“Ngài Phải Dấy Lên”

Chương này dựa trên Giăng 3:22-36. DA 178.1

Có một thời gian, ảnh hưởng của Giăng Báp-tít trên cả dân tộc còn lớn hơn các nhà cầm quyền, các thầy tế lễ, hay các vua chúa. Nếu ông tuyên bố mình là Đấng Mê-si và dấy lên một cuộc nổi dậy chống lại La-mã, thì các thầy tế lễ và dân chúng hẳn đã đổ về dưới ngọn cờ của ông. Sa-tan đã sẵn sàng thúc giục Giăng Báp-tít với mọi điều kêu gọi vốn lôi cuốn lòng tham vọng của những kẻ chinh phục thế gian. Nhưng với bằng chứng về quyền lực của mình ngay trước mắt, ông đã kiên quyết từ chối món mồi nhử hào nhoáng ấy. Sự chú ý mà người ta dồn vào ông, ông đã hướng nó về một Đấng khác. DA 178.2

Bây giờ ông thấy làn sóng được ưa chuộng đang chuyển từ chính mình sang Đấng Cứu Thế. Ngày qua ngày, đám đông quanh ông thưa dần. Khi Đức Chúa Giê-su từ thành Giê-ru-sa-lem đến vùng quanh sông Giô-đanh, dân chúng đổ xô đến để nghe Ngài. Số môn đồ của Ngài tăng lên mỗi ngày. Nhiều người đến để chịu phép báp-têm, và dù chính Đấng Christ không làm phép báp-têm, Ngài đã chuẩn nhận việc cử hành nghi lễ ấy qua các môn đồ của Ngài. Bằng cách đó, Ngài đã đặt ấn chứng của Ngài trên sứ mệnh của vị tiên phong. Nhưng các môn đồ của Giăng nhìn sự nổi tiếng ngày càng tăng của Đức Chúa Giê-su với lòng ghen tị. Họ sẵn sàng chỉ trích công việc của Ngài, và chẳng bao lâu họ tìm được cơ hội. Một câu hỏi nảy sinh giữa họ và người Do Thái về việc liệu phép báp-têm có công hiệu để tẩy sạch tội lỗi cho linh hồn hay không; họ cho rằng phép báp-têm của Đức Chúa Giê-su về cơ bản khác với phép báp-têm của Giăng. Chẳng bao lâu họ tranh luận với các môn đồ của Đấng Christ về hình thức ngôn từ thích hợp dùng khi làm báp-têm, và cuối cùng là về việc các môn đồ kia có quyền làm phép báp-têm hay không. DA 178.3

Các môn đồ của Giăng đến với ông cùng những bất bình của họ mà nói rằng, “Thưa thầy, kìa, người ở cùng thầy bên kia sông Giô-đanh, mà thầy đã làm chứng cho, bây giờ đang làm phép báp-têm, và ai nấy đều đến cùng người.” Qua những lời ấy, Sa-tan đã đem cám dỗ đến cho Giăng. Dù sứ mệnh của Giăng dường như sắp kết thúc, ông vẫn còn có thể cản trở công việc của Đấng Christ. Nếu ông thương hại chính mình, bày tỏ nỗi buồn hay thất vọng vì bị thay thế, ông hẳn đã gieo những hạt giống bất hòa, hẳn đã cổ vũ lòng đố kỵ và ghen tị, và hẳn đã làm cản trở nghiêm trọng sự tiến triển của tin lành. DA 179.1

Giăng vốn có những lỗi lầm và yếu đuối chung của loài người, nhưng sự đụng chạm của tình yêu thương thiêng liêng đã biến đổi ông. Ông sống trong một bầu không khí không bị ô nhiễm bởi tính ích kỷ và tham vọng, vượt xa trên cái khí độc của lòng ghen tị. Ông không tỏ một chút đồng tình nào với sự bất mãn của các môn đồ mình, nhưng cho thấy ông hiểu rõ ràng làm sao mối liên hệ của mình với Đấng Mê-si, và ông vui mừng làm sao khi nghênh đón Đấng mà ông đã dọn đường cho. DA 179.2

Ông nói rằng, “Ví chẳng từ trên trời ban cho, thì không một người nào có thể lãnh chi được. Chính các ngươi làm chứng cho ta rằng ta đã nói: Ấy không phải ta là Đấng Christ, nhưng ta đã được sai đến trước Ngài. Ai mới cưới vợ, nấy là chàng rể, nhưng bạn của chàng rể đứng gần và nghe người, thì khi nghe tiếng của chàng rể, lòng đầy sự vui mừng.” Giăng tự ví mình như người bạn đóng vai sứ giả giữa hai bên đã đính ước, dọn đường cho hôn lễ. Khi chàng rể đã rước được cô dâu, thì sứ mệnh của người bạn được hoàn tất. Người vui mừng trong hạnh phúc của những kẻ mà mình đã giúp kết hợp. Cũng vậy, Giăng đã được kêu gọi để hướng dân chúng đến với Đức Chúa Giê-su, và niềm vui của ông là chứng kiến sự thành công của công việc Đấng Cứu Thế. Ông nói rằng, “Vậy nên ta đã được đầy dẫy sự vui mừng nầy. Ngài phải dấy lên, ta phải hạ xuống.” DA 179.3

Lấy đức tin nhìn lên Đấng Cứu Chuộc, Giăng đã vươn tới đỉnh cao của sự quên mình. Ông không tìm cách lôi cuốn người ta đến với mình, nhưng nâng tư tưởng của họ lên cao mãi, cao mãi, cho đến khi họ an nghỉ nơi Chiên Con của Đức Chúa Trời. Bản thân ông chỉ là một tiếng nói, một tiếng kêu trong đồng vắng. Bây giờ với niềm vui, ông chấp nhận sự im lặng và mờ nhạt, để mắt mọi người có thể hướng về Sự Sáng của sự sống. DA 179.4

Những ai trung thành với sự kêu gọi của mình là sứ giả của Đức Chúa Trời sẽ không tìm kiếm vinh hiển cho chính mình. Lòng yêu mình sẽ bị nuốt chửng trong lòng yêu Đấng Christ. Không có sự tranh đua nào làm hoen ố cớ sự quý báu của tin lành. Họ sẽ nhận biết rằng công việc của họ là rao truyền, như Giăng Báp-tít đã làm, “Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi.” Giăng 1:29. Họ sẽ nâng Đức Chúa Giê-su lên, và cùng với Ngài, nhân loại cũng sẽ được nâng lên.

“Đấng cao cả, ở nơi đời đời vô cùng, danh Ngài là Thánh, có phán như vầy: Ta ngự trong nơi cao và thánh, với người có lòng ăn năn đau đớn và khiêm nhường, đặng làm tươi tỉnh thần linh của những kẻ khiêm nhường, và làm tươi tỉnh lòng người ăn năn đau đớn.” (Ê-sai 57:15)

DA 179.5

Linh hồn của vị tiên tri, được trút bỏ cái tôi, đã được đầy dẫy ánh sáng thiêng liêng. Khi ông làm chứng về vinh hiển của Đấng Cứu Thế, lời của ông gần như là bản sao của những lời mà chính Đấng Christ đã nói trong cuộc trò chuyện với Ni-cô-đem. Giăng nói rằng, “Đấng từ trên cao đến là trên hết mọi loài. Kẻ từ đất đến là thuộc về đất, và nói ra cũng như là thuộc về đất; còn Đấng từ trời đến thì trên hết mọi loài… Vì Đấng mà Đức Chúa Trời đã sai đến thì rao truyền lời của Đức Chúa Trời, bởi Đức Chúa Trời ban Thánh Linh cho Ngài không chừng mực.” Đấng Christ có thể nói rằng, “vì ta chẳng tìm ý muốn của ta, nhưng tìm ý muốn của Đấng đã sai ta.” Giăng 5:30. Về Ngài đã có lời phán, “Chúa ưa điều công bình, ghét điều gian ác; cho nên, hỡi Chúa, Đức Chúa Trời của Chúa lấy dầu vui mừng xức cho, khiến Chúa trổi hơn kẻ đồng loại mình.” Hê-bơ-rơ 1:9. Đức Chúa Cha “ban Thánh Linh cho Ngài không chừng mực.” DA 180.1

Với những người theo Đấng Christ cũng vậy. Chúng ta chỉ có thể nhận được ánh sáng của trời khi chúng ta sẵn lòng trút bỏ cái tôi. Chúng ta không thể nhận biết tính cách của Đức Chúa Trời, hay tiếp nhận Đấng Christ bởi đức tin, trừ khi chúng ta ưng thuận bắt mọi ý tưởng phải vâng phục Đấng Christ. Đối với tất cả những ai làm điều này, Đức Thánh Linh được ban cho không chừng mực. Trong Đấng Christ “có tất cả sự đầy dẫy của Đức Chúa Trời ở trong thân thể, và trong Ngài anh em được trở nên đầy dẫy.” Cô-lô-se 2:9, 10. DA 181.1

Các môn đồ của Giăng đã tuyên bố rằng mọi người đang đến với Đấng Christ; nhưng với cái nhìn thấu suốt hơn, Giăng nói, “chẳng có ai nhận lấy lời chứng của Ngài;” vì rất ít người sẵn sàng tiếp nhận Ngài là Đấng Cứu Thế khỏi tội lỗi. Nhưng “ai đã nhận lấy lời chứng của Ngài thì làm chứng chắc rằng Đức Chúa Trời là thật.” Giăng 3:33. “Ai tin Con, thì được sự sống đời đời.” Không cần tranh luận xem phép báp-têm của Đấng Christ hay của Giăng tẩy sạch tội lỗi. Chính ân điển của Đấng Christ ban sự sống cho linh hồn. Ngoài Đấng Christ, phép báp-têm, cũng như bất cứ nghi lễ nào khác, chỉ là một hình thức vô giá trị. “Ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu.” DA 181.2

Sự thành công của công việc Đấng Christ, mà Giăng Báp-tít đã đón nhận với niềm vui như vậy, cũng được tâu lên các nhà cầm quyền tại thành Giê-ru-sa-lem. Các thầy tế lễ và các thầy thông giáo đã ghen tị với ảnh hưởng của Giăng khi họ thấy dân chúng rời bỏ các nhà hội mà đổ về đồng vắng; nhưng giờ đây có một Đấng còn có quyền năng lớn hơn để thu hút quần chúng. Những nhà lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên ấy không sẵn lòng nói như Giăng rằng, “Ngài phải dấy lên, ta phải hạ xuống.” Họ đứng dậy với một quyết tâm mới để chấm dứt công việc đang lôi kéo dân chúng ra khỏi họ. DA 181.3

Đức Chúa Giê-su biết rằng họ sẽ không tiếc công sức nào để tạo ra sự chia rẽ giữa các môn đồ của chính Ngài và các môn đồ của Giăng. Ngài biết rằng cơn bão đang kéo đến, cơn bão sẽ cuốn đi một trong những tiên tri vĩ đại nhất từng được ban cho thế gian. Muốn tránh mọi cớ hiểu lầm hay bất hòa, Ngài lặng lẽ ngừng công việc của mình và rút lui về xứ Ga-li-lê. Chúng ta cũng vậy, trong khi trung thành với lẽ thật, nên cố gắng tránh mọi điều có thể dẫn đến bất hòa và hiểu lầm. Vì bất cứ khi nào những điều này nảy sinh, chúng đều dẫn đến sự mất mát các linh hồn. Mỗi khi xảy ra những hoàn cảnh đe dọa gây ra sự chia rẽ, chúng ta nên noi theo gương của Đức Chúa Giê-su và của Giăng Báp-tít. DA 181.4

Giăng đã được kêu gọi để dẫn đầu với tư cách một nhà cải chánh. Vì điều này, các môn đồ của ông có nguy cơ dồn sự chú ý của họ vào ông, cảm thấy rằng sự thành công của công việc tùy thuộc vào sức lao động của ông, mà quên đi sự thật rằng ông chỉ là một công cụ qua đó Đức Chúa Trời đã làm việc. Nhưng công việc của Giăng không đủ để đặt nền móng cho Hội Thánh Cơ-đốc. Khi ông đã hoàn thành sứ mệnh của mình, một công việc khác phải được thực hiện, là công việc mà lời chứng của ông không thể hoàn thành được. Các môn đồ của ông không hiểu điều này. Khi họ thấy Đấng Christ đến để tiếp nhận công việc, họ ghen tị và bất mãn. DA 181.5

Những nguy cơ ấy vẫn còn tồn tại. Đức Chúa Trời kêu gọi một người làm một công việc nhất định; và khi người ấy đã thực hiện công việc đó đến mức khả năng của mình cho phép, thì Chúa đem những người khác đến để tiếp tục đưa công việc tiến xa hơn nữa. Nhưng giống như các môn đồ của Giăng, nhiều người cảm thấy rằng sự thành công của công việc tùy thuộc vào người thợ đầu tiên. Sự chú ý được đặt nơi con người thay vì nơi Đức Chúa Trời, lòng ganh tị xuất hiện, và công việc của Đức Chúa Trời bị tổn hại. Người được tôn vinh quá mức như vậy bị cám dỗ nuôi dưỡng lòng tự tin nơi chính mình. Người ấy không nhận biết sự lệ thuộc của mình vào Đức Chúa Trời. Dân chúng được dạy phải nương dựa vào con người để được dẫn dắt, và như vậy họ rơi vào sự sai lầm, và bị dẫn lìa xa Đức Chúa Trời. DA 182.1

Công việc của Đức Chúa Trời không phải mang hình ảnh và dấu ấn của con người. Theo từng thời điểm, Chúa sẽ đem đến những công cụ khác nhau, qua đó mục đích của Ngài có thể được hoàn thành cách tốt nhất. Phước thay cho những ai sẵn lòng để bản thân được hạ thấp, mà nói như Giăng Báp-tít: “Ngài phải dấy lên, ta phải hạ xuống.” DA 182.2