Bên Giếng Gia-cốp
Chương này dựa trên Giăng 4:1-42. DA 183.1
Trên đường đến xứ Ga-li-lê, Đức Chúa Giê-su đi ngang qua xứ Sa-ma-ri. Lúc Ngài đến thung lũng Si-chem xinh đẹp thì đã giữa trưa. Tại lối vào thung lũng này có giếng Gia-cốp. Mệt mỏi vì cuộc hành trình, Ngài ngồi xuống đây nghỉ chân trong khi các môn đồ đi mua thức ăn. DA 183.2
Người Do Thái và người Sa-ma-ri là kẻ thù cay đắng của nhau, và hết mức có thể, họ tránh mọi sự giao thiệp với nhau. Việc buôn bán với người Sa-ma-ri trong trường hợp cần thiết thì quả thật được các thầy thông giáo xem là hợp pháp; nhưng mọi sự giao tiếp xã hội với họ đều bị lên án. Một người Do Thái sẽ không vay mượn từ người Sa-ma-ri, cũng không nhận một sự tử tế nào, dẫu chỉ là một mẩu bánh hay một chén nước. Khi mua thức ăn, các môn đồ đang hành động phù hợp với phong tục của dân tộc mình. Nhưng họ chỉ dừng ở đó mà thôi. Việc xin một ân huệ nơi người Sa-ma-ri, hay tìm cách làm lợi cho họ bằng bất cứ cách nào, thậm chí cũng không hề lóe lên trong tâm trí của các môn đồ Đấng Christ. DA 183.3
Khi Đức Chúa Giê-su ngồi bên giếng, Ngài kiệt sức vì đói và khát. Cuộc hành trình từ buổi sáng đã dài, và bây giờ mặt trời giữa trưa chiếu gắt trên Ngài. Cơn khát của Ngài càng tăng thêm khi nghĩ đến dòng nước mát mẻ, tươi tỉnh ở rất gần, nhưng lại không thể với tới; vì Ngài không có dây cũng không có gàu, mà giếng thì sâu. Số phận của loài người là số phận của Ngài, và Ngài chờ đợi ai đó đến múc nước. DA 183.4
Một người đàn bà Sa-ma-ri lại gần, và dường như không để ý đến sự hiện diện của Ngài, bà múc đầy bình nước của mình. Khi bà quay đi, Đức Chúa Giê-su xin bà cho uống nước. Một ân huệ như thế thì không một người phương Đông nào lại từ chối. Ở phương Đông, nước được gọi là “ân tứ của Đức Chúa Trời.” Việc dâng nước cho lữ khách đang khát được xem là một bổn phận thiêng liêng đến nỗi người Ả-rập trong sa mạc sẽ đi chệch đường mình để thực hiện điều đó. Sự thù hằn giữa người Do Thái và người Sa-ma-ri đã ngăn người đàn bà bày tỏ sự tử tế với Đức Chúa Giê-su; nhưng Đấng Cứu Thế đang tìm chìa khóa để mở tấm lòng này, và với sự khéo léo phát sinh từ tình yêu thương thiêng liêng, Ngài đã xin chứ không trao một ân huệ. Lời đề nghị một sự tử tế có thể bị từ chối; nhưng sự tin cậy khơi dậy sự tin cậy. Vua thiên đàng đã đến với linh hồn bị ruồng bỏ này, xin một sự phục vụ nơi tay bà. Đấng đã tạo nên đại dương, Đấng cai quản các dòng nước nơi vực sâu, Đấng đã mở các suối nguồn và dòng chảy của trái đất, đã nghỉ ngơi trong cơn mệt mỏi của mình bên giếng Gia-cốp, và phải nhờ cậy vào sự tử tế của một người xa lạ ngay cả để có được một ngụm nước uống. DA 183.5
Người đàn bà thấy Đức Chúa Giê-su là một người Do Thái. Trong sự ngạc nhiên, bà quên chấp thuận lời xin của Ngài, nhưng cố tìm hiểu lý do của lời xin ấy. Bà nói: “Ủa kìa! ông là người Giu-đa, mà lại xin uống nước cùng tôi, là một người đàn bà Sa-ma-ri sao?” DA 184.1
Đức Chúa Giê-su đáp: “Ví bằng ngươi biết sự ban cho của Đức Chúa Trời, và biết người nói: ‘Hãy cho ta uống’ là ai, thì chắc ngươi sẽ xin người cho uống, và người sẽ cho ngươi nước sống.” Ngươi lấy làm lạ rằng Ta lại xin nơi ngươi dù chỉ một ân huệ nhỏ là một ngụm nước từ giếng dưới chân chúng ta. Nếu ngươi đã xin Ta, thì Ta đã cho ngươi uống nước của sự sống đời đời. DA 184.2
Người đàn bà đã không hiểu được lời của Đấng Christ, nhưng bà cảm nhận được ý nghĩa trang trọng của những lời ấy. Thái độ nhẹ dạ, bông đùa của bà bắt đầu thay đổi. Tưởng rằng Đức Chúa Giê-su nói về cái giếng trước mặt họ, bà nói: “Hỡi Chúa, Chúa không có gì mà múc, và giếng thì sâu, vậy bởi đâu có nước sống ấy? Tổ phụ chúng tôi là Gia-cốp để giếng nầy lại cho chúng tôi, chính người uống giếng nầy, cả đến con cháu cùng các bầy vật người nữa, vậy Chúa há lớn hơn Gia-cốp sao?” Bà chỉ thấy trước mặt mình một lữ khách đang khát, mệt mỏi vì đường xa và đầy bụi bặm. Trong trí, bà so sánh Ngài với tổ phụ Gia-cốp đáng kính. Bà ấp ủ cảm nghĩ rất tự nhiên rằng không có giếng nào khác lại có thể sánh bằng giếng mà các tổ phụ đã cung cấp. Bà đang nhìn lại các tổ phụ trong quá khứ, và nhìn tới sự đến của Đấng Mê-si trong tương lai, trong khi Niềm Hy Vọng của các tổ phụ, chính là Đấng Mê-si, đang ở bên cạnh bà, mà bà chẳng nhận biết Ngài. Ngày nay có biết bao linh hồn đang khát ở rất gần suối nguồn sự sống, nhưng lại nhìn ra xa để tìm nguồn nước sự sống!
“Nhưng sự công bình đến bởi đức tin, thì nói như vầy: Chớ nói trong lòng ngươi rằng: Ai sẽ lên trên trời? Ấy là để đem Đấng Cơ-đốc xuống; hay là: Ai sẽ xuống vực sâu? Ấy là để đem Đấng Cơ-đốc từ trong kẻ chết lại lên. Nhưng nói làm sao? Đạo ở gần ngươi, ở trong miệng và trong lòng ngươi. Ấy là đạo đức tin mà chúng ta giảng dạy. Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Giê-su ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu;” (Rô-ma 10:6-9)
DA 184.3
Đức Chúa Giê-su không trả lời ngay câu hỏi liên quan đến chính mình, nhưng với sự nghiêm trang sốt sắng, Ngài phán: “Phàm ai uống nước nầy vẫn còn khát mãi; nhưng uống nước ta sẽ cho, thì chẳng hề khát nữa. Nước ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó, văng ra cho đến sự sống đời đời.” DA 187.1
Ai tìm cách làm dịu cơn khát của mình nơi các suối nguồn của thế gian này thì sẽ chỉ uống để rồi lại khát mà thôi. Ở khắp mọi nơi loài người đều không được thỏa lòng. Họ khao khát một điều gì đó để đáp ứng nhu cầu của linh hồn. Chỉ có Một Đấng có thể đáp ứng nhu cầu ấy. Nhu cầu của thế gian, “Đấng Ước Ao của muôn dân,” chính là Đấng Christ. Ân điển thiêng liêng mà chỉ mình Ngài có thể ban tặng, giống như nước sống, làm tinh sạch, tươi tỉnh và phục hồi sinh lực cho linh hồn. DA 187.2
Đức Chúa Giê-su không truyền đạt ý tưởng rằng chỉ cần một ngụm nước sự sống là đủ cho người nhận. Ai nếm được tình yêu thương của Đấng Christ thì sẽ liên tục khao khát nhiều hơn; nhưng người ấy chẳng tìm kiếm điều gì khác. Sự giàu sang, danh vọng và thú vui của thế gian không lôi cuốn người ấy. Tiếng kêu không ngừng trong lòng người ấy là: Xin cho con thêm về Ngài. Và Đấng bày tỏ cho linh hồn nhu cầu của nó đang chờ đợi để làm thỏa cơn đói và cơn khát của nó. Mọi nguồn lực và sự nương cậy của loài người đều sẽ thất bại. Các hồ chứa sẽ trống không, các ao sẽ khô cạn; nhưng Đấng Cứu Chuộc của chúng ta là một suối nguồn vô tận. Chúng ta có thể uống, uống mãi, và luôn tìm thấy một nguồn cung cấp tươi mới. Người nào có Đấng Christ ngự bên trong thì có sẵn trong mình suối nguồn của phước lành,—“một mạch nước văng ra cho đến sự sống đời đời.” Từ nguồn này người ấy có thể múc lấy sức lực và ân điển đủ cho mọi nhu cầu của mình. DA 187.3
Khi Đức Chúa Giê-su nói về nước sống, người đàn bà nhìn Ngài với sự chú ý ngạc nhiên. Ngài đã khơi dậy sự quan tâm của bà, và đánh thức nơi bà niềm khao khát về ân tứ mà Ngài đã nói đến. Bà nhận ra rằng đó không phải là nước của giếng Gia-cốp mà Ngài ám chỉ; vì bà thường xuyên dùng nước giếng này, uống rồi lại khát. Bà nói: “Lạy Chúa, xin cho tôi nước ấy, để cho tôi không khát và không đến đây múc nước nữa.” DA 187.4
Bấy giờ Đức Chúa Giê-su đột nhiên chuyển hướng câu chuyện. Trước khi linh hồn này có thể nhận lấy ân tứ mà Ngài khao khát ban cho, bà phải được dẫn đến chỗ nhận biết tội lỗi của mình và Đấng Cứu Thế của mình. Ngài “phán rằng: Hãy đi, gọi chồng ngươi, rồi trở lại đây.” Bà đáp: “Tôi không có chồng.” Như thế bà hy vọng ngăn chặn mọi câu hỏi theo hướng đó. Nhưng Đấng Cứu Thế tiếp tục: “Ngươi nói rằng: Tôi không có chồng, là phải lắm; vì ngươi đã có năm đời chồng, còn người mà ngươi hiện có, chẳng phải là chồng ngươi; điều đó ngươi đã nói thật vậy.” DA 187.5
Người nghe run rẩy. Một bàn tay huyền bí đang lật từng trang lịch sử cuộc đời bà, đưa ra ánh sáng điều mà bà đã hy vọng giữ kín mãi mãi. Đấng có thể đọc được những bí mật của đời bà là ai vậy? Bà chợt nghĩ đến cõi đời đời, đến Sự Phán Xét trong tương lai, khi mọi điều bây giờ đang giấu kín sẽ được phơi bày. Dưới ánh sáng ấy, lương tâm bà được đánh thức. DA 187.6
Bà không thể chối cãi điều gì; nhưng bà cố tránh né mọi sự đề cập đến một chủ đề khó chịu như thế. Với lòng tôn kính sâu xa, bà nói: “Lạy Chúa, tôi nhìn thấy Chúa là một đấng tiên tri.” Rồi, hy vọng làm im lặng sự cáo trách, bà chuyển sang những điểm tranh luận về tôn giáo. Nếu đây là một đấng tiên tri, thì chắc chắn Ngài có thể chỉ dạy bà về những vấn đề đã từ lâu gây tranh cãi này. DA 188.1
Cách kiên nhẫn, Đức Chúa Giê-su để cho người đàn bà dẫn dắt câu chuyện đến nơi nào bà muốn. Trong khi đó, Ngài chờ đợi cơ hội để một lần nữa đem lẽ thật vào tận lòng bà. Bà nói: “Tổ phụ chúng tôi đã thờ lạy trên hòn núi nầy, còn dân Giu-đa lại nói rằng nơi đáng thờ lạy là tại thành Giê-ru-sa-lem.” Ngay trước mắt là núi Ga-ri-xim. Đền thờ trên núi đã bị phá hủy, chỉ còn lại bàn thờ. Nơi thờ phượng vốn là một đề tài tranh chấp giữa người Do Thái và người Sa-ma-ri. Một số tổ tiên của dân Sa-ma-ri xưa kia từng thuộc về dân Y-sơ-ra-ên; nhưng vì tội lỗi của họ, Chúa đã để cho họ bị một dân tộc thờ hình tượng chinh phục. Qua nhiều thế hệ, họ pha trộn với những kẻ thờ hình tượng, mà tôn giáo của những kẻ đó dần dần làm ô uế tôn giáo của họ. Quả thật, họ cho rằng các hình tượng của họ chỉ để nhắc nhở họ về Đức Chúa Trời hằng sống, Đấng Cai Trị vũ trụ; tuy vậy, dân chúng đã bị dẫn đến chỗ tôn kính các tượng chạm của họ. DA 188.2
Khi đền thờ tại Giê-ru-sa-lem được tái thiết vào thời E-xơ-ra, người Sa-ma-ri muốn cùng người Do Thái dự phần vào việc xây dựng. Đặc ân ấy bị từ chối, và một sự thù hằn cay đắng nảy sinh giữa hai dân tộc. Người Sa-ma-ri xây một đền thờ đối nghịch trên núi Ga-ri-xim. Tại đó họ thờ phượng theo nghi thức của Môi-se, dầu họ không hoàn toàn từ bỏ việc thờ hình tượng. Nhưng tai họa giáng trên họ, đền thờ của họ bị kẻ thù phá hủy, và dường như họ đang ở dưới một sự rủa sả; tuy vậy họ vẫn bám lấy truyền thống và các hình thức thờ phượng của mình. Họ không chịu nhìn nhận đền thờ tại Giê-ru-sa-lem là nhà của Đức Chúa Trời, cũng không chịu thừa nhận rằng tôn giáo của người Do Thái cao trọng hơn tôn giáo của họ. DA 188.3
Để trả lời người đàn bà, Đức Chúa Giê-su phán: “Hỡi người đàn bà, hãy tin ta, giờ đến, khi các ngươi thờ lạy Cha, chẳng tại trên hòn núi nầy, cũng chẳng tại thành Giê-ru-sa-lem. Các ngươi thờ lạy sự các ngươi không biết, chúng ta thờ lạy sự chúng ta biết, vì sự cứu rỗi bởi người Giu-đa mà đến.” Đức Chúa Giê-su đã tỏ ra rằng Ngài không có thành kiến của người Do Thái đối với người Sa-ma-ri. Bây giờ Ngài tìm cách phá vỡ thành kiến của người đàn bà Sa-ma-ri nầy đối với người Do Thái. Trong khi nhắc đến sự kiện rằng đức tin của người Sa-ma-ri đã bị ô uế bởi việc thờ hình tượng, Ngài tuyên bố rằng những lẽ thật cao trọng về sự cứu chuộc đã được giao cho người Do Thái, và rằng Đấng Mê-si sẽ xuất hiện từ giữa họ. Trong Kinh Thánh, họ có một sự trình bày rõ ràng về tánh hạnh của Đức Chúa Trời và các nguyên tắc cai trị của Ngài. Đức Chúa Giê-su xếp chính Ngài chung với người Do Thái, là những kẻ mà Đức Chúa Trời đã ban cho sự hiểu biết về Ngài. DA 188.4
Ngài muốn nâng tư tưởng của người nghe lên trên những vấn đề hình thức và lễ nghi, cùng những câu hỏi tranh luận. Ngài phán: “Giờ đến, và đã đến rồi, khi những kẻ thờ phượng thật lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng Cha: ấy đó là những kẻ thờ phượng mà Cha ưa thích vậy. Đức Chúa Trời là thần, nên ai thờ lạy Ngài thì phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy.” DA 189.1
Ở đây tuyên bố cùng một lẽ thật mà Đức Chúa Giê-su đã bày tỏ cho Ni-cô-đem khi Ngài phán: “Nếu một người chẳng sanh lại từ trên cao, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời.” Giăng 3:3, chú thích bên lề. Không phải bởi tìm kiếm một hòn núi thánh hay một đền thờ thiêng liêng mà loài người được đem vào sự thông công với thiên đàng. Tôn giáo không nên bị giới hạn trong những hình thức và lễ nghi bề ngoài. Tôn giáo đến từ Đức Chúa Trời là tôn giáo duy nhất dẫn đến Đức Chúa Trời. Để hầu việc Ngài cách đúng đắn, chúng ta phải được sanh bởi Thần linh thiêng liêng. Điều nầy sẽ làm tinh sạch tấm lòng và đổi mới tâm trí, ban cho chúng ta một khả năng mới để biết và yêu mến Đức Chúa Trời. Điều nầy sẽ ban cho chúng ta sự vâng phục bằng lòng đối với mọi đòi hỏi của Ngài. Đây là sự thờ phượng thật. Đó là trái của sự hành động của Đức Thánh Linh. Bởi Đức Thánh Linh mà mỗi lời cầu nguyện chân thành được khởi xướng, và lời cầu nguyện như vậy được Đức Chúa Trời chấp nhận. Bất cứ nơi nào một linh hồn vươn tới Đức Chúa Trời, thì nơi ấy sự hành động của Đức Thánh Linh được tỏ ra, và Đức Chúa Trời sẽ bày tỏ chính Ngài cho linh hồn ấy. Ngài đang tìm kiếm những kẻ thờ phượng như vậy. Ngài chờ đợi để tiếp nhận họ, và làm cho họ trở nên con trai con gái của Ngài. DA 189.2
Khi người đàn bà trò chuyện với Đức Chúa Giê-su, bà cảm động bởi lời Ngài. Bà chưa bao giờ nghe những điều như vậy từ các thầy tế lễ của dân tộc bà hay từ người Do Thái. Khi quá khứ của đời sống bà được phơi bày trước mắt bà, bà đã được làm cho ý thức về nhu cầu lớn lao của mình. Bà nhận ra sự khát khao của linh hồn mình, là điều mà nước của giếng Si-kha không bao giờ làm thỏa mãn được. Không có điều gì trước đây từng tiếp xúc với bà mà đánh thức bà đến một nhu cầu cao trọng hơn như vậy. Đức Chúa Giê-su đã thuyết phục bà rằng Ngài đọc thấu những điều bí mật của đời bà; tuy nhiên bà cảm thấy rằng Ngài là bạn của bà, đang thương xót và yêu mến bà. Trong khi chính sự tinh sạch nơi sự hiện diện của Ngài lên án tội lỗi của bà, Ngài đã chẳng phán một lời lên án nào, nhưng đã nói cho bà về ân điển của Ngài, là điều có thể đổi mới linh hồn. Bà bắt đầu có chút xác tín về tánh hạnh của Ngài. Câu hỏi nảy sinh trong trí bà: Người nầy chẳng phải là Đấng Mê-si bấy lâu mong đợi sao? Bà thưa cùng Ngài: “Tôi biết rằng Đấng Mê-si phải đến, là Đấng gọi là Christ; khi Ngài đã đến, sẽ rao truyền mọi việc cho chúng ta.” Đức Chúa Giê-su đáp: “Ta, người đang nói với ngươi đây, chính là Đấng đó.” DA 189.3
Khi người đàn bà nghe những lời ấy, đức tin nảy sinh trong lòng bà. Bà tiếp nhận lời tuyên bố kỳ diệu từ môi miệng của Giáo Sư thiêng liêng. DA 190.1
Người đàn bà nầy đang ở trong trạng thái tâm trí biết trân trọng. Bà sẵn sàng tiếp nhận sự mặc khải cao quý nhất; vì bà quan tâm đến Kinh Thánh, và Đức Thánh Linh đã chuẩn bị tâm trí bà để tiếp nhận thêm ánh sáng. Bà đã nghiên cứu lời hứa trong Cựu Ước: “Từ giữa anh em ngươi, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi sẽ lập lên một đấng tiên tri như ta; các ngươi khá nghe theo đấng ấy!” Phục-truyền Luật-lệ Ký 18:15. Bà ao ước hiểu được lời tiên tri nầy. Ánh sáng đã lóe vào trí bà rồi. Nước sự sống, là sự sống thiêng liêng mà Đấng Christ ban cho mọi linh hồn khao khát, đã bắt đầu trào dâng trong lòng bà. Thần của Chúa đang hành động cùng bà. DA 190.2
Lời tuyên bố rõ ràng mà Đấng Christ phán cùng người đàn bà nầy không thể được phán cho người Do Thái tự cho mình là công bình. Đấng Christ kín đáo hơn nhiều khi Ngài nói với họ. Điều đã bị giữ kín khỏi người Do Thái, và điều mà về sau các môn đồ được dặn phải giữ bí mật, lại được bày tỏ cho bà. Đức Chúa Giê-su thấy rằng bà sẽ dùng sự hiểu biết của mình để dẫn dắt người khác cùng dự phần ân điển của Ngài. DA 190.3
Khi các môn đồ trở về từ việc đi mua thức ăn, họ ngạc nhiên thấy Thầy mình đang nói chuyện với người đàn bà. Ngài chưa uống ngụm nước mát mà Ngài mong muốn, và Ngài cũng không dừng lại để ăn thức ăn mà các môn đồ đã đem về. Khi người đàn bà đã đi rồi, các môn đồ nài xin Ngài ăn. Họ thấy Ngài lặng yên, đắm chìm như trong sự trầm tư mặc tưởng. Mặt Ngài rạng ngời ánh sáng, và họ sợ cắt ngang sự thông công của Ngài với thiên đàng. Nhưng họ biết rằng Ngài đã mệt nhọc và rã rời, và họ nghĩ rằng nhắc Ngài về những nhu cầu thân thể là bổn phận của họ. Đức Chúa Giê-su nhận biết sự quan tâm yêu thương của họ, và Ngài phán: “Ta có một thứ lương thực để nuôi mình mà các ngươi không biết.” DA 190.4
Các môn đồ thắc mắc không biết ai đã đem thức ăn cho Ngài; nhưng Ngài giải thích: “Đồ ăn của ta tức là làm theo ý muốn của Đấng sai ta đến, và làm trọn công việc Ngài.” Giăng 4:34, bản hiệu đính. Vì lời Ngài phán cùng người đàn bà đã thức tỉnh lương tâm bà, nên Đức Chúa Giê-su vui mừng. Ngài thấy bà uống nước sự sống, và sự đói khát của chính Ngài được thỏa mãn. Sự hoàn thành sứ mạng mà Ngài đã rời thiên đàng để thực hiện đã thêm sức cho Đấng Cứu Thế trong công việc của Ngài, và nâng Ngài lên trên những nhu cầu của loài người. Việc phục vụ một linh hồn đói khát lẽ thật còn ngọt ngào với Ngài hơn cả ăn uống. Đó là một niềm an ủi, một sự tươi mới cho Ngài. Lòng nhân từ là sự sống của linh hồn Ngài. DA 190.5
Đấng Cứu Chuộc của chúng ta khao khát được nhìn nhận. Ngài đói khát lòng cảm thông và tình yêu thương của những người mà Ngài đã mua bằng chính huyết Ngài. Ngài mong mỏi với một ước ao không thể diễn tả rằng họ đến cùng Ngài và được sự sống. Như người mẹ trông chờ nụ cười nhận biết từ đứa con nhỏ của mình, là điều cho thấy sự bừng nở của trí thông minh, thì Đấng Christ cũng vậy, trông chờ sự bày tỏ của tình yêu thương biết ơn, là điều cho thấy sự sống thiêng liêng đã bắt đầu trong linh hồn. DA 191.1
Người đàn bà đã tràn ngập niềm vui khi nghe những lời của Đấng Christ. Sự mặc khải kỳ diệu ấy gần như áp đảo bà. Bỏ lại bình nước, bà trở về thành để mang sứ điệp đến cho những người khác. Đức Chúa Giê-su biết tại sao bà đã ra đi. Việc bỏ lại bình nước nói lên một cách rõ ràng về tác động của những lời Ngài. Đó là khao khát tha thiết của linh hồn bà để nhận được nước sự sống; và bà quên đi việc đến giếng nước, bà quên đi cơn khát của Đấng Cứu Thế mà bà đã định làm thỏa mãn. Với tấm lòng tràn đầy hân hoan, bà vội vã lên đường để chia sẻ cho người khác ánh sáng quý báu mà bà đã nhận được. DA 191.2
“Hãy đến xem một người đã nói với tôi mọi điều tôi đã làm,” bà nói với những người trong thành. “Há chẳng phải là Đấng Christ sao?” Lời của bà đã chạm đến lòng họ. Trên gương mặt bà có một vẻ mới, một sự thay đổi trong toàn bộ diện mạo. Họ chú tâm muốn đến gặp Đức Chúa Giê-su. “Vậy họ ra khỏi thành và đến cùng Ngài.” DA 191.3
Khi Đức Chúa Giê-su vẫn còn ngồi bên giếng nước, Ngài đưa mắt nhìn những cánh đồng lúa trải dài trước mắt Ngài, màu xanh non của chúng được ánh nắng vàng chạm đến. Chỉ cho các môn đồ thấy quang cảnh ấy, Ngài dùng nó làm biểu tượng:
“Các ngươi há chẳng nói rằng còn bốn tháng nữa thì tới mùa gặt sao? Song ta nói với các ngươi: Hãy nhướng mắt lên và xem đồng ruộng, đã vàng sẵn cho mùa gặt.” (Giăng 4:35)
Và khi Ngài phán, Ngài nhìn những nhóm người đang đến giếng nước. Còn bốn tháng nữa mới đến mùa gặt lúa, nhưng nơi đây đã có một mùa gặt sẵn sàng cho thợ gặt. DA 191.4
“Con gặt đã lãnh tiền công mình và thâu chứa hoa lợi cho sự sống đời đời, hầu cho người gieo giống và con gặt được cùng nhau vui vẻ. Vì đây người ta có thể nói rằng: Người này thì gieo, người kia thì gặt, là rất phải.” (Giăng 4:36-37)
Ở đây, Đấng Christ chỉ ra sự phục vụ thiêng liêng mà những ai tiếp nhận tin lành mắc nợ Đức Chúa Trời. Họ phải là những công cụ sống của Ngài. Ngài đòi hỏi sự phục vụ cá nhân của họ. Và dù chúng ta gieo hay gặt, chúng ta đều đang làm việc cho Đức Chúa Trời. Người này gieo hạt giống; người kia thu hoạch mùa gặt; và cả người gieo lẫn người gặt đều nhận tiền công. Họ cùng nhau vui mừng trong phần thưởng của công lao mình. DA 191.5
Đức Chúa Giê-su phán với các môn đồ,
“Ta đã sai các ngươi gặt nơi mình không làm; kẻ khác đã làm, còn các ngươi thì đã vào tiếp lấy công lao của họ.” (Giăng 4:38)
Tại đây Đấng Cứu Thế đang trông về cuộc thu hoạch lớn trong ngày lễ Ngũ Tuần. Các môn đồ không được xem đó là kết quả của những nỗ lực của riêng họ. Họ đang bước vào công lao của những người khác. Kể từ khi A-đam sa ngã, Đấng Christ đã giao phó hạt giống của lời Ngài cho những tôi tớ được chọn của Ngài, để gieo vào lòng người. Và một công cụ vô hình, ngay cả một quyền năng toàn năng, đã hoạt động cách lặng lẽ nhưng hiệu quả để tạo ra mùa gặt. Sương, mưa và ánh nắng của ân điển Đức Chúa Trời đã được ban cho, để làm tươi mới và nuôi dưỡng hạt giống của lẽ thật. Đấng Christ sắp tưới hạt giống bằng chính huyết của Ngài. Các môn đồ Ngài được đặc ân làm những người cùng làm việc với Đức Chúa Trời. Họ là những người cùng làm việc với Đấng Christ và với những thánh nhân thuở xưa. Bởi sự tuôn đổ của Đức Thánh Linh trong lễ Ngũ Tuần, hàng ngàn người được cải đạo trong một ngày. Đây là kết quả của sự gieo giống của Đấng Christ, là mùa gặt của công việc Ngài. DA 192.1
Trong những lời phán với người đàn bà bên giếng nước, hạt giống tốt đã được gieo, và mùa gặt được nhận lãnh nhanh chóng biết bao. Người Sa-ma-ri đã đến và nghe Đức Chúa Giê-su, rồi tin Ngài. Quây quần quanh Ngài bên giếng nước, họ chất vấn Ngài với nhiều câu hỏi, và háo hức tiếp nhận những lời giải thích của Ngài về nhiều điều mà trước đây họ chưa hiểu rõ. Khi họ lắng nghe, sự bối rối của họ bắt đầu tan biến. Họ giống như một dân tộc trong tăm tối dày đặc lần theo một tia sáng bất chợt cho đến khi tìm thấy ánh ngày. Nhưng họ không thỏa mãn với cuộc trò chuyện ngắn ngủi này. Họ khao khát được nghe thêm, và muốn bạn bè mình cũng được lắng nghe vị thầy kỳ diệu này. Họ mời Ngài đến thành của họ, và nài nỉ Ngài ở lại với họ. Trong hai ngày Ngài lưu lại Sa-ma-ri, và nhiều người nữa tin Ngài. DA 192.2
Người Pha-ri-si khinh thường sự giản dị của Đức Chúa Giê-su. Họ bỏ qua các phép lạ của Ngài, và đòi hỏi một dấu lạ rằng Ngài là Con Đức Chúa Trời. Nhưng người Sa-ma-ri không đòi hỏi dấu lạ nào, và Đức Chúa Giê-su không làm phép lạ nào giữa họ, ngoại trừ việc tỏ bày những bí mật trong đời sống người đàn bà bên giếng nước. Tuy vậy nhiều người đã tiếp nhận Ngài. Trong niềm vui mới mẻ, họ nói với người đàn bà, “Nay chúng tôi tin, chẳng phải vì lời bà nói, nhưng vì chính chúng tôi đã nghe Ngài, và biết rằng thật Ngài là Đấng Christ, Đấng Cứu Thế của thế gian.” DA 192.3
Người Sa-ma-ri tin rằng Đấng Mê-si sẽ đến với tư cách là Đấng Cứu Chuộc, không chỉ của người Do Thái, mà của cả thế gian. Đức Thánh Linh qua Môi-se đã báo trước về Ngài như một tiên tri được Đức Chúa Trời sai đến. Qua Gia-cốp đã được công bố rằng muôn dân sẽ quy tụ về Ngài; và qua Áp-ra-ham, rằng trong Ngài mọi dân tộc trên đất sẽ được ban phước. Trên những đoạn Kinh Thánh này, dân Sa-ma-ri đặt nền tảng đức tin của họ nơi Đấng Mê-si. Sự kiện người Do Thái đã giải nghĩa sai các tiên tri về sau, gán cho lần đến thứ nhất sự vinh hiển của sự tái lâm của Đấng Christ, đã khiến người Sa-ma-ri loại bỏ tất cả những bản văn thánh ngoại trừ những bản được ban qua Môi-se. Nhưng khi Đấng Cứu Thế quét sạch những sự giải nghĩa sai lầm này, nhiều người đã chấp nhận những lời tiên tri về sau và chính những lời của Đấng Christ liên quan đến nước Đức Chúa Trời. DA 193.1
Đức Chúa Giê-su đã bắt đầu phá đổ bức tường ngăn cách giữa người Do Thái và dân ngoại, và rao giảng sự cứu rỗi cho thế gian. Dù Ngài là người Do Thái, Ngài giao tiếp tự do với người Sa-ma-ri, gạt bỏ những tập tục Pha-ri-si của dân tộc Ngài. Trước những thành kiến của họ, Ngài nhận lãnh lòng hiếu khách của dân tộc bị khinh miệt này. Ngài ngủ dưới mái nhà họ, ăn cùng họ tại bàn họ—dùng thức ăn do chính tay họ chuẩn bị và dọn ra—dạy dỗ trên đường phố họ, và đối xử với họ bằng sự nhân từ và lịch thiệp tột bậc. DA 193.2
Trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, một bức tường thấp ngăn cách sân ngoài với tất cả các phần khác của công trình thánh. Trên bức tường này có những dòng chữ khắc bằng nhiều ngôn ngữ, tuyên bố rằng chỉ người Do Thái mới được phép vượt qua ranh giới này. Nếu một dân ngoại dám bước vào khuôn viên bên trong, người ấy sẽ làm ô uế đền thờ, và sẽ phải trả giá bằng mạng sống mình. Nhưng Đức Chúa Giê-su, Đấng khởi nguyên của đền thờ và sự phục vụ của nó, đã kéo dân ngoại đến với Ngài bằng mối dây cảm thông của loài người, trong khi ân điển thiêng liêng của Ngài mang đến cho họ sự cứu rỗi mà người Do Thái đã khước từ. DA 193.3
Việc Đức Chúa Giê-su lưu lại Sa-ma-ri được dự định trở thành một phước lành cho các môn đồ Ngài, những người vẫn còn dưới ảnh hưởng của sự cố chấp Do Thái. Họ cảm thấy rằng lòng trung thành với dân tộc mình đòi hỏi họ phải nuôi dưỡng lòng thù địch đối với người Sa-ma-ri. Họ ngạc nhiên về cách cư xử của Đức Chúa Giê-su. Họ không thể từ chối noi theo gương Ngài, và trong hai ngày tại Sa-ma-ri, lòng trung thành với Ngài đã giữ những thành kiến của họ trong vòng kiểm soát; tuy vậy trong lòng họ vẫn chưa hòa giải. Họ chậm hiểu rằng sự khinh miệt và thù ghét của họ phải nhường chỗ cho lòng thương xót và cảm thông. Nhưng sau khi Chúa thăng thiên, những bài học của Ngài trở lại với họ với một ý nghĩa mới. Sau khi Đức Thánh Linh được tuôn đổ, họ nhớ lại ánh mắt của Đấng Cứu Thế, những lời Ngài, sự tôn trọng và dịu dàng trong cách cư xử của Ngài đối với những người xa lạ bị khinh miệt này. Khi Phi-e-rơ đi rao giảng tại Sa-ma-ri, ông mang chính tinh thần ấy vào công việc của mình. Khi Giăng được kêu gọi đến Ê-phê-sô và Si-miệc-nơ, ông nhớ lại kinh nghiệm tại Si-chem, và lòng tràn đầy biết ơn đối với vị Thầy thiêng liêng, Đấng đã thấy trước những khó khăn mà họ phải đối diện, và đã ban cho họ sự trợ giúp bằng chính gương của Ngài. DA 193.4
Đấng Cứu Thế vẫn đang tiếp tục cùng một công việc như khi Ngài ban nước sự sống cho người đàn bà Sa-ma-ri. Những ai tự xưng là môn đồ của Ngài có thể khinh miệt và xa lánh những kẻ bị ruồng bỏ; nhưng không một hoàn cảnh sinh ra hay quốc tịch nào, không một điều kiện sống nào, có thể làm tình yêu của Ngài lìa khỏi con cái loài người. Với mỗi linh hồn, dù tội lỗi đến đâu, Đức Chúa Giê-su phán: Nếu ngươi cầu xin Ta, Ta sẽ ban cho ngươi nước sự sống. DA 194.1
Lời mời gọi của tin lành không được thu hẹp lại, và chỉ trình bày cho một số ít được chọn, những người mà chúng ta cho rằng sẽ làm vinh dự cho chúng ta nếu họ chấp nhận. Sứ điệp phải được ban cho tất cả mọi người. Bất cứ nơi nào lòng người mở ra để tiếp nhận lẽ thật, Đấng Christ sẵn sàng dạy dỗ họ. Ngài tỏ bày cho họ Đức Chúa Cha, và sự thờ phượng đẹp lòng Đấng đọc thấu tấm lòng. Đối với những người như vậy, Ngài không dùng ẩn dụ nào. Với họ, cũng như với người đàn bà bên giếng nước, Ngài phán, “Ta, người đang nói với ngươi đây, chính là Đấng đó.” DA 194.2
Khi Đức Chúa Giê-su ngồi nghỉ bên giếng Gia-cốp, Ngài vừa đến từ xứ Giu-đê, là nơi mà chức vụ của Ngài đã sanh ra ít hoa quả. Ngài đã bị các thầy tế lễ và các thầy thông giáo chối bỏ, và ngay cả những người tự xưng là môn đồ của Ngài cũng không nhận biết được thần tánh của Ngài. Ngài mỏi mệt và rã rời; nhưng Ngài đã không bỏ lỡ cơ hội nói chuyện với một người đàn bà, dầu rằng bà là một người xa lạ, một kẻ ngoại bang đối với Y-sơ-ra-ên, và đang sống trong tội lỗi công khai. DA 194.3
Đấng Cứu Thế đã không chờ đợi cho đến khi có đám đông tụ họp. Nhiều khi Ngài bắt đầu những bài học của mình chỉ với một vài người vây quanh Ngài, nhưng rồi từng người qua đường dừng lại lắng nghe, cho đến khi cả một đoàn dân đông nghe với lòng kinh ngạc và tôn kính những lời của Đức Chúa Trời qua vị Thầy được sai đến từ trời. Người làm việc cho Đấng Christ không nên cảm thấy rằng mình không thể nói với cùng một lòng nhiệt thành cho một vài người nghe như cho một đám đông lớn hơn. Có thể chỉ có một người nghe sứ điệp; nhưng ai có thể nói được ảnh hưởng của nó sẽ lan rộng đến đâu? Ngay cả đối với các môn đồ của Ngài, việc Đấng Cứu Thế dành thì giờ cho một người đàn bà Sa-ma-ri dường như là một việc nhỏ nhặt. Nhưng Ngài đã lý luận với bà cách nhiệt thành và hùng hồn hơn là với các vua chúa, các quan nghị viên, hay các thầy tế lễ thượng phẩm. Những bài học Ngài đã ban cho người đàn bà ấy đã được lặp lại đến tận cùng bờ cõi trái đất. DA 194.4
Vừa khi tìm gặp được Đấng Cứu Thế, người đàn bà Sa-ma-ri đã đem những người khác đến với Ngài. Bà đã chứng tỏ mình là một nhà truyền giáo hữu hiệu hơn cả chính các môn đồ của Ngài. Các môn đồ chẳng thấy gì trong xứ Sa-ma-ri cho thấy đó là một cánh đồng đầy hứa hẹn. Tâm trí họ cứ chăm chú vào một công việc lớn lao phải làm trong tương lai. Họ không thấy rằng ngay xung quanh họ là một mùa gặt cần được thâu gom. Nhưng qua người đàn bà mà họ khinh dể, cả một thành đầy người đã được đem đến để nghe Đấng Cứu Thế. Bà lập tức đem ánh sáng đến cho đồng bào của mình. DA 195.1
Người đàn bà này tiêu biểu cho sự vận hành của một đức tin thực tiễn nơi Đấng Christ. Mỗi môn đồ chân thật đều được sanh vào nước Đức Chúa Trời như một nhà truyền giáo. Ai uống nước hằng sống thì trở nên một nguồn sự sống. Người nhận lãnh trở thành người ban cho. Ân điển của Đấng Christ trong linh hồn giống như một con suối nơi sa mạc, tuôn trào để làm tươi mới mọi người, và làm cho những kẻ sắp hư mất khao khát được uống nước sự sống. DA 195.2