàng không bao giờ ngừng nghỉ, và con người cũng không bao giờ nên ngừng làm điều lành. Ngày Sa-bát không có ý là một thời kỳ ngồi không vô ích. Luật pháp cấm lao động thế tục trong ngày yên nghỉ của Chúa; sự lao nhọc để kiếm sống phải chấm dứt; không lao động nào vì lạc thú hay lợi lộc trần gian là hợp pháp trong ngày đó; nhưng cũng như Đức Chúa Trời ngừng công việc sáng tạo của Ngài, và yên nghỉ trong ngày Sa-bát và ban phước cho nó, thì con người cũng phải rời bỏ những công việc của đời sống thường nhật, và dành những giờ thiêng liêng ấy cho sự yên nghỉ lành mạnh, cho sự thờ phượng, và cho những việc làm thánh khiết. Công việc của Đấng Christ trong việc chữa lành người bệnh hoàn toàn phù hợp với luật pháp. Nó tôn vinh ngày Sa-bát. DA 207.2
Đức Chúa Giê-su tuyên bố Ngài có quyền bình đẳng với Đức Chúa Trời trong việc thực hiện một công việc thánh khiết như nhau, và cùng một bản chất với công việc mà Đức Chúa Cha trên trời đang làm. Nhưng người Pha-ri-si lại càng tức giận hơn nữa. Theo sự hiểu biết của họ, Ngài không những đã vi phạm luật pháp, mà khi gọi Đức Chúa Trời là “Cha riêng của Ngài” thì Ngài đã tự xưng mình bình đẳng với Đức Chúa Trời.
“Bởi cớ đó, dân Giu-đa càng kiếm cách nữa để giết Ngài, chẳng những vì Ngài phạm ngày Sa-bát thôi, mà lại vì Ngài gọi Đức Chúa Trời là Thân Phụ mình, làm ra mình bằng Đức Chúa Trời.” (Giăng 5:18)
DA 207.3
Cả dân tộc Do Thái đều gọi Đức Chúa Trời là Cha của họ, vì vậy họ đã không phẫn nộ đến thế nếu Đấng Christ tự nhận mình ở trong cùng một mối tương quan với Đức Chúa Trời. Nhưng họ cáo buộc Ngài phạm thượng, cho thấy rằng họ hiểu Ngài đang đưa ra lời tuyên bố này theo nghĩa cao nhất. DA 207.4
Những kẻ thù nghịch của Đấng Christ không có lý lẽ nào để đối đáp lại những lẽ thật mà Ngài đã đem đến tận lương tâm họ. Họ chỉ có thể viện dẫn những tập tục và truyền thống của mình, mà những điều ấy dường như yếu ớt và vô vị khi đem so sánh với những lý lẽ Đức Chúa Giê-su đã rút ra từ Lời Đức Chúa Trời và vòng tuần hoàn không ngừng của thiên nhiên. Nếu các thầy thông giáo có lòng khao khát tiếp nhận ánh sáng, hẳn họ đã được thuyết phục rằng Đức Chúa Giê-su nói lẽ thật. Nhưng họ né tránh những điểm Ngài đưa ra liên quan đến ngày Sa-bát, và tìm cách khơi dậy cơn giận chống lại Ngài vì Ngài tự xưng mình ngang hàng với Đức Chúa Trời. Cơn cuồng nộ của các nhà lãnh đạo không còn giới hạn nào. Nếu không sợ dân chúng, các thầy tế lễ và thầy thông giáo hẳn đã giết Đức Chúa Giê-su ngay tại chỗ. Nhưng tình cảm của quần chúng dành cho Ngài rất mạnh mẽ. Nhiều người nhận biết nơi Đức Chúa Giê-su một người bạn đã chữa lành bệnh tật và an ủi nỗi buồn của họ, và họ biện minh cho việc Ngài chữa lành người đau khổ tại ao Bê-tết-đa. Vậy nên trong lúc đó các nhà lãnh đạo buộc phải kìm nén lòng thù hận của mình. DA 208.1
Đức Chúa Giê-su bác bỏ lời cáo buộc phạm thượng. Ngài phán: Quyền của Ta, để làm công việc mà các ngươi tố cáo Ta, là vì Ta là Con Đức Chúa Trời, đồng nhất với Ngài trong bản tánh, trong ý muốn, và trong mục đích. Trong mọi công việc sáng tạo và quan phòng của Ngài, Ta cùng hành động với Đức Chúa Trời. “Con chẳng tự mình làm việc gì được; chỉ làm điều chi mà Con thấy Cha làm.” Các thầy tế lễ và thầy thông giáo đang khiển trách Con Đức Chúa Trời về chính công việc mà Ngài được sai xuống thế gian để làm. Bởi tội lỗi mình, họ đã tự tách mình khỏi Đức Chúa Trời, và trong sự kiêu ngạo của mình, họ hành động độc lập với Ngài. Họ cảm thấy tự mình đầy đủ trong mọi sự, và chẳng nhận thấy cần đến một sự khôn ngoan cao hơn để hướng dẫn hành động của mình. Nhưng Con Đức Chúa Trời thì phó mình theo ý muốn của Đức Chúa Cha, và nương cậy nơi quyền năng của Ngài. Đấng Christ đã tự bỏ mình một cách trọn vẹn đến nỗi Ngài không lập kế hoạch nào cho riêng mình. Ngài tiếp nhận các kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho Ngài, và ngày qua ngày Đức Chúa Cha bày tỏ các kế hoạch của Ngài. Chúng ta cũng phải nương cậy nơi Đức Chúa Trời như vậy, để đời sống chúng ta có thể là sự thể hiện đơn sơ của ý muốn Ngài. DA 208.2
Khi Môi-se sắp xây dựng đền thánh làm nơi cư ngụ cho Đức Chúa Trời, ông được chỉ dạy phải làm mọi vật theo kiểu mẫu đã được tỏ cho ông trên núi. Môi-se đầy lòng nhiệt thành làm công việc của Đức Chúa Trời; những người tài năng và khéo léo nhất đều sẵn sàng để thực hiện các đề nghị của ông. Tuy vậy, ông không được làm một cái chuông, một trái lựu, một cái tua, một viền, một bức màn, hay bất cứ vật dụng nào của đền thánh, ngoại trừ làm theo kiểu mẫu đã được tỏ cho ông. Đức Chúa Trời gọi ông lên núi, và bày tỏ cho ông những điều trên trời. Chúa lấy chính sự vinh hiển của Ngài bao phủ ông, để ông có thể thấy được kiểu mẫu, và theo đó mọi vật được làm ra. Cũng vậy, đối với dân Y-sơ-ra-ên, là dân mà Ngài muốn lập làm nơi cư ngụ của Ngài, Ngài đã bày tỏ cho họ lý tưởng vinh hiển của Ngài về phẩm hạnh. Kiểu mẫu được tỏ cho họ trên núi khi luật pháp được ban ra từ Si-na-i, và khi Chúa đi ngang qua trước mặt Môi-se và tuyên phán, “Giê-hô-va! Giê-hô-va! là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và thành thực, ban ơn đến ngàn đời, xá điều gian ác, tội trọng, và tội lỗi.”
“Ngài đi ngang qua mặt người, hô rằng: Giê-hô-va! Giê-hô-va! là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và thành thực, ban ơn đến ngàn đời, xá điều gian ác, tội trọng, và tội lỗi; nhưng chẳng kể kẻ có tội là vô tội, và nhân tội tổ phụ phạt đến con cháu trải ba bốn đời.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:6,7)
DA 208.3
Dân Y-sơ-ra-ên đã chọn đường lối riêng của họ. Họ đã không xây dựng theo kiểu mẫu; nhưng Đấng Christ, là đền thờ thật cho Đức Chúa Trời ngự trong đó, đã nắn từng chi tiết của đời sống trần thế của Ngài cho hòa hợp với lý tưởng của Đức Chúa Trời. Ngài phán, “Hỡi Đức Chúa Trời tôi, tôi lấy làm vui mừng làm theo ý muốn Chúa, luật pháp Chúa ở trong lòng tôi.”
“Hỡi Đức Chúa Trời tôi, tôi lấy làm vui mừng làm theo ý muốn Chúa, Luật pháp Chúa ở trong lòng tôi.” (Thi-thiên 40:8)
Cũng vậy, phẩm hạnh của chúng ta phải được xây dựng “để làm nên một chỗ Đức Chúa Trời ở trong Thánh Linh.”
“Ấy, anh em cũng nhờ Ngài mà được dự phần vào nhà đó, đặng trở nên nhà ở của Đức Chúa Trời trong Thánh Linh.” (Ê-phê-sô 2:22)
Và chúng ta phải “làm mọi vật theo kiểu mẫu,” tức là theo Đấng đã “chịu khổ cho anh em, để lại cho anh em một gương, hầu cho anh em noi dấu chân Ngài.”
“và giữ sự thờ phượng, sự thờ phượng đó chẳng qua là hình và bóng của những sự trên trời mà thôi, cũng như khi Môi-se gần dựng đền tạm, thì Đức Chúa Trời phán bảo rằng: Hãy cẩn thận, làm mọi việc theo như kiểu mẫu đã chỉ cho ngươi tại trên núi.” (Hê-bơ-rơ 8:5)
“Anh em đã được kêu gọi đến sự đó, vì Đấng Cơ-đốc cũng đã chịu khổ cho anh em, để lại cho anh em một gương, hầu cho anh em noi dấu chân Ngài;” (I Phi-e-rơ 2:21)
DA 209.1
Lời của Đấng Christ dạy rằng chúng ta phải xem mình gắn bó cách không thể tách rời với Cha chúng ta ở trên trời. Bất kể địa vị của chúng ta thế nào, chúng ta đều nương cậy nơi Đức Chúa Trời, là Đấng nắm giữ mọi số phận trong tay Ngài. Ngài đã chỉ định công việc cho chúng ta, và đã ban cho chúng ta những khả năng và phương tiện để làm công việc ấy. Hễ khi nào chúng ta phó ý muốn mình cho Đức Chúa Trời, và tin cậy nơi sức mạnh và sự khôn ngoan của Ngài, chúng ta sẽ được dẫn dắt vào những con đường an toàn, để hoàn thành phần việc được chỉ định cho chúng ta trong kế hoạch vĩ đại của Ngài. Nhưng kẻ nương cậy nơi sự khôn ngoan và quyền năng riêng của mình thì đang tự tách mình khỏi Đức Chúa Trời. Thay vì hành động hiệp một với Đấng Christ, kẻ ấy đang làm thành mục đích của kẻ thù của Đức Chúa Trời và loài người. DA 209.2
Đấng Cứu Thế tiếp tục: “Cha làm việc gì… thì Con cũng làm y như vậy… Cha khiến những kẻ chết sống lại và ban sự sống cho họ thể nào, thì Con cũng ban sự sống cho kẻ Con muốn thể ấy.” Người Sa-đu-sê cho rằng sẽ không có sự sống lại của thân thể; nhưng Đức Chúa Giê-su bảo họ rằng một trong những công việc lớn lao nhất của Cha Ngài là làm cho kẻ chết sống lại, và chính Ngài cũng có quyền làm công việc đó. “Giờ đến, và đã đến rồi, khi những kẻ chết sẽ nghe tiếng của Con Đức Chúa Trời, và những kẻ nghe sẽ được sống.” Người Pha-ri-si tin nơi sự sống lại của kẻ chết. Đấng Christ tuyên bố rằng ngay cả lúc này quyền năng ban sự sống cho kẻ chết đang ở giữa họ, và họ sẽ được thấy sự biểu hiện của quyền năng ấy. Cũng chính quyền năng phục sinh này là quyền năng ban sự sống cho linh hồn “chết vì lầm lỗi và tội ác mình.”
“Còn anh em đã chết vì lầm lỗi và tội ác mình,” (Ê-phê-sô 2:1)
Thần linh của sự sống trong Đức Chúa Giê-su Christ ấy, “quyền phép sự sống lại của Ngài,” khiến loài người được “buông tha khỏi luật của tội lỗi và sự chết.”
“cho đến nỗi tôi được biết Ngài, và quyền phép sự sống lại của Ngài, và sự thông công thương khó của Ngài, làm cho tôi nên giống như Ngài trong sự chết Ngài,” (Phi-líp 3:10)
“vì luật pháp của Thánh Linh sự sống đã nhờ Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc buông tha tôi khỏi luật pháp của sự tội và sự chết.” (Rô-ma 8:2)
Quyền thống trị của điều ác bị đập tan, và nhờ đức tin linh hồn được giữ khỏi tội lỗi. Ai mở lòng mình cho Thần Linh của Đấng Christ thì trở nên người dự phần trong quyền năng vĩ đại ấy, là quyền năng sẽ đem thân thể người ra khỏi mồ mả. DA 209.3
Người Na-xa-rét khiêm nhường ấy khẳng định sự cao trọng thật của Ngài. Ngài vượt lên trên loài người, ném bỏ lớp vỏ ngụy trang của tội lỗi và xấu hổ, và đứng ra bày tỏ chính mình là Đấng được các thiên sứ tôn kính, Con Đức Chúa Trời, Đấng đồng nhất với Đấng Tạo Hóa của vũ trụ. Những người nghe Ngài đều bị thu hút mê mẩn. Chưa hề có ai nói những lời như Ngài, hay ăn ở với một sự uy nghiêm vương giả như Ngài. Những lời Ngài phán đều rõ ràng và minh bạch, tuyên bố đầy đủ sứ mạng của Ngài, và bổn phận của thế gian. “Cha cũng chẳng xét đoán ai hết, nhưng đã giao trọn quyền phán xét cho Con, hầu cho ai nấy đều tôn kính Con, cũng như tôn kính Cha vậy. Ai không tôn kính Con, ấy là không tôn kính Cha, là Đấng đã sai Con đến… Vì như Cha có sự sống trong mình, thì Cha cũng đã ban cho Con có sự sống trong mình vậy. Cha đã ban quyền thi hành sự phán xét cho Con, vì là Con người.” DA 210.1
Các thầy tế lễ và các nhà lãnh đạo đã tự lập mình làm quan xét để lên án công việc của Đấng Christ, nhưng Ngài tuyên bố chính Ngài là quan xét của họ, và là quan xét của cả thế gian. Thế gian đã được giao phó cho Đấng Christ, và qua Ngài mọi phước lành từ Đức Chúa Trời đã đến với dòng dõi sa ngã. Ngài là Đấng Cứu Chuộc cả trước lẫn sau khi Ngài nhập thể. Ngay khi có tội lỗi, thì đã có một Đấng Cứu Thế. Ngài đã ban ánh sáng và sự sống cho mọi người, và theo lượng ánh sáng đã được ban cho, mỗi người sẽ bị phán xét. Và Đấng đã ban ánh sáng, Đấng đã theo đuổi linh hồn bằng lời nài xin dịu dàng nhất, tìm cách kéo linh hồn ra khỏi tội lỗi đến sự thánh khiết, ấy Ngài vừa là Đấng biện hộ vừa là quan xét. Từ khi cuộc đại tranh chiến mở ra trên trời, Sa-tan đã duy trì sự nghiệp của hắn qua sự lừa dối; và Đấng Christ đã hành động để vạch trần những mưu kế của hắn và đập tan quyền lực của hắn. Chính Ngài là Đấng đã đối đầu với kẻ lừa dối, và qua mọi thời đại đã tìm cách giải thoát những kẻ bị giam cầm khỏi tay hắn, là Đấng sẽ phán xét mọi linh hồn. DA 210.2
Và Đức Chúa Trời “đã ban quyền thi hành sự phán xét cho Con, vì là Con người.” Bởi vì Ngài đã nếm chính cặn bã của sự đau khổ và cám dỗ của loài người, và hiểu được sự yếu đuối và tội lỗi của con người; bởi vì vì lợi ích của chúng ta Ngài đã chiến thắng các cám dỗ của Sa-tan, và sẽ đối xử công bằng và dịu dàng với những linh hồn mà chính huyết Ngài đã đổ ra để cứu — bởi cớ ấy, Con người được chỉ định để thi hành sự phán xét. DA 210.3
Nhưng sứ mạng của Đấng Christ không phải để phán xét, mà để cứu rỗi. “Đức Chúa Trời sai Con Ngài xuống thế gian, chẳng phải để đoán xét thế gian đâu, nhưng hầu cho thế gian nhờ Con ấy mà được cứu.”
“Vả, Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài xuống thế gian, chẳng phải để đoán xét thế gian đâu, nhưng hầu cho thế gian nhờ Con ấy mà được cứu.” (Giăng 3:17)
Và trước Tòa Công Luận, Đức Chúa Giê-su tuyên bố, “Ai nghe lời Ta mà tin Đấng đã sai Ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống.”
“Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống.” (Giăng 5:24)
DA 210.4
Truyền cho người nghe đừng lấy làm lạ, Đấng Christ mở ra trước họ, trong một tầm nhìn rộng lớn hơn, sự mầu nhiệm của tương lai. Ngài phán:
“Chớ lấy điều đó làm lạ; vì giờ đến, khi mọi người ở trong mồ mả nghe tiếng Ngài và ra khỏi; ai đã làm lành thì sống lại để được sống, ai đã làm dữ thì sống lại để bị xét đoán.” (Giăng 5:28-29)
DA 211.1
Sự bảo đảm về sự sống tương lai này chính là điều mà Y-sơ-ra-ên đã trông đợi từ lâu, và là điều họ hy vọng nhận được khi Đấng Mê-si đến. Ánh sáng duy nhất có thể soi tỏ sự u ám của nấm mồ đang chiếu rọi trên họ. Nhưng lòng tự ý là mù quáng. Đức Chúa Giê-su đã vi phạm các truyền thống của các thầy thông giáo, và bất chấp thẩm quyền của họ, nên họ không chịu tin. DA 211.2
Thời gian, địa điểm, hoàn cảnh, cường độ cảm xúc lan tỏa khắp hội nghị, tất cả kết hợp lại làm cho lời của Đức Chúa Giê-su trước Tòa Công Luận càng thêm sâu sắc. Những thẩm quyền tôn giáo cao nhất của dân tộc đang tìm cách giết Đấng tự xưng là người phục hồi của Y-sơ-ra-ên. Chúa của ngày Sa-bát bị đem ra trước một tòa án trần thế để trả lời cho lời cáo buộc rằng Ngài phá vỡ luật ngày Sa-bát. Khi Ngài tuyên bố sứ mạng của Ngài một cách dạn dĩ như vậy, các quan xét nhìn Ngài với sự kinh ngạc và phẫn nộ; nhưng lời Ngài không thể bắt bẻ được. Họ không thể kết tội Ngài. Ngài phủ nhận quyền của các thầy tế lễ và các thầy thông giáo trong việc tra hỏi Ngài, hay can thiệp vào công việc của Ngài. Họ chẳng được trao cho thẩm quyền như vậy. Những đòi hỏi của họ dựa trên chính sự kiêu ngạo và ngạo mạn của họ. Ngài từ chối nhận tội theo lời cáo buộc của họ, hay để bị họ chất vấn. DA 211.3
Thay vì xin lỗi về hành động mà họ phàn nàn, hay giải thích mục đích của Ngài khi làm điều đó, Đức Chúa Giê-su quay sang các nhà cầm quyền, và người bị cáo trở thành người tố cáo. Ngài quở trách họ về sự cứng lòng, và sự dốt nát của họ về Kinh Thánh. Ngài tuyên bố rằng họ đã chối bỏ lời Đức Chúa Trời, bởi vì họ đã chối bỏ Đấng mà Đức Chúa Trời đã sai đến.
“Các ngươi dò xem Kinh thánh, vì tưởng bởi đó được sự sống đời đời: Ấy là Kinh thánh làm chứng về ta vậy.” (Giăng 5:39)
DA 211.4
Trên mỗi trang, dù là lịch sử, hay điều răn, hay lời tiên tri, Kinh Thánh Cựu Ước đều rạng ngời với sự vinh hiển của Con Đức Chúa Trời. Trong chừng mực thuộc về sự thiết lập của thần thượng, toàn bộ hệ thống Do Thái Giáo là một lời tiên tri được cô đọng về tin lành. Đối với Đấng Christ,
“Hết thảy các đấng tiên tri đều làm chứng này về Ngài rằng hễ ai tin Ngài thì được sự tha tội vì danh Ngài.” (Công-vụ các Sứ-đồ 10:43)
Từ lời hứa ban cho A-đam, xuống suốt dòng dõi các tổ phụ và thể chế luật pháp, ánh sáng vinh hiển của thiên đàng đã làm sáng tỏ những bước chân của Đấng Cứu Chuộc. Các nhà tiên kiến đã trông thấy Ngôi Sao Bết-lê-hem, Đấng Si-lô sẽ đến, khi những điều tương lai diễn qua trước mặt họ trong một cuộc diễu hành đầy mầu nhiệm. Trong mỗi của lễ, sự chết của Đấng Christ được tỏ ra. Trong mỗi làn khói hương, sự công bình của Ngài bay lên. Qua mỗi tiếng kèn năm hân hỉ, danh Ngài vang dội. Trong sự mầu nhiệm uy nghi của nơi chí thánh, vinh hiển Ngài ngự trị. DA 211.5
Người Do Thái có Kinh Thánh trong tay, và tưởng rằng nhờ sự hiểu biết hời hợt bề ngoài về lời ấy mà họ có sự sống đời đời. Nhưng Đức Chúa Giê-su phán: “Đạo Ngài không ở trong các ngươi.” Vì đã chối bỏ Đấng Christ trong lời Ngài, họ cũng chối bỏ Ngài trong chính con người Ngài. Ngài phán: “Các ngươi không muốn đến cùng ta để được sự sống.” DA 212.1
Các nhà lãnh đạo Do Thái đã nghiên cứu những lời dạy của các tiên tri về vương quốc của Đấng Mê-si; nhưng họ làm điều này không phải với lòng chân thành mong biết lẽ thật, mà với mục đích tìm bằng chứng để củng cố những hy vọng đầy tham vọng của họ. Khi Đấng Christ đến theo cách trái với mong đợi của họ, họ không chịu tiếp nhận Ngài; và để biện hộ cho chính mình, họ cố chứng minh Ngài là kẻ lừa dối. Một khi họ đã đặt chân vào con đường này, Sa-tan dễ dàng làm gia tăng sự chống đối của họ đối với Đấng Christ. Chính những lời lẽ đáng lẽ phải được tiếp nhận như bằng chứng về thần tính của Ngài lại bị họ giải thích chống lại Ngài. Như vậy, họ biến lẽ thật của Đức Chúa Trời thành điều dối trá, và Đấng Cứu Thế càng nói trực tiếp với họ qua những việc làm nhân từ của Ngài, họ càng quyết tâm chống lại ánh sáng. DA 212.2
Đức Chúa Giê-su phán: “Ta chẳng cầu vinh hiển bởi người ta.” Đó không phải là ảnh hưởng của Tòa Công Luận, cũng không phải sự chuẩn thuận của họ mà Ngài mong muốn. Ngài chẳng nhận được vinh hiển nào từ sự tán thành của họ. Ngài đã được đầu tư bằng vinh hiển và thẩm quyền của Thiên đàng. Nếu Ngài muốn, các thiên sứ sẽ đến để tôn kính Ngài; Đức Chúa Cha sẽ lại làm chứng về thần tính của Ngài. Nhưng vì lợi ích của chính họ, vì lợi ích của dân tộc mà họ làm lãnh đạo, Ngài mong muốn các nhà cầm quyền Do Thái nhận biết bản tính của Ngài, và tiếp nhận những phước lành mà Ngài đến để ban cho họ. DA 212.3
“Ta nhân danh Cha ta mà đến, các ngươi không tiếp nhận ta; nếu có kẻ khác lấy danh riêng mình mà đến, thì các ngươi sẽ tiếp nhận kẻ đó.” Đức Chúa Giê-su đến bởi thẩm quyền của Đức Chúa Trời, mang hình ảnh của Ngài, làm trọn lời của Ngài, và tìm kiếm sự vinh hiển của Ngài; vậy mà Ngài không được các nhà lãnh đạo trong Y-sơ-ra-ên tiếp nhận; nhưng khi những kẻ khác đến, mạo nhận bản tính của Đấng Christ, song được thúc đẩy bởi ý riêng của họ và tìm kiếm vinh hiển riêng của họ, thì họ sẽ được tiếp nhận. Tại sao vậy? Bởi vì kẻ tìm kiếm vinh hiển riêng của mình kêu gọi đến lòng ham muốn tự đề cao nơi người khác. Người Do Thái có thể đáp lại những lời kêu gọi như thế. Họ sẽ tiếp nhận kẻ dạy dỗ giả dối vì hắn nịnh hót lòng kiêu ngạo của họ bằng cách chuẩn thuận những quan điểm và truyền thống mà họ trân quý. Nhưng lời dạy của Đấng Christ không trùng hợp với những ý tưởng của họ. Nó thuộc về thuộc linh, và đòi hỏi sự hy sinh cái tôi; vì vậy họ không chịu tiếp nhận. Họ chẳng quen biết Đức Chúa Trời, và đối với họ, tiếng phán của Ngài qua Đấng Christ là tiếng của một người xa lạ. DA 212.4
Chẳng phải điều ấy cũng lặp lại trong thời đại chúng ta sao? Chẳng phải có nhiều người, ngay cả các nhà lãnh đạo tôn giáo, đang cứng lòng chống lại Đức Thánh Linh, khiến cho họ không thể nhận biết tiếng của Đức Chúa Trời sao? Chẳng phải họ đang chối bỏ lời Đức Chúa Trời, để giữ lấy những truyền thống riêng của họ sao? DA 213.1
Đức Chúa Giê-su phán: “Nếu các ngươi tin Môi-se, thì cũng tin ta; vì người đã chép về ta. Nhưng nếu các ngươi chẳng tin những lời người viết, thì làm sao tin được lời ta?” Chính Đấng Christ là Đấng đã phán với Y-sơ-ra-ên qua Môi-se. Nếu họ đã lắng nghe tiếng phán của thần thượng đã phán qua nhà lãnh đạo vĩ đại của họ, họ sẽ nhận ra tiếng ấy trong những lời dạy của Đấng Christ. Nếu họ đã tin Môi-se, họ sẽ tin Đấng mà Môi-se đã viết về. DA 213.2
Đức Chúa Giê-su biết rằng các thầy tế lễ và các thầy thông giáo quyết tâm lấy mạng sống Ngài; thế nhưng Ngài giải thích rõ ràng cho họ sự hiệp nhất của Ngài với Đức Chúa Cha, và mối liên hệ của Ngài với thế gian. Họ thấy rằng sự chống đối Ngài là không có lý do bào chữa, vậy mà lòng căm thù muốn giết người của họ không nguôi đi. Sự sợ hãi xâm chiếm họ khi họ chứng kiến quyền năng thuyết phục đi kèm với chức vụ của Ngài; nhưng họ chống lại những lời kêu gọi của Ngài, và tự nhốt mình trong bóng tối. DA 213.3
Họ đã thất bại rõ rệt trong việc lật đổ thẩm quyền của Đức Chúa Giê-su hay làm cho dân chúng xa lánh sự kính trọng và chú ý đối với Ngài, bởi nhiều người trong số họ đã được lời Ngài thuyết phục. Chính các nhà cầm quyền cũng đã cảm thấy sự lên án sâu sắc khi Ngài ấn sâu tội lỗi của họ vào lương tâm họ; thế nhưng điều này chỉ khiến họ thêm cay đắng chống lại Ngài. Họ quyết tâm lấy mạng sống Ngài. Họ phái sứ giả đi khắp xứ để cảnh báo dân chúng chống lại Đức Chúa Giê-su như một kẻ mạo danh. Những kẻ do thám được sai đến để theo dõi Ngài, và báo cáo những gì Ngài nói và làm. Đấng Cứu Thế quý báu giờ đây đang đứng dưới bóng của thập tự giá một cách chắc chắn nhất. DA 213.4