Ni-cô-đem

Chương này dựa trên Giăng 3:1-17. DA 167.1

Ni-cô-đem giữ một địa vị cao trọng đầy tin cậy trong dân tộc Do Thái. Ông là người học thức uyên bác, sở hữu những tài năng phi thường, và là một thành viên được kính trọng trong hội đồng quốc gia. Cùng với những người khác, ông đã được khích động bởi lời dạy của Đức Chúa Giê-su. Dù giàu có, học rộng và được tôn trọng, ông lại bị thu hút một cách lạ lùng bởi người Na-xa-rét khiêm nhường ấy. Những bài học từ môi miệng Đấng Cứu Thế đã gây ấn tượng sâu sắc trong lòng ông, và ông khao khát học hỏi thêm về những lẽ thật kỳ diệu này. DA 167.2

Việc Đấng Christ thi hành quyền phép trong sự dẹp sạch đền thờ đã khơi dậy lòng căm ghét quyết liệt của các thầy tế lễ và các quan trưởng. Họ sợ quyền năng của người lạ này. Sự dạn dĩ như vậy nơi một người Ga-li-lê tầm thường là điều không thể dung thứ. Họ quyết tâm chấm dứt công việc của Ngài. Nhưng không phải tất cả đều đồng lòng trong mục đích này. Có một số người sợ chống lại Đấng rõ ràng được Thánh Linh của Đức Chúa Trời cảm động. Họ nhớ lại cách các tiên tri đã bị giết vì quở trách tội lỗi của những kẻ lãnh đạo trong Y-sơ-ra-ên. Họ biết rằng sự nô lệ của người Do Thái dưới tay một dân tộc ngoại bang là kết quả của tánh cứng đầu của họ trong việc khước từ những lời quở trách từ Đức Chúa Trời. Họ sợ rằng trong việc mưu hại Đức Chúa Giê-su, các thầy tế lễ và các quan trưởng đang đi theo dấu chân của tổ phụ mình, và sẽ đem những tai họa mới đến cho dân tộc. Ni-cô-đem cũng chia sẻ những cảm xúc này. Trong một phiên họp của Tòa Công Luận, khi bàn luận về đường lối phải theo đối với Đức Chúa Giê-su, Ni-cô-đem khuyên nên thận trọng và ôn hòa. Ông nài rằng nếu Đức Chúa Giê-su thật sự được ban quyền phép từ Đức Chúa Trời, thì việc khước từ những lời cảnh báo của Ngài sẽ là điều nguy hiểm. Các thầy tế lễ không dám xem thường lời khuyên này, và trong một thời gian họ không ra tay công khai chống lại Đấng Cứu Thế. DA 167.3

Kể từ khi nghe Đức Chúa Giê-su, Ni-cô-đem đã chăm chú nghiên cứu những lời tiên tri liên quan đến Đấng Mê-si; và càng tra xét, ông càng tin chắc rằng đây chính là Đấng phải đến. Cùng với nhiều người khác trong Y-sơ-ra-ên, ông đã rất đau lòng vì sự làm ô uế đền thờ. Ông là nhân chứng của cảnh tượng khi Đức Chúa Giê-su đuổi những kẻ buôn bán; ông thấy sự biểu lộ kỳ diệu của quyền năng thiêng liêng; ông thấy Đấng Cứu Thế tiếp đón người nghèo và chữa lành người bệnh; ông thấy vẻ vui mừng trên gương mặt họ, và nghe những lời ngợi khen của họ; và ông không thể nghi ngờ rằng Đức Chúa Giê-su người Na-xa-rét là Đấng được Đức Chúa Trời sai đến. DA 168.1

Ông rất khao khát được hội kiến với Đức Chúa Giê-su, nhưng lại ngại tìm gặp Ngài cách công khai. Điều đó quá hạ mình đối với một quan trưởng của người Do Thái khi thừa nhận mình đồng cảm với một thầy dạy còn quá ít người biết đến. Và nếu cuộc viếng thăm của ông đến tai Tòa Công Luận, nó sẽ rước lấy sự khinh bỉ và lên án của họ. Ông quyết định một cuộc gặp gỡ kín đáo, viện lẽ rằng nếu ông đi cách công khai, những người khác có thể bắt chước gương ông. Sau khi dò hỏi đặc biệt để biết nơi ẩn náu của Đấng Cứu Thế trên Núi Ô-li-ve, ông đợi cho đến khi thành phố chìm trong giấc ngủ, rồi tìm đến Ngài. DA 168.2

Trước mặt Đấng Christ, Ni-cô-đem cảm thấy một sự rụt rè lạ lùng, mà ông cố che giấu dưới vẻ điềm tĩnh và trang nghiêm. Ông nói: “Thưa thầy, chúng tôi biết thầy là giáo sư từ Đức Chúa Trời đến; vì những phép lạ thầy đã làm đó, nếu Đức Chúa Trời chẳng ở cùng, thì không ai làm được.” Bằng cách nói về những tài năng hiếm có của Đấng Christ với tư cách một thầy dạy, và cũng về quyền năng kỳ diệu của Ngài để làm các phép lạ, ông hy vọng dọn đường cho cuộc gặp gỡ của mình. Lời nói của ông được sắp đặt để bày tỏ và mời gọi sự tin cậy; nhưng thật ra chúng bày tỏ sự chẳng tin. Ông không thừa nhận Đức Chúa Giê-su là Đấng Mê-si, mà chỉ là một thầy dạy được sai đến từ Đức Chúa Trời. DA 168.3

Thay vì đáp lại lời chào này, Đức Chúa Giê-su chăm chú nhìn người đối thoại, như đọc thấu tận tâm hồn ông. Trong sự khôn ngoan vô hạn của Ngài, Ngài thấy trước mặt mình một người tìm kiếm lẽ thật. Ngài biết mục đích của cuộc viếng thăm này, và với lòng mong muốn làm sâu sắc thêm niềm tin chắc đã đặt trong tâm trí người nghe, Ngài đi thẳng vào vấn đề, phán cách trang nghiêm mà cũng nhân từ: “Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại từ trên cao, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời.” Giăng 3:3, chú thích bên lề. DA 168.4

Ni-cô-đem đến cùng Chúa với ý nghĩ muốn vào cuộc tranh luận với Ngài, nhưng Đức Chúa Giê-su đã phơi bày những nguyên tắc nền tảng của lẽ thật. Ngài phán cùng Ni-cô-đem rằng: Điều ngươi cần không phải là kiến thức lý thuyết cho bằng sự tái sanh thuộc linh. Ngươi không cần thỏa mãn tánh tò mò, mà cần có một tấm lòng mới. Ngươi phải nhận một sự sống mới từ trên cao trước khi ngươi có thể nhận biết những điều thuộc về thiên đàng. Cho đến khi sự thay đổi này diễn ra, làm mới lại mọi sự, thì việc bàn luận với Ta về quyền phép hay sứ mạng của Ta sẽ chẳng đem lại ích lợi cứu rỗi nào cho ngươi. DA 171.1

Ni-cô-đem đã nghe sự giảng dạy của Giăng Báp-tít về sự ăn năn và phép báp-têm, và việc chỉ cho dân chúng về Đấng sẽ làm phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh. Chính ông cũng đã cảm thấy có sự thiếu hụt về đời sống thuộc linh giữa vòng người Do Thái, rằng họ phần lớn bị chi phối bởi sự cố chấp và tham vọng thế gian. Ông đã hy vọng một tình trạng tốt hơn khi Đấng Mê-si đến. Tuy nhiên, sứ điệp dò xét tấm lòng của Giăng Báp-tít đã không tạo nên trong ông sự nhận biết tội lỗi. Ông là một người Pha-ri-si nghiêm khắc, và lấy làm tự hào về những việc lành của mình. Ông được nhiều người kính trọng vì lòng nhân từ và sự rộng rãi trong việc duy trì công việc đền thờ, và ông cảm thấy chắc chắn về ơn phước của Đức Chúa Trời. Ông giật mình trước ý tưởng về một nước quá thánh sạch đến nỗi ông không thể thấy được trong tình trạng hiện tại của mình. DA 171.2

Hình ảnh về sự sanh lại mà Đức Chúa Giê-su đã dùng không hoàn toàn xa lạ đối với Ni-cô-đem. Những người từ ngoại giáo trở lại với đức tin của Y-sơ-ra-ên thường được ví như những con trẻ mới sanh. Vì vậy hẳn ông đã nhận thấy rằng lời của Đấng Christ không nên hiểu theo nghĩa đen. Nhưng nhờ sự ra đời của mình là một người Y-sơ-ra-ên, ông tự xem mình chắc chắn có một chỗ trong nước Đức Chúa Trời. Ông cảm thấy mình không cần sự thay đổi nào. Bởi vậy ông ngạc nhiên trước lời của Đấng Cứu Thế. Ông bực tức vì những lời ấy áp dụng quá sát vào chính mình. Lòng kiêu hãnh của người Pha-ri-si đang chống chọi với lòng khao khát chân thật của người tìm kiếm lẽ thật. Ông lấy làm lạ rằng Đấng Christ lại nói với ông như vậy, chẳng tôn trọng địa vị của ông là quan trưởng trong Y-sơ-ra-ên. DA 171.3

Bị bất ngờ đến mất bình tĩnh, ông đáp lại Đấng Christ bằng những lời đầy mỉa mai: “Người đã già thì sanh lại làm sao được?” Giống như nhiều người khác khi lẽ thật sắc bén được áp dụng vào lương tâm, ông đã bộc lộ sự thật rằng người thuộc về xác thịt không nhận được những sự thuộc về Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Trong ông không có gì đáp ứng với những điều thuộc linh; vì những điều thuộc linh phải được phân biệt theo cách thuộc linh. DA 171.4

Nhưng Đấng Cứu Thế không lấy lý luận để đáp lại lý luận. Đưa tay lên với vẻ trang nghiêm, điềm tĩnh và uy nghi, Ngài nhấn mạnh lẽ thật ấy với sự quả quyết hơn: “Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Đức Chúa Trời.” Ni-cô-đem biết rằng ở đây Đấng Christ đề cập đến phép báp-têm bằng nước và sự đổi mới tấm lòng bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Ông tin chắc rằng mình đang ở trước mặt Đấng mà Giăng Báp-tít đã báo trước. DA 171.5

Đức Chúa Giê-su tiếp tục: “Hễ chi sanh bởi xác thịt là xác thịt; hễ chi sanh bởi Thánh Linh là thần.” Theo bản tánh, lòng người là gian ác, và “ai có thể từ sự ô uế mà lấy ra được điều thanh sạch? Chẳng một ai!” Gióp 14:4. Không một phát minh nào của loài người có thể tìm ra phương thuốc cho linh hồn phạm tội. “Sự chăm về xác thịt nghịch với Đức Chúa Trời, bởi nó không phục dưới luật pháp Đức Chúa Trời, lại cũng không thể phục được.” “Vì từ nơi lòng mà ra những ác tưởng, những tội giết người, tà dâm, dâm dục, trộm cướp, làm chứng dối, và lộng ngôn.” Rô-ma 8:7; Ma-thi-ơ 15:19. Nguồn của tấm lòng phải được tẩy sạch trước khi các dòng nước có thể trở nên trong sạch. Người nào cố gắng đạt đến thiên đàng bằng việc làm của chính mình trong việc giữ luật pháp là đang cố làm một điều bất khả. Không có sự an toàn nào cho kẻ chỉ có một tôn giáo hình thức luật lệ, một dáng vẻ tin kính. Đời sống của người Cơ-đốc không phải là sự sửa đổi hay cải tiến cái cũ, mà là sự biến đổi bản tánh. Có một sự chết đối với bản ngã và tội lỗi, và một sự sống mới hoàn toàn. Sự thay đổi này chỉ có thể được thực hiện bởi công việc hữu hiệu của Đức Thánh Linh. DA 172.1

Ni-cô-đem vẫn còn bối rối, và Đức Chúa Giê-su dùng gió để minh họa ý của Ngài: “Gió muốn thổi đâu thì thổi, ngươi nghe tiếng động; nhưng chẳng biết gió đến từ đâu và cũng không biết đi đâu. Hễ người nào sanh bởi Thánh Linh thì cũng như vậy.” DA 172.2

Tiếng gió thổi nghe được giữa các nhánh cây, làm xào xạc lá và hoa; nhưng nó vô hình, và chẳng ai biết nó đến từ đâu hay đi đâu. Công việc của Đức Thánh Linh trên lòng người cũng vậy. Nó không thể giải thích được hơn là sự chuyển động của gió. Một người có thể không nói được chính xác thời điểm hay nơi chốn, hoặc không thể truy tìm hết mọi hoàn cảnh trong tiến trình hoán cải; nhưng điều này không chứng tỏ rằng người ấy chưa được hoán cải. Bằng một tác nhân vô hình như gió, Đấng Christ liên tục hành động trên lòng người. Từng chút một, có lẽ người tiếp nhận không hề hay biết, những ấn tượng được tạo ra có khuynh hướng lôi kéo linh hồn đến với Đấng Christ. Những ấn tượng này có thể được tiếp nhận qua việc suy gẫm về Ngài, qua việc đọc Kinh Thánh, hoặc qua việc nghe lời từ một người giảng đạo sống. Bỗng nhiên, khi Đức Thánh Linh đến với lời mời gọi trực tiếp hơn, linh hồn vui mừng dâng mình cho Đức Chúa Giê-su. Nhiều người gọi đây là sự hoán cải đột ngột; nhưng đó là kết quả của một sự cầu thân lâu dài bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời—một tiến trình kiên nhẫn, kéo dài. DA 172.3

Trong khi gió tự nó vô hình, nó lại tạo ra những kết quả có thể thấy và cảm nhận được. Công việc của Đức Thánh Linh trên linh hồn cũng vậy, sẽ tự bày tỏ trong mỗi hành động của người đã cảm nhận được quyền năng cứu rỗi của nó. Khi Thánh Linh của Đức Chúa Trời chiếm hữu tấm lòng, nó biến đổi cuộc đời. Những tư tưởng tội lỗi bị loại bỏ, những việc ác bị từ khước; tình yêu thương, sự khiêm nhường và bình an thay thế cho sự giận dữ, ganh tị và tranh chấp. Niềm vui thay thế cho nỗi buồn, và gương mặt phản chiếu ánh sáng của thiên đàng. Không ai thấy được bàn tay nâng gánh nặng lên, hay nhìn thấy ánh sáng từ các cung điện trên cao giáng xuống. Phước lành đến khi linh hồn lấy đức tin dâng mình cho Đức Chúa Trời. Bấy giờ quyền năng mà không mắt người nào có thể thấy được sẽ tạo nên một con người mới theo hình ảnh của Đức Chúa Trời. DA 173.1

Trí óc hữu hạn không thể nào hiểu được công việc cứu chuộc. Sự mầu nhiệm của nó vượt quá tri thức con người; nhưng người chuyển từ sự chết qua sự sống nhận biết rằng đó là một thực tại thiêng liêng. Sự khởi đầu của cuộc cứu chuộc, chúng ta có thể biết được ở đây qua một kinh nghiệm cá nhân. Kết quả của nó trải dài qua các thời đại đời đời. DA 173.2

Trong khi Đức Chúa Giê-su đang phán, vài tia sáng của lẽ thật đã thấm vào tâm trí của vị quan trưởng. Ảnh hưởng làm mềm mại, chinh phục của Đức Thánh Linh đã in dấu trên lòng ông. Tuy vậy, ông chưa hoàn toàn hiểu được lời của Đấng Cứu Thế. Ông không bị ấn tượng nhiều bởi sự cần thiết của sự tái sinh cho bằng bởi cách thức nó được thực hiện. Ông kinh ngạc hỏi: “Làm sao những việc này có thể xảy ra được?” DA 173.3

Đức Chúa Giê-su hỏi: “Ngươi là giáo sư của dân Y-sơ-ra-ên mà không hiểu những điều này sao?” Chắc chắn một người được giao phó việc dạy dỗ tôn giáo cho dân chúng thì không nên dốt nát về những lẽ thật quan trọng đến thế. Lời của Ngài truyền đạt bài học rằng thay vì cảm thấy bực bội trước những lời lẽ thật rõ ràng, Ni-cô-đem lẽ ra phải có một ý nghĩ rất khiêm nhường về chính mình, vì sự dốt nát thuộc linh của ông. Tuy nhiên, Đấng Christ phán với một sự uy nghiêm trang trọng đến nỗi, cả ánh mắt lẫn giọng nói đều bày tỏ một tình yêu thương tha thiết, khiến Ni-cô-đem không bị xúc phạm khi ông nhận ra tình trạng nhục nhã của mình. DA 173.4

Nhưng khi Đức Chúa Giê-su giải thích rằng sứ mạng của Ngài trên đất là để thiết lập một vương quốc thuộc linh thay vì một vương quốc trần thế, người nghe Ngài lấy làm bối rối. Thấy vậy, Đức Chúa Giê-su nói thêm: “Nếu ta nói với ngươi những việc thuộc về đất mà ngươi không tin, thì làm sao ngươi tin được nếu ta nói với ngươi những việc thuộc về trời?” Nếu Ni-cô-đem không thể tiếp nhận sự dạy dỗ của Đấng Christ, vốn minh họa công việc của ân điển trên tấm lòng, thì làm sao ông có thể hiểu được bản chất của vương quốc thiên đàng vinh hiển của Ngài? Không nhận thức được bản chất công việc của Đấng Christ trên đất, ông không thể hiểu công việc của Ngài trên trời. DA 173.5

Những người Do Thái mà Đức Chúa Giê-su đã đuổi ra khỏi đền thờ tự nhận mình là con cái của Áp-ra-ham, nhưng họ chạy trốn khỏi sự hiện diện của Đấng Cứu Thế vì họ không thể chịu nổi vinh quang của Đức Chúa Trời được tỏ ra nơi Ngài. Như thế họ đã chứng tỏ rằng họ không được ân điển của Đức Chúa Trời làm cho xứng đáng để dự phần vào những việc thờ phượng thánh khiết trong đền thờ. Họ sốt sắng giữ vẻ bề ngoài của sự thánh khiết, nhưng họ bỏ bê sự thánh khiết của tấm lòng. Trong khi họ khăng khăng giữ theo từng câu chữ của luật pháp, họ lại liên tục vi phạm tinh thần của nó. Nhu cầu lớn nhất của họ chính là sự thay đổi mà Đấng Christ đã giải thích cho Ni-cô-đem—một sự tái sinh đạo đức, một sự tẩy sạch khỏi tội lỗi, và một sự đổi mới về tri thức và sự thánh khiết. DA 173.6

Sự mù lòa của dân Y-sơ-ra-ên đối với công việc tái sinh là điều không thể bào chữa được. Dưới sự cảm động của Đức Thánh Linh, Ê-sai đã viết:

“Chúng tôi hết thảy đã trở nên như vật ô uế, mọi việc công bình của chúng tôi như áo nhớp; chúng tôi thảy đều héo như lá, và tội ác chúng tôi như gió đùa mình đi.” (Ê-sai 64:6)

Đa-vít đã cầu nguyện:

“Đức Chúa Trời ôi! xin hãy dựng nên trong tôi một lòng trong sạch, Và làm cho mới lại trong tôi một thần linh ngay thẳng.” (Thi-thiên 51:10)

Và qua Ê-xê-chi-ên, lời hứa đã được ban cho:

“Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi, và đặt thần mới trong các ngươi. Ta sẽ cất lòng bằng đá khỏi thịt các ngươi, và ban cho các ngươi lòng bằng thịt. Ta sẽ đặt Thần ta trong các ngươi, và khiến các ngươi noi theo luật lệ ta, thì các ngươi sẽ giữ mạng lịnh ta và làm theo.” (Ê-xê-chi-ên 36:26,27)

DA 174.1

Ni-cô-đem đã đọc những lời Kinh Thánh này với một tâm trí mờ tối; nhưng giờ đây ông bắt đầu hiểu được ý nghĩa của chúng. Ông thấy rằng dù vâng giữ nghiêm ngặt nhất từng câu chữ của luật pháp như áp dụng vào đời sống bên ngoài cũng không thể cho phép một người nào được vào nước thiên đàng. Theo sự đánh giá của loài người, đời sống của ông đã là ngay thẳng và đáng kính; nhưng trước mặt Đấng Christ, ông cảm thấy tấm lòng mình ô uế và đời sống mình bất khiết. DA 174.2

Ni-cô-đem đang được lôi kéo đến với Đấng Christ. Khi Đấng Cứu Thế giải thích cho ông về sự tái sinh, ông khao khát có được sự thay đổi này được thực hiện trong chính mình. Bằng phương cách nào có thể đạt được điều đó? Đức Chúa Giê-su trả lời câu hỏi chưa nói thành lời: “Như Môi-se đã treo con rắn lên trong đồng vắng thể nào, thì Con Người cũng phải bị treo lên thể ấy; hầu cho hễ ai tin đến Ngài đều chẳng bị hư mất mà được sự sống đời đời.” DA 174.3

Đây là nền tảng mà Ni-cô-đem quen thuộc. Biểu tượng con rắn được treo lên đã làm sáng tỏ cho ông về sứ mạng của Đấng Cứu Thế. Khi dân Y-sơ-ra-ên đang chết vì nọc độc của những con rắn lửa, Đức Chúa Trời đã chỉ dẫn Môi-se làm một con rắn bằng đồng và đặt nó lên cao giữa hội chúng. Rồi có lời truyền khắp trại quân rằng hễ ai nhìn lên con rắn thì sẽ được sống. Dân chúng biết rõ rằng tự nó con rắn không có quyền năng nào để giúp họ. Đó là một biểu tượng của Đấng Christ. Như hình tượng được làm giống như những con rắn hủy diệt đã được treo lên để chữa lành cho họ, thì Đấng được làm “giống như xác thịt tội lỗi” cũng phải là Đấng Cứu Chuộc của họ. (Rô-ma 8:3). Nhiều người Y-sơ-ra-ên xem việc tế lễ là tự nó có công hiệu giải thoát họ khỏi tội lỗi. Đức Chúa Trời muốn dạy họ rằng nó không có giá trị nào hơn con rắn đồng kia. Nó nhằm dẫn dắt tâm trí họ đến Đấng Cứu Thế. Dù để chữa lành vết thương hay để được tha thứ tội lỗi, họ chẳng có thể làm gì cho chính mình ngoài việc bày tỏ đức tin nơi Sự Ban Cho của Đức Chúa Trời. Họ phải nhìn lên và được sống. DA 174.4

Những người bị rắn cắn lẽ ra có thể chần chừ không chịu nhìn lên. Họ có thể đã thắc mắc làm sao mà biểu tượng bằng đồng kia lại có công hiệu. Họ có thể đã đòi hỏi một lời giải thích khoa học. Nhưng chẳng có lời giải thích nào được ban cho. Họ phải tiếp nhận lời của Đức Chúa Trời ban cho họ qua Môi-se. Từ chối nhìn lên tức là phải chết. DA 175.1

Linh hồn không được soi sáng qua sự tranh cãi và bàn luận. Chúng ta phải nhìn lên và được sống. Ni-cô-đem đã tiếp nhận bài học và mang nó theo mình. Ông tra xét Kinh Thánh theo một cách mới, không phải để bàn luận một lý thuyết, nhưng để tiếp nhận sự sống cho linh hồn. Ông bắt đầu thấy được nước thiên đàng khi ông thuận phục sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh. DA 175.2

Ngày nay có hàng ngàn người cần học cùng một lẽ thật mà con rắn được treo lên đã dạy cho Ni-cô-đem. Họ trông cậy vào sự vâng giữ luật pháp Đức Chúa Trời của mình để được Ngài ưu ái. Khi họ được mời gọi nhìn lên Đức Chúa Giê-su và tin rằng Ngài cứu họ chỉ duy nhất bởi ân điển của Ngài, họ kêu lên: “Làm sao những việc này có thể xảy ra được?” DA 175.3

Giống như Ni-cô-đem, chúng ta phải sẵn lòng bước vào sự sống theo cùng một cách như kẻ đứng đầu của những kẻ có tội. Ngoài Đấng Christ ra, “chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu.”

“Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu.” (Công-vụ các Sứ-đồ 4:12)

Bởi đức tin, chúng ta nhận lãnh ân điển của Đức Chúa Trời; nhưng đức tin không phải là Đấng Cứu Thế của chúng ta. Nó chẳng kiếm được gì cả. Nó là bàn tay mà nhờ đó chúng ta nắm lấy Đấng Christ, và chiếm hữu công đức của Ngài, phương thuốc chữa tội lỗi. Và chúng ta thậm chí không thể ăn năn mà không có sự giúp đỡ của Thánh Linh Đức Chúa Trời. Kinh Thánh phán về Đấng Christ rằng: “Đức Chúa Trời đã đem Đấng ấy lên bên hữu Ngài, làm Vua và Cứu Chúa, để ban lòng ăn năn và sự tha tội cho dân Y-sơ-ra-ên.”

“Đức Chúa Trời đã đem Đấng ấy lên bên hữu Ngài, làm Vua và Cứu Chúa, để ban lòng ăn năn và sự tha tội cho dân Y-sơ-ra-ên.” (Công-vụ các Sứ-đồ 5:31)

Sự ăn năn đến từ Đấng Christ cũng thật như sự tha thứ vậy. DA 175.4

Vậy thì, làm thế nào chúng ta được cứu? “Xưa Môi-se treo con rắn lên nơi đồng vắng thể nào,” thì Con Người cũng phải bị treo lên thể ấy, và mọi người đã bị con rắn lừa dối và cắn đều có thể nhìn lên mà được sống. “Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi.”

“Qua ngày sau, Giăng thấy Đức Chúa Giê-su đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi.” (Giăng 1:29)

Ánh sáng chiếu ra từ thập tự giá bày tỏ tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Tình yêu thương của Ngài đang lôi kéo chúng ta đến với chính Ngài. Nếu chúng ta không kháng cự sự lôi kéo này, chúng ta sẽ được dẫn đến chân thập tự giá trong sự ăn năn vì những tội lỗi đã đóng đinh Đấng Cứu Thế. Rồi Thánh Linh Đức Chúa Trời, qua đức tin, tạo nên một sự sống mới trong linh hồn. Những ý tưởng và những ước muốn được đem vào sự vâng phục ý muốn của Đấng Christ. Tấm lòng, tâm trí được dựng nên mới theo hình ảnh của Đấng đang làm việc trong chúng ta để bắt phục mọi sự cho chính Ngài. Rồi luật pháp Đức Chúa Trời được ghi vào tâm trí và tấm lòng, và chúng ta có thể nói cùng Đấng Christ rằng: “Hỡi Đức Chúa Trời tôi, tôi lấy làm vui mừng làm theo ý muốn Chúa.”

“Hỡi Đức Chúa Trời tôi, tôi lấy làm vui mừng làm theo ý muốn Chúa, Luật pháp Chúa ở trong lòng tôi.” (Thi-thiên 40:8)

DA 175.5

Trong cuộc trò chuyện với Ni-cô-đem, Đức Chúa Giê-su đã bày tỏ kế hoạch cứu rỗi, và sứ mạng của Ngài đối với thế gian. Trong không một bài giảng nào về sau, Ngài giải thích đầy đủ đến vậy, từng bước một, công việc cần phải được thực hiện trong tấm lòng của tất cả những ai muốn thừa hưởng nước thiên đàng. Ngay vào lúc khởi đầu chức vụ của Ngài, Ngài đã mở ra lẽ thật cho một thành viên của Tòa Công Luận, cho một tâm trí dễ tiếp nhận nhất, và cho một người được chỉ định làm thầy dạy dân chúng. Nhưng các nhà lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên đã không tiếp đón ánh sáng. Ni-cô-đem giấu kín lẽ thật trong lòng mình, và trong ba năm có vẻ như chẳng có mấy kết quả. DA 176.1

Nhưng Đức Chúa Giê-su biết rõ thửa đất mà Ngài gieo hạt giống vào đó. Những lời được phán ban đêm cho một người nghe trên núi hoang vắng đã không bị mất đi. Trong một thời gian, Ni-cô-đem không công khai thừa nhận Đấng Christ, nhưng ông quan sát đời sống của Ngài, và suy ngẫm những lời dạy của Ngài. Trong hội đồng Tòa Công Luận, ông nhiều lần ngăn trở những mưu kế của các thầy tế lễ muốn tiêu diệt Ngài. Cuối cùng, khi Đức Chúa Giê-su bị treo lên thập tự giá, Ni-cô-đem nhớ lại lời dạy trên núi Ô-li-ve: “Xưa Môi-se treo con rắn lên nơi đồng vắng thể nào, thì Con Người cũng phải bị treo lên dường ấy, hầu cho hễ ai tin đến Ngài đều được sự sống đời đời.” Ánh sáng từ cuộc trò chuyện kín đáo ấy đã soi sáng thập tự giá trên đồi Gô-gô-tha, và Ni-cô-đem nhìn thấy nơi Đức Chúa Giê-su Đấng Cứu Chuộc của thế gian. DA 176.2

Sau khi Chúa thăng thiên, khi các môn đồ bị phân tán bởi sự bắt bớ, Ni-cô-đem đã mạnh dạn bước ra phía trước. Ông dùng tài sản của mình để chu cấp cho Hội Thánh non trẻ mà người Do Thái đã trông mong sẽ bị xóa sạch khi Đấng Christ chịu chết. Trong thời kỳ hiểm nguy, người từng quá thận trọng và hay nghi vấn ấy nay vững chắc như tảng đá, khích lệ đức tin của các môn đồ, và cung cấp phương tiện để tiến hành công việc tin lành. Ông bị khinh dể và bắt bớ bởi những kẻ từng tôn kính ông trong những ngày trước đó. Ông trở nên nghèo nàn về của cải thế gian này; thế nhưng ông không hề nao núng trong đức tin đã khởi đầu vào đêm trò chuyện với Đức Chúa Giê-su ấy. DA 177.1

Ni-cô-đem đã thuật lại cho Giăng câu chuyện về cuộc trò chuyện ấy, và bởi ngòi bút của ông, nó được ghi chép lại để dạy dỗ hàng triệu người. Những lẽ thật được dạy nơi đó ngày nay vẫn quan trọng như chúng đã từng quan trọng vào đêm trang nghiêm ấy trên ngọn núi mờ tối, khi nhà cai trị Do Thái đến để học biết con đường sự sống từ vị Thầy khiêm nhường của xứ Ga-li-lê. DA 177.2