Trong Đền Thờ Ngài
Chương này dựa trên Giăng 2:12-22. DA 154.1
“Sau việc đó, Ngài với mẹ, anh em, và môn đồ Ngài đều xuống thành Ca-bê-na-um; và chỉ ở tại đó ít ngày thôi. Lễ Vượt qua của dân Giu-đa hầu đến; Đức Chúa Giê-su lên thành Giê-ru-sa-lem.” (Giăng 2:12-13)
DA 154.2
Trong chuyến đi này, Đức Chúa Giê-su nhập vào một trong những đoàn người đông đảo đang trẩy lên thủ đô. Ngài chưa công khai loan báo sứ mạng của mình, và Ngài hòa lẫn vào đám đông mà không ai để ý. Vào những dịp như vậy, sự đến của Đấng Mê-si, là điều đã được nhấn mạnh qua chức vụ của Giăng, thường là đề tài bàn luận. Niềm hy vọng về sự vĩ đại của quốc gia được nhắc đến với lòng nhiệt thành sôi nổi. Đức Chúa Giê-su biết rằng niềm hy vọng này sẽ phải thất vọng, vì nó được xây dựng trên sự hiểu lầm Kinh Thánh. Với lòng nhiệt thành sâu sắc, Ngài giải thích các lời tiên tri, và cố gắng thức tỉnh dân chúng nghiên cứu Lời Đức Chúa Trời cách kỹ lưỡng hơn. DA 154.3
Các nhà lãnh đạo Do Thái đã dạy dân chúng rằng họ phải thờ phượng Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem. Tại đây, trong tuần lễ Vượt Qua, có rất đông người tụ họp, đến từ mọi miền của xứ Pa-lét-tin, và thậm chí từ những vùng đất xa xôi. Các hành lang đền thờ đầy ắp một đám đông hỗn tạp. Nhiều người không thể mang theo những của lễ phải được dâng lên tượng trưng cho một Của Lễ vĩ đại duy nhất. Vì sự tiện lợi của những người này, người ta mua bán súc vật trong hành lang ngoài của đền thờ. Tại đây mọi tầng lớp người tụ tập để mua của lễ. Tại đây mọi loại tiền ngoại quốc được đổi lấy đồng tiền của đền thánh. DA 154.4
Mỗi người Do Thái phải nộp hằng năm nửa siếc-lơ làm “tiền chuộc cho linh hồn mình;” và số tiền thu được như vậy được dùng để chu cấp cho đền thờ. Xuất Ê-díp-tô Ký 30:12-16. Ngoài ra, những số tiền lớn được mang đến làm của lễ lạc ý, để gửi vào kho bạc của đền thờ. Và người ta đòi hỏi rằng mọi đồng tiền ngoại quốc phải được đổi lấy đồng tiền gọi là siếc-lơ đền thờ, là đồng tiền được chấp nhận cho việc thờ phượng tại đền thánh. Việc đổi tiền tạo cơ hội cho sự gian lận và bóc lột, và nó đã trở thành một việc buôn bán đáng hổ thẹn, là nguồn lợi tức cho các thầy tế lễ. DA 155.1
Những kẻ buôn bán đòi giá cắt cổ cho súc vật được bán, và họ chia lợi nhuận với các thầy tế lễ và quan trưởng, là những kẻ nhờ đó mà làm giàu trên sự thiệt hại của dân chúng. Những người thờ phượng đã được dạy để tin rằng nếu họ không dâng của lễ, thì phước hạnh của Đức Chúa Trời sẽ không ngự trên con cái hay đất đai của họ. Như vậy có thể bảo đảm một giá cao cho súc vật; vì sau khi đã đến nơi xa như thế, dân chúng sẽ không trở về nhà mình mà chưa thực hiện hành động sùng kính mà vì đó họ đã đến. DA 155.2
Một số lượng lớn của lễ được dâng lên vào thời điểm lễ Vượt Qua, và việc mua bán tại đền thờ rất nhộn nhịp. Sự hỗn loạn do đó mà ra khiến nơi này giống một chợ buôn súc vật ồn ào hơn là đền thờ thánh của Đức Chúa Trời. Tại đó người ta có thể nghe tiếng mặc cả gay gắt, tiếng bò rống, tiếng chiên kêu, tiếng bồ câu gù, lẫn với tiếng leng keng của tiền bạc và những cuộc cãi vã giận dữ. Sự hỗn loạn lớn đến nỗi những người thờ phượng bị quấy rầy, và những lời thưa cùng Đấng Chí Cao bị chìm lấp trong tiếng huyên náo tràn ngập đền thờ. Người Do Thái vô cùng tự hào về lòng mộ đạo của họ. Họ vui mừng về đền thờ của mình, và xem một lời nói bất lợi về đền thờ là sự phạm thượng; họ rất nghiêm ngặt trong việc thực hiện các nghi lễ liên quan đến đền thờ; nhưng lòng tham tiền bạc đã lấn át những điều e ngại của họ. Họ hầu như không nhận thức được mình đã đi xa biết bao khỏi mục đích nguyên thủy của sự thờ phượng do chính Đức Chúa Trời thiết lập. DA 155.3
Khi Chúa ngự xuống trên núi Si-na-i, nơi ấy được biệt riêng ra thánh bởi sự hiện diện của Ngài. Môi-se được truyền lệnh phải lập giới hạn chung quanh núi và biệt nó ra thánh, và lời Chúa được nghe trong sự cảnh cáo: “Khá giữ mình đừng leo lên núi, hoặc đụng đến chân; hễ kẻ nào đụng đến thì sẽ bị xử tử. Chớ ai tra tay vào mình người đó, nhưng người đó phải bị ném đá hoặc bắn tên; bất luận vật hay người, cũng chẳng được sống đâu.” Xuất Ê-díp-tô Ký 19:12, 13. Như vậy bài học được dạy rằng bất cứ nơi nào Đức Chúa Trời tỏ ra sự hiện diện của Ngài, nơi ấy là thánh. Khuôn viên đền thờ của Đức Chúa Trời lẽ ra phải được coi là thiêng liêng. Nhưng trong cuộc tranh giành lợi lộc, tất cả những điều này đã bị lãng quên. DA 155.4
Các thầy tế lễ và quan trưởng được kêu gọi để làm những người đại diện của Đức Chúa Trời cho dân tộc; lẽ ra họ phải sửa chữa những lạm dụng nơi hành lang đền thờ. Lẽ ra họ phải nêu cho dân chúng một tấm gương về sự liêm chính và lòng trắc ẩn. Thay vì tìm kiếm lợi riêng của mình, lẽ ra họ phải xem xét hoàn cảnh và nhu cầu của những người thờ phượng, và phải sẵn lòng giúp đỡ những ai không thể mua được của lễ đòi hỏi. Nhưng họ đã không làm điều này. Lòng tham đã làm chai cứng tấm lòng họ. DA 156.1
Đến dự lễ này có những người đang đau khổ, những người đang thiếu thốn và túng quẫn. Người mù, người què, người điếc đều có mặt tại đó. Một số người được khiêng đến trên giường. Nhiều người đến mà nghèo đến nỗi không thể mua nổi của lễ hèn mọn nhất dâng cho Chúa, nghèo đến nỗi không thể mua thức ăn để no lòng mình. Những người này hết sức buồn rầu trước những lời tuyên bố của các thầy tế lễ. Các thầy tế lễ khoe khoang về lòng mộ đạo của họ; họ tự nhận là người gìn giữ dân chúng; nhưng họ không có lòng thương cảm hay trắc ẩn. Người nghèo, người bệnh, người hấp hối, đã van xin ơn huệ cách vô vọng. Sự đau khổ của họ không khơi dậy lòng thương xót nào trong tấm lòng các thầy tế lễ. DA 157.1
Khi Đức Chúa Giê-su vào đền thờ, Ngài thâu vào toàn bộ cảnh tượng. Ngài thấy những vụ giao dịch bất công. Ngài thấy nỗi đau khổ của người nghèo, là những người nghĩ rằng nếu không đổ huyết thì sẽ không có sự tha thứ tội lỗi của họ. Ngài thấy hành lang ngoài của đền thờ Ngài bị biến thành nơi buôn bán nhơ nhuốc. Khuôn viên thánh đã trở thành một sàn giao dịch khổng lồ. DA 157.2
Đấng Christ thấy rằng phải làm một điều gì đó. Nhiều nghi lễ được truyền dạy cho dân chúng mà không có sự dạy dỗ thích đáng về ý nghĩa của chúng. Những người thờ phượng dâng của lễ mà không hiểu rằng chúng tượng trưng cho Của Lễ hoàn hảo duy nhất. Và giữa vòng họ, không được nhìn nhận và không được tôn kính, là Đấng được tượng trưng bởi tất cả sự thờ phượng của họ. Ngài đã ban những chỉ dẫn liên quan đến các của lễ. Ngài hiểu giá trị tượng trưng của chúng, và Ngài thấy rằng giờ đây chúng đã bị xuyên tạc và hiểu lầm. Sự thờ phượng thuộc linh đang mau chóng biến mất. Không có mối liên kết nào ràng buộc các thầy tế lễ và quan trưởng với Đức Chúa Trời của họ. Công việc của Đấng Christ là thiết lập một sự thờ phượng hoàn toàn khác. DA 157.3
Với cái nhìn dò xét, Đấng Christ thâu vào cảnh tượng trước mặt Ngài khi Ngài đứng trên các bậc thềm của hành lang đền thờ. Với con mắt tiên tri, Ngài nhìn vào tương lai, và thấy không chỉ những năm tháng, mà cả những thế kỷ và những thời đại. Ngài thấy các thầy tế lễ và quan trưởng sẽ tước đoạt quyền lợi chính đáng của người thiếu thốn ra sao, và ngăn cấm việc rao giảng tin lành cho người nghèo. Ngài thấy tình yêu thương của Đức Chúa Trời sẽ bị che giấu khỏi những kẻ có tội như thế nào, và loài người sẽ buôn bán ân điển của Ngài. Khi Ngài nhìn xem cảnh tượng ấy, sự phẫn nộ, uy quyền và quyền năng được biểu lộ trên gương mặt Ngài. Sự chú ý của dân chúng bị thu hút về phía Ngài. Mắt của những kẻ đang bận rộn buôn bán nhơ nhuốc dán chặt vào gương mặt Ngài. Họ không thể rời mắt khỏi Ngài. Họ cảm thấy Người này đọc được những tư tưởng sâu kín nhất của họ, và khám phá ra những động cơ giấu kín của họ. Một số kẻ cố che giấu gương mặt mình, như thể những việc làm gian ác của họ đã được viết trên gương mặt, để bị dò xét bởi đôi mắt dò xét ấy. DA 157.4
Sự hỗn loạn lắng xuống. Tiếng buôn bán và mặc cả đã ngừng bặt. Sự im lặng trở nên ngột ngạt. Một cảm giác kính sợ chế ngự cả đoàn người. Như thể họ bị đem ra trước tòa án của Đức Chúa Trời để trả lời cho những việc làm của mình. Nhìn xem Đấng Christ, họ thấy thần tánh lóe sáng xuyên qua chiếc áo của nhân tánh. Đấng Uy Nghi của thiên đàng đứng như Đấng Phán Xét sẽ đứng vào ngày sau rốt—giờ đây không được bao quanh bởi sự vinh hiển sẽ tháp tùng Ngài lúc ấy, nhưng với cùng một quyền năng để đọc thấu linh hồn. Mắt Ngài quét qua đám đông, thâu vào từng cá nhân. Vóc dáng của Ngài dường như vươn cao trên họ trong sự uy nghiêm đầy quyền uy, và một ánh sáng thiêng liêng chiếu rọi gương mặt Ngài. Ngài phán, và giọng nói trong trẻo, vang dội của Ngài—cùng một giọng đã công bố luật pháp trên núi Si-na-i mà các thầy tế lễ và quan trưởng đang vi phạm—được nghe vang vọng qua các vòm cuốn của đền thờ: “Hãy cất bỏ những vật nầy đi; đừng làm cho nhà Cha ta thành ra nhà buôn bán.” DA 158.1
Chầm chậm bước xuống các bậc thềm, và giơ cao chiếc roi bằng dây mà Ngài đã thu lại khi vào khuôn viên, Ngài truyền cho đám người buôn bán phải rời khỏi khu vực đền thờ. Với một lòng sốt sắng và sự nghiêm khắc mà trước đây Ngài chưa từng tỏ ra, Ngài lật đổ bàn của những kẻ đổi bạc. Tiền rơi xuống, vang lên những tiếng leng keng chát chúa trên nền lát đá hoa. Không ai dám nghi ngờ thẩm quyền của Ngài. Không ai dám dừng lại để gom nhặt món lợi bất chính của mình. Đức Chúa Giê-su không đánh họ bằng chiếc roi dây, nhưng trong tay Ngài chiếc roi đơn sơ ấy dường như đáng sợ như một thanh gươm rực lửa. Các viên chức của đền thờ, các thầy tế lễ trục lợi, những kẻ đổi tiền và các con buôn gia súc, cùng với chiên và bò của họ, đều vội vã chạy khỏi nơi đó, với một ý nghĩ duy nhất là trốn thoát khỏi sự lên án trong sự hiện diện của Ngài. DA 158.2
Một cơn hoảng loạn lan khắp đám đông, là những người cảm nhận được sự bao trùm của thần tính Ngài. Những tiếng kêu khiếp sợ thoát ra từ hàng trăm đôi môi tái nhợt. Ngay cả các môn đồ cũng run rẩy. Họ kinh hãi trước lời nói và phong thái của Đức Chúa Giê-su, khác hẳn với dáng vẻ thường ngày của Ngài. Họ nhớ lại điều đã được chép về Ngài,
“Vì sự sốt sắng về đền Chúa tiêu nuốt tôi, Sự sỉ nhục của kẻ sỉ nhục Chúa đã đổ trên tôi.” (Thi-thiên 69:9)
Chẳng bao lâu đám đông náo loạn cùng với hàng hóa của họ đã ở rất xa đền thờ của Chúa. Các hành lang đã sạch khỏi sự buôn bán ô uế, và một sự yên tĩnh sâu lắng cùng vẻ trang nghiêm bao phủ cảnh tượng hỗn loạn ấy. Sự hiện diện của Chúa, là điều xưa kia đã thánh hóa ngọn núi, giờ đây đã làm nên thánh đền thờ được dựng lên để tôn vinh Ngài. DA 158.3
Trong việc thanh tẩy đền thờ, Đức Chúa Giê-su đang công bố sứ mệnh của Ngài với tư cách là Đấng Mê-si, và bắt đầu công việc của Ngài. Đền thờ ấy, được dựng lên làm nơi ngự của sự hiện diện thiêng liêng, vốn được thiết kế để làm một bài học thực vật cho dân Y-sơ-ra-ên và cho thế gian. Từ các thời đại đời đời, ấy là mục đích của Đức Chúa Trời rằng mỗi tạo vật, từ chê-ru-bim sáng láng và thánh khiết cho đến loài người, đều phải là một đền thờ cho Đấng Tạo Hóa ngự vào. Vì tội lỗi, nhân loại không còn là một đền thờ cho Đức Chúa Trời nữa. Bị tăm tối và ô uế bởi điều ác, lòng người không còn phản chiếu sự vinh hiển của Đấng Thiêng Liêng. Nhưng nhờ sự nhập thể của Con Đức Chúa Trời, mục đích của Thiên đàng được hoàn thành. Đức Chúa Trời ngự trong nhân loại, và qua ân điển cứu rỗi, lòng người lại trở nên đền thờ của Ngài. Đức Chúa Trời định cho đền thờ tại Giê-ru-sa-lem làm một chứng cớ liên tục về số phận cao cả mở ra cho mọi linh hồn. Nhưng người Do Thái đã không hiểu được ý nghĩa của tòa nhà mà họ vô cùng tự hào. Họ đã không dâng mình làm những đền thờ thánh cho Đức Thánh Linh. Các hành lang của đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, đầy dẫy sự huyên náo của việc buôn bán ô uế, biểu trưng quá đúng cho đền thờ của tấm lòng, bị làm ô uế bởi sự hiện diện của dục vọng xác thịt và những tư tưởng bất khiết. Khi thanh tẩy đền thờ khỏi những kẻ mua bán của thế gian, Đức Chúa Giê-su công bố sứ mệnh của Ngài là thanh tẩy tấm lòng khỏi sự ô uế của tội lỗi—khỏi những ham muốn trần tục, những dục vọng ích kỷ, những thói quen xấu xa làm hư hỏng linh hồn.
“Nầy, ta sai sứ giả ta, người sẽ dọn đường trước mặt ta; và Chúa mà các ngươi tìm kiếm sẽ thình lình vào trong đền thờ Ngài, tức là thiên sứ của sự giao ước mà các ngươi trông mong. Nầy, Ngài đến, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy. Nhưng ai sẽ đương nổi ngày Ngài đến, và ai đứng được khi Ngài hiện ra? Vì Ngài giống như lửa của thợ luyện, như tro thợ giặt. Ngài sẽ ngồi như kẻ luyện bạc và làm cho sạch; Ngài sẽ chùi các con trai Lê-vi, làm cho chúng nó sạch như vàng và bạc; chúng nó sẽ dâng của lễ cho Đức Giê-hô-va trong sự công bình.” (Ma-la-chi 3:1-3)
DA 161.1
“Anh em há chẳng biết mình là đền thờ của Đức Chúa Trời, và Thánh Linh Đức Chúa Trời ở trong anh em sao? Ví có ai phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời sẽ phá hủy họ; vì đền thờ của Đức Chúa Trời là thánh, mà chính anh em là đền thờ.” (I Cô-rinh-tô 3:16,17)
Không ai tự mình có thể đuổi ra đám đông gian ác đã chiếm hữu tấm lòng. Chỉ một mình Đấng Christ mới có thể thanh tẩy đền thờ của linh hồn. Nhưng Ngài sẽ không ép buộc để vào. Ngài không vào lòng người như vào đền thờ thuở xưa; nhưng Ngài phán,
“Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta.” (Khải-huyền 3:20)
Ngài sẽ đến, không phải chỉ trong một ngày mà thôi; vì Ngài phán, “Ta sẽ ở trong họ và đi lại giữa họ;… họ sẽ làm dân ta.” “Ngài sẽ chế ngự những gian ác của chúng ta; và Ngài sẽ ném mọi tội lỗi chúng nó xuống đáy biển.”
“Có thể nào hiệp đền thờ Đức Chúa Trời lại với hình tượng tà thần? Vì chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời hằng sống, như Đức Chúa Trời đã phán rằng: Ta sẽ ở và đi lại giữa họ; ta sẽ làm Đức Chúa Trời của họ, và họ làm dân ta.” (II Cô-rinh-tô 6:16)
“Ngài sẽ còn thương xót chúng tôi, dập sự gian ác chúng tôi dưới chân Ngài; và ném hết thảy tội lỗi chúng nó xuống đáy biển.” (Mi-chê 7:19)
Sự hiện diện của Ngài sẽ thanh tẩy và thánh hóa linh hồn, để nó có thể trở nên một đền thờ thánh cho Chúa, và “làm nơi ngự của Đức Chúa Trời bởi Đức Thánh Linh.”
“cả cái nhà đã dựng lên trên đá đó, sắp đặt cách hẳn hoi, để làm nên một đền thờ thánh trong Chúa. Ấy, anh em cũng nhờ Ngài mà được dự phần vào nhà đó, đặng trở nên nhà ở của Đức Chúa Trời trong Thánh Linh.” (Ê-phê-sô 2:21,22)
DA 161.2
Bị khiếp sợ áp đảo, các thầy tế lễ và các quan trưởng đã chạy trốn khỏi sân đền thờ, và khỏi ánh nhìn dò xét đọc thấu tấm lòng họ. Trong khi chạy trốn, họ gặp những người khác đang trên đường đến đền thờ, và bảo những người ấy quay trở lại, kể cho họ nghe những điều mình đã thấy và đã nghe. Đấng Christ nhìn những kẻ chạy trốn với lòng thương xót tha thiết cho nỗi sợ hãi của họ, và sự dốt nát của họ về điều cấu thành sự thờ phượng chân thật. Trong cảnh tượng này Ngài thấy được hình bóng của sự tản lạc của toàn thể dân tộc Do Thái vì sự gian ác và lòng không ăn năn của họ. DA 162.1
Và tại sao các thầy tế lễ lại chạy trốn khỏi đền thờ? Tại sao họ không đứng vững vị trí của mình? Đấng truyền cho họ ra đi là con trai một người thợ mộc, một người Ga-li-lê nghèo khó, không có địa vị hay quyền lực thế gian. Tại sao họ không chống cự lại Ngài? Tại sao họ lại bỏ lại món lợi vừa kiếm được một cách bất chính, và chạy trốn theo lệnh truyền của một Đấng mà vẻ ngoài thật khiêm hạ đến thế? DA 162.2
Đấng Christ phán với thẩm quyền của một vị vua, và trong dáng vẻ của Ngài, cũng như trong giọng nói của Ngài, có điều gì đó mà họ không có sức chống cự. Trước lời truyền lệnh ấy, họ nhận ra, như chưa bao giờ nhận ra trước đó, vị thế thật sự của mình là những kẻ giả hình và những tên cướp. Khi thần tính lóe sáng xuyên qua nhân tính, họ không chỉ thấy cơn phẫn nộ trên gương mặt Đấng Christ; họ còn nhận ra ý nghĩa của những lời Ngài phán. Họ cảm thấy như đang đứng trước ngai của Đấng Phán Xét đời đời, với bản án đã được tuyên cho họ trong thời gian và đời đời. Trong một lúc họ tin chắc rằng Đấng Christ là một tiên tri; và nhiều người tin Ngài là Đấng Mê-si. Đức Thánh Linh làm lóe lên trong tâm trí họ những lời các tiên tri đã nói về Đấng Christ. Liệu họ có chịu vâng phục sự tin chắc này không? DA 162.3
Họ không chịu ăn năn. Họ biết rằng lòng thương xót của Đấng Christ đối với người nghèo đã được khơi dậy. Họ biết rằng mình đã phạm tội bóc lột trong việc giao dịch với dân chúng. Vì Đấng Christ thấu rõ những tư tưởng của họ nên họ ghét Ngài. Lời quở trách công khai của Ngài làm bẽ mặt lòng kiêu hãnh của họ, và họ ganh tị với ảnh hưởng ngày càng lớn của Ngài đối với dân chúng. Họ quyết định chất vấn Ngài về quyền năng nào mà Ngài đã dùng để đuổi họ ra, và ai đã ban cho Ngài quyền năng này. DA 162.4
Chầm chậm và đăm chiêu, nhưng với lòng thù hận, họ trở lại đền thờ. Nhưng đã có một sự thay đổi lớn lao xảy ra trong khi họ vắng mặt! Khi họ chạy trốn, những người nghèo vẫn ở lại; và giờ đây những người này đang ngước nhìn Đức Chúa Giê-su, gương mặt Ngài bày tỏ tình yêu thương và lòng thương xót. Với nước mắt rưng rưng, Ngài phán cùng những người đang run rẩy quanh Ngài: Đừng sợ; Ta sẽ giải cứu ngươi, và ngươi sẽ làm vinh hiển Ta. Vì cớ này mà Ta đã đến trong thế gian. DA 162.5
Dân chúng chen lấn vào trước mặt Đấng Christ với những lời khẩn nài thiết tha, đáng thương: Lạy Thầy, xin ban phước cho con. Tai Ngài nghe thấu mọi tiếng kêu cầu. Với lòng thương xót vượt hơn cả một người mẹ dịu hiền, Ngài cúi xuống trên những đứa trẻ đau khổ. Tất cả đều được Ngài đoái xem. Mọi người đều được chữa lành khỏi bất cứ bệnh tật nào họ mắc phải. Người câm mở môi ngợi khen; người mù được nhìn thấy gương mặt của Đấng đã phục hồi mình. Tấm lòng của những người đau khổ tràn đầy vui mừng. DA 163.1
Khi các thầy tế lễ và các viên chức đền thờ chứng kiến công việc lớn lao này, những âm thanh lọt vào tai họ là một sự khải thị biết bao! Dân chúng đang kể lại câu chuyện về nỗi đau họ đã chịu đựng, về những hy vọng tan vỡ, về những ngày đau đớn và những đêm mất ngủ. Khi tia hy vọng cuối cùng dường như đã tắt, Đấng Christ đã chữa lành cho họ. Gánh nặng thật nặng nề, một người nói; nhưng tôi đã tìm được một Đấng giúp đỡ. Ngài là Đấng Christ của Đức Chúa Trời, và tôi sẽ dâng đời mình để phục vụ Ngài. Cha mẹ nói với con cái mình: Ngài đã cứu mạng sống con; hãy cất tiếng ngợi khen Ngài. Tiếng của trẻ thơ và thanh niên, của cha mẹ, của bạn hữu và những người chứng kiến, hòa quyện trong sự tạ ơn và ngợi khen. Hy vọng và niềm vui tràn ngập lòng họ. Sự bình an đến với tâm trí họ. Họ được phục hồi cả linh hồn lẫn thể xác, và họ trở về nhà, rao truyền khắp nơi tình yêu thương vô song của Đức Chúa Giê-su. DA 163.2
Tại sự đóng đinh của Đấng Christ, những người đã được chữa lành như vậy đã không hùa theo đám đông ô hợp mà kêu lên rằng: “Đóng đinh Ngài, đóng đinh Ngài.” Lòng cảm thương của họ hướng về Đức Chúa Giê-su; vì họ đã cảm nhận được lòng thương xót lớn lao và quyền năng diệu kỳ của Ngài. Họ biết Ngài là Đấng Cứu Thế của họ; vì Ngài đã ban cho họ sức khỏe cả thân thể lẫn linh hồn. Họ lắng nghe lời rao giảng của các sứ đồ, và Lời Đức Chúa Trời vào trong lòng họ đã ban cho họ sự thông sáng. Họ trở nên những công cụ của lòng thương xót của Đức Chúa Trời, và là phương tiện của sự cứu rỗi của Ngài. DA 163.3
Đám đông đã chạy trốn khỏi sân đền thờ sau một thời gian thì từ từ lảng vảng trở lại. Họ đã phần nào hồi phục khỏi cơn hoảng loạn đã chế ngự họ, nhưng gương mặt họ biểu lộ sự do dự và rụt rè. Họ kinh ngạc nhìn những việc làm của Đức Chúa Giê-su, và được cáo trách rằng nơi Ngài những lời tiên tri về Đấng Mê-si đã được ứng nghiệm. Tội làm ô uế đền thờ phần lớn đè nặng trên các thầy tế lễ. Chính do sự sắp đặt của họ mà sân đền thờ đã biến thành nơi buôn bán. Dân chúng tương đối vô tội. Họ bị cảm động bởi thẩm quyền thiêng liêng của Đức Chúa Giê-su; nhưng đối với họ, ảnh hưởng của các thầy tế lễ và các nhà cầm quyền là tối thượng. Họ xem sứ mạng của Đấng Christ là một sự đổi mới, và nghi ngờ quyền của Ngài can thiệp vào điều đã được các nhà chức trách của đền thờ cho phép. Họ phật ý vì việc buôn bán đã bị gián đoạn, và họ dập tắt sự cáo trách của Đức Thánh Linh. DA 163.4
Trên hết mọi người, các thầy tế lễ và các nhà cầm quyền lẽ ra phải nhận thấy nơi Đức Chúa Giê-su là Đấng được Chúa xức dầu; vì trong tay họ giữ những cuộn sách thánh mô tả sứ mạng của Ngài, và họ biết rằng sự tẩy sạch đền thờ là một sự biểu lộ của quyền năng hơn cả con người. Dù họ ghét Đức Chúa Giê-su biết bao, họ vẫn không thể thoát khỏi ý nghĩ rằng có lẽ Ngài là một tiên tri được Đức Chúa Trời sai đến để phục hồi sự thánh khiết của đền thờ. Với một sự kính nể nảy sinh từ nỗi sợ hãi này, họ đến với Ngài và hỏi rằng: “Thầy làm như vậy thì cho chúng tôi xem thấy phép lạ chi?” DA 164.1
Đức Chúa Giê-su đã tỏ cho họ một dấu lạ. Trong việc chiếu ánh sáng vào lòng họ, và trong việc làm trước mặt họ những công việc mà Đấng Mê-si phải làm, Ngài đã ban cho bằng chứng thuyết phục về bản tính của Ngài. Bấy giờ, khi họ xin một dấu lạ, Ngài trả lời họ bằng một thí dụ, cho thấy rằng Ngài đọc thấu sự hiểm độc của họ, và thấy nó sẽ dẫn họ đi xa đến mức nào. Ngài phán: “Hãy phá đền thờ này đi, trong ba ngày ta sẽ dựng lại.” DA 164.2
Trong những lời này, ý nghĩa của Ngài có hai mặt. Ngài không chỉ nói đến sự hủy diệt đền thờ và việc thờ phượng của người Do Thái, mà còn nói đến cái chết của chính Ngài—sự hủy diệt đền thờ là thân thể Ngài. Điều này người Do Thái đã đang âm mưu. Khi các thầy tế lễ và các nhà cầm quyền trở lại đền thờ, họ đã định giết Đức Chúa Giê-su, và như vậy loại bỏ kẻ gây rối khỏi mình. Tuy nhiên, khi Ngài đặt trước mặt họ mưu định của họ, họ không hiểu Ngài. Họ hiểu lời Ngài như chỉ áp dụng cho đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, và với lòng phẫn nộ họ kêu lên: “Người ta xây đền thờ này mất bốn mươi sáu năm, mà thầy thì sẽ dựng lại trong ba ngày sao?” Bấy giờ họ cảm thấy rằng Đức Chúa Giê-su đã biện minh cho sự vô tín của họ, và họ càng vững vàng hơn trong việc chối bỏ Ngài. DA 164.3
Đấng Christ không có ý cho lời Ngài được người Do Thái vô tín hiểu, hay thậm chí các môn đồ Ngài hiểu vào lúc này. Ngài biết rằng những lời ấy sẽ bị kẻ thù của Ngài hiểu sai, và sẽ bị dùng để chống lại Ngài. Tại phiên tòa xét xử Ngài, những lời ấy sẽ được đưa ra như một lời buộc tội, và trên đồi Gô-gô-tha, chúng sẽ bị ném vào Ngài như một lời nhạo báng. Nhưng giải thích chúng lúc này sẽ cho các môn đồ biết về sự thương khó của Ngài, và đem đến cho họ nỗi buồn mà họ chưa thể chịu nổi. Và một lời giải thích sẽ tiết lộ quá sớm cho người Do Thái hậu quả của thành kiến và sự vô tín của họ. Họ đã bước vào con đường mà họ sẽ kiên trì theo đuổi cho đến khi Ngài bị dẫn đi như chiên con đến chỗ làm thịt. DA 164.4
Chính vì những người sẽ tin nơi Ngài mà những lời này của Đấng Christ được phán ra. Ngài biết rằng chúng sẽ được nhắc lại. Vì được phán ra trong lễ Vượt Qua, chúng sẽ đến tai hàng ngàn người, và được đem đi khắp mọi nơi trên thế giới. Sau khi Ngài đã sống lại từ kẻ chết, ý nghĩa của chúng sẽ được làm sáng tỏ. Đối với nhiều người, chúng sẽ là bằng chứng thuyết phục về thần tính của Ngài. DA 165.1
Vì sự tối tăm thuộc linh của họ, ngay cả các môn đồ của Đức Chúa Giê-su cũng thường không lãnh hội được những bài học của Ngài. Nhưng nhiều bài học trong số đó đã được làm sáng tỏ cho họ bởi những sự kiện về sau. Khi Ngài không còn bước đi với họ nữa, lời Ngài là chỗ nương tựa cho lòng họ. DA 165.2
Khi nói đến đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, những lời của Đấng Cứu Thế, “Hãy phá đền thờ này đi, trong ba ngày ta sẽ dựng lại,” mang một ý nghĩa sâu xa hơn điều người nghe nhận thấy. Đấng Christ là nền móng và sự sống của đền thờ. Các nghi lễ của nó là hình bóng về sự hy sinh của Con Đức Chúa Trời. Chức thầy tế lễ được lập ra để tiêu biểu cho bản tính và công việc trung bảo của Đấng Christ. Toàn bộ kế hoạch thờ phượng bằng sinh tế là một hình bóng báo trước cái chết của Đấng Cứu Thế để cứu chuộc thế gian. Sẽ không còn hiệu lực nào trong những của lễ này khi sự kiện trọng đại mà chúng đã hướng đến trải qua bao thời đại được hoàn thành. DA 165.3
Vì toàn bộ hệ thống nghi lễ là biểu tượng về Đấng Christ, nó không có giá trị nào tách rời khỏi Ngài. Khi người Do Thái đóng ấn sự chối bỏ Đấng Christ bằng cách nộp Ngài cho sự chết, họ đã chối bỏ tất cả những gì đem lại ý nghĩa cho đền thờ và các nghi lễ của nó. Sự thánh khiết của nó đã ra đi. Nó bị định cho sự hủy diệt. Từ ngày đó, các của lễ sinh tế và việc thờ phượng liên hệ đến chúng trở nên vô nghĩa. Giống như của lễ của Ca-in, chúng không biểu lộ đức tin nơi Đấng Cứu Thế. Trong việc giết Đấng Christ, người Do Thái thực sự đã phá hủy đền thờ của họ. Khi Đấng Christ bị đóng đinh, bức màn bên trong của đền thờ bị xé làm hai từ trên xuống dưới, biểu thị rằng của lễ hy sinh cuối cùng trọng đại đã được dâng lên, và hệ thống của lễ sinh tế đã chấm dứt đời đời. DA 165.4
“Trong ba ngày ta sẽ dựng lại.” Trong cái chết của Đấng Cứu Thế, các quyền lực của sự tối tăm dường như đã thắng thế, và chúng hân hoan trong chiến thắng của mình. Nhưng từ ngôi mộ trống của Giô-sép, Đức Chúa Giê-su đã bước ra như một đấng chiến thắng.
“Ngài đã truất bỏ các quyền cai trị cùng các thế lực, dùng thập tự giá chiến thắng chúng nó, và nộp ra tỏ tường giữa thiên hạ.” (Cô-lô-se 2:15)
Nhờ cái chết và sự sống lại của Ngài, Ngài đã trở nên thầy tế lễ của “đền tạm thật, bởi Chúa dựng lên, không phải bởi một người nào.”
“làm chức việc nơi thánh và đền tạm thật, bởi Chúa dựng lên, không phải bởi một người nào.” (Hê-bơ-rơ 8:2)
Loài người đã dựng nên đền tạm Do Thái; loài người đã xây đền thờ Do Thái; nhưng đền thánh ở trên trời, mà đền thờ dưới đất là hình bóng, không do kiến trúc sư loài người nào xây dựng.
“Ngươi khá nói cùng người rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân có phán như vầy: Nầy, có một người tên là Chồi mống, sẽ nứt ra từ chỗ người, và người ấy sẽ xây đền thờ Đức Giê-hô-va. Chính người sẽ xây đền thờ Đức Giê-hô-va; và chính người sẽ được sự oai nghiêm, ngồi cai trị trên ngôi mình, làm thầy tế lễ ở trên ngôi mình; và sẽ có mưu hòa bình ở giữa cả hai.” (Xa-cha-ri 6:12,13)
DA 165.5
Việc thờ phượng bằng sinh tế đã hướng về Đấng Christ qua đi; nhưng mắt loài người được hướng về của lễ hy sinh thật cho tội lỗi của thế gian. Chức thầy tế lễ dưới đất chấm dứt; nhưng chúng ta hướng về Đức Chúa Giê-su, thầy tế lễ của giao ước mới, và “về huyết rưới ra, huyết đó nói tốt hơn huyết của A-bên vậy.” “Đang khi đền tạm thứ nhất chưa mất đi, thì Đức Thánh Linh chỉ tỏ ra chưa có con đường nào vào nơi chí thánh:… Nhưng Đấng Christ đã hiện đến, làm thầy tế lễ thượng phẩm của những sự tốt lành sau này, thì Ngài đã vượt qua đền tạm lớn hơn và trọn vẹn hơn, không phải tay người dựng ra,… Ngài đã vào nơi rất thánh một lần thì đủ hết, không dùng huyết của dê đực và của bò con, nhưng dùng chính huyết mình, mà được sự chuộc tội đời đời cho chúng ta.”
“gần Đức Chúa Giê-su, là Đấng trung bảo của giao ước mới, và gần huyết rưới ra, huyết đó nói tốt hơn huyết của A-bên vậy.” (Hê-bơ-rơ 12:24)
“Đức Thánh Linh lấy đó chỉ ra rằng hễ đền tạm thứ nhứt đương còn, thì đường vào nơi rất thánh chưa mở. Ấy là một hình bóng chỉ về đời bây giờ, để tỏ rằng các lễ vật và hi sinh dâng đó, không có thể làm cho kẻ thờ phượng được vẹn lành về lương tâm. Đó chẳng qua là mạng lịnh của xác thịt, cũng như các lễ ăn, uống, rửa sạch, chỉ lập cho đến kỳ hoán cải vậy. Nhưng Đấng Cơ-đốc đã hiện đến, làm thầy tế lễ thượng phẩm của những sự tốt lành sau này; Ngài đã vượt qua đền tạm lớn hơn và trọn vẹn hơn, không phải tay người dựng ra, nghĩa là không thuộc về đời này; Ngài đã vào nơi rất thánh một lần thì đủ hết, không dùng huyết của dê đực và của bò con, nhưng dùng chính huyết mình, mà được sự chuộc tội đời đời.” (Hê-bơ-rơ 9:8-12)
DA 166.1
“Bởi đó Ngài có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy.”
“Bởi đó Ngài có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy.” (Hê-bơ-rơ 7:25)
Dù sự phục vụ sẽ được dời từ đền thờ dưới đất lên đền thờ trên trời; dù đền thánh và thầy tế lễ thượng phẩm lớn của chúng ta sẽ không thấy được bằng mắt loài người, song các môn đồ sẽ không chịu mất mát gì bởi điều đó. Họ sẽ không nhận thấy sự gián đoạn nào trong mối tương giao của họ, và không có sự suy giảm quyền năng nào vì sự vắng mặt của Đấng Cứu Thế. Trong khi Đức Chúa Giê-su thi hành chức vụ trong đền thánh ở trên trời, bởi Thánh Linh của Ngài, Ngài vẫn là thầy tế lễ của Hội Thánh dưới đất. Ngài bị rút khỏi tầm mắt giác quan, nhưng lời hứa lúc chia tay của Ngài được ứng nghiệm: “Nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.”
“và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và này, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.” (Ma-thi-ơ 28:20)
Trong khi Ngài ủy thác quyền năng của Ngài cho những thầy tế lễ thấp kém hơn, sự hiện diện ban thêm sức lực của Ngài vẫn ở cùng Hội Thánh Ngài. DA 166.2
“Ấy vậy, vì chúng ta có thầy tế lễ thượng phẩm lớn đã trải qua các từng trời, tức là Đức Chúa Giê-su, Con Đức Chúa Trời, thì hãy bền giữ đạo chúng ta đã nhận tin. Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội. Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng.” (Hê-bơ-rơ 4:14-16)
DA 166.3