Tại Tiệc Cưới

Chương này dựa trên Giăng 2:1-11. DA 144.1

Đức Chúa Giê-su không khởi đầu chức vụ của Ngài bằng một công việc lớn lao nào trước Tòa Công Luận tại Giê-ru-sa-lem. Tại một buổi họp mặt gia đình trong một ngôi làng nhỏ ở Ga-li-lê, quyền năng của Ngài được tỏ ra để thêm vào niềm vui của một tiệc cưới. Như vậy, Ngài bày tỏ lòng cảm thông của Ngài đối với loài người, và lòng mong muốn phục vụ cho hạnh phúc của họ. Trong đồng vắng của sự cám dỗ, chính Ngài đã uống chén đắng cay. Ngài bước ra để ban cho loài người chén phước hạnh, để bằng sự ban phước của Ngài mà thánh hóa các mối quan hệ của đời sống con người. DA 144.2

Từ sông Giô-đanh, Đức Chúa Giê-su đã trở về Ga-li-lê. Có một đám cưới tại Ca-na, một thị trấn nhỏ không xa Na-xa-rét; những người trong cuộc là bà con của Giô-sép và Ma-ri; và Đức Chúa Giê-su, biết về buổi họp mặt gia đình này, đã đi đến Ca-na, và cùng với các môn đồ của Ngài được mời dự tiệc. DA 144.3

Một lần nữa, Ngài gặp lại mẹ mình, người mà Ngài đã xa cách một thời gian. Ma-ri đã nghe về sự hiển lộ tại sông Giô-đanh, lúc Ngài chịu phép báp-têm. Tin tức đã được đem đến Na-xa-rét, và đã làm sống lại trong tâm trí bà những cảnh tượng mà bấy lâu nay đã ẩn giấu trong lòng bà. Cùng với cả dân Y-sơ-ra-ên, Ma-ri được cảm động sâu xa bởi sứ mạng của Giăng Báp-tít. Bà nhớ rõ lời tiên tri đã được ban ra khi ông sinh ra. Nay mối liên hệ của ông với Đức Chúa Giê-su lại nhen nhóm hy vọng của bà. Nhưng tin tức cũng đã đến với bà về sự ra đi đầy bí ẩn của Đức Chúa Giê-su vào đồng vắng, và bà bị đè nặng bởi những điềm báo đầy lo âu. DA 144.4

Từ ngày bà nghe lời thiên sứ loan báo trong nhà tại Na-xa-rét, Ma-ri đã trân quý mỗi bằng chứng rằng Đức Chúa Giê-su là Đấng Mê-si. Đời sống ngọt ngào, vị tha của Ngài bảo đảm với bà rằng Ngài không thể là ai khác ngoài Đấng được Đức Chúa Trời sai đến. Tuy vậy, cũng đến với bà những nghi ngờ và thất vọng, và bà đã mong mỏi thời điểm mà vinh quang của Ngài sẽ được tỏ ra. Sự chết đã chia cách bà với Giô-sép, người đã cùng bà chia sẻ sự hiểu biết về điều bí ẩn của sự ra đời của Đức Chúa Giê-su. Nay không còn ai để bà có thể giãi bày những hy vọng và lo sợ của mình. Hai tháng vừa qua đã rất buồn bã. Bà đã bị chia cách với Đức Chúa Giê-su, là Đấng mà trong lòng cảm thông của Ngài bà tìm được sự an ủi; bà suy ngẫm về lời của Si-mê-ôn,

“còn phần ngươi, có một thanh gươm sẽ đâm thấu qua lòng ngươi. Ấy vậy tư tưởng trong lòng nhiều người sẽ được bày tỏ.” (Lu-ca 2:35)

bà nhớ lại ba ngày đau đớn khi bà tưởng đã mất Đức Chúa Giê-su mãi mãi; và với tấm lòng lo lắng, bà chờ đợi Ngài trở về. DA 145.1

Tại tiệc cưới, bà gặp Ngài, vẫn là người con dịu dàng, hiếu thảo ấy. Nhưng Ngài không còn như xưa. Diện mạo của Ngài đã đổi khác. Nó mang dấu vết của cuộc tranh chiến của Ngài trong đồng vắng, và một biểu hiện mới của sự uy nghi và quyền năng làm chứng cho sứ mạng thiên thượng của Ngài. Cùng với Ngài là một nhóm thanh niên, mà ánh mắt họ dõi theo Ngài với lòng tôn kính, và họ gọi Ngài là Thầy. Những người đồng hành này kể lại cho Ma-ri những điều họ đã thấy và nghe lúc Ngài chịu phép báp-têm và ở những nơi khác. Họ kết luận bằng lời tuyên bố,

“Phi-líp gặp Na-tha-na-ên, nói với người rằng: Chúng ta đã gặp Đấng mà Môi-se có chép trong luật pháp, và các đấng tiên tri cũng có nói đến; ấy là Đức Chúa Giê-su ở Na-xa-rét, con của Giô-sép.” (Giăng 1:45)

DA 145.2

Khi các khách mời tụ họp, nhiều người dường như đang bận tâm với một đề tài đầy thu hút. Một sự phấn khích bị kìm nén lan tỏa khắp đám đông. Những nhóm nhỏ trò chuyện với nhau bằng giọng háo hức nhưng nhỏ nhẹ, và những ánh mắt kinh ngạc đổ dồn về Con của Ma-ri. Khi Ma-ri nghe lời chứng của các môn đồ về Đức Chúa Giê-su, bà đã vui mừng với sự bảo đảm rằng những hy vọng mà bà ấp ủ bấy lâu không phải là vô ích. Tuy nhiên, bà ắt hẳn không còn là con người nếu trong niềm vui thánh khiết này không pha lẫn một chút niềm tự hào tự nhiên của người mẹ yêu con. Khi bà thấy nhiều ánh mắt đổ dồn về Đức Chúa Giê-su, bà mong mỏi Ngài chứng tỏ cho đám đông rằng Ngài thật sự là Đấng được Đức Chúa Trời tôn trọng. Bà hy vọng có thể có cơ hội để Ngài làm một phép lạ trước mặt họ. DA 145.3

Theo phong tục thời ấy, lễ cưới thường kéo dài nhiều ngày. Trong dịp này, trước khi tiệc kết thúc, người ta thấy rằng rượu đã hết. Sự phát hiện này gây nên nhiều bối rối và tiếc nuối. Việc thiếu rượu trong những dịp tiệc tùng là điều bất thường, và sự thiếu vắng nó dường như cho thấy sự thiếu lòng hiếu khách. Là bà con của những người trong cuộc, Ma-ri đã phụ giúp việc sắp đặt cho tiệc cưới, và bây giờ bà nói với Đức Chúa Giê-su rằng, “Người ta không có rượu nữa.” Những lời này là một gợi ý rằng Ngài có thể cung cấp cho nhu cầu của họ. Nhưng Đức Chúa Giê-su đáp, “Hỡi đàn bà kia, ta với ngươi có sự gì chăng? Giờ ta chưa đến.” DA 145.4

Lời đáp này, dù đối với chúng ta nghe có vẻ đột ngột, nhưng không hề bày tỏ sự lạnh nhạt hay thiếu lễ độ. Cách Đấng Cứu Thế xưng hô với mẹ Ngài là theo phong tục phương Đông. Nó được dùng đối với những người mà người ta muốn tỏ lòng kính trọng. Mọi hành động trong đời sống trần thế của Đấng Christ đều hòa hợp với mệnh lệnh chính Ngài đã ban ra,

“Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi, hầu cho ngươi được sống lâu trên đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:12)

Trên thập tự giá, trong hành động dịu dàng cuối cùng đối với mẹ Ngài, Đức Chúa Giê-su lại xưng hô với bà bằng cách ấy, khi Ngài giao phó bà cho sự chăm sóc của môn đồ Ngài yêu dấu nhất. Cả tại tiệc cưới lẫn trên thập tự giá, tình yêu được bày tỏ trong giọng nói, ánh mắt và cử chỉ đã giải nghĩa lời của Ngài. DA 146.1

Tại lần Ngài viếng đền thờ trong thuở thiếu thời, khi điều bí ẩn về công việc cuộc đời Ngài hé mở ra trước Ngài, Đấng Christ đã nói với Ma-ri,

“Ngài thưa rằng: Cha mẹ kiếm tôi làm chi? Há chẳng biết tôi phải lo việc Cha tôi sao?” (Lu-ca 2:49)

Những lời này đặt nền tảng cho toàn bộ cuộc đời và chức vụ của Ngài. Mọi sự đều được gác lại để nhường chỗ cho công việc của Ngài, công việc cứu chuộc vĩ đại mà Ngài đã đến thế gian để hoàn thành. Nay Ngài lặp lại bài học ấy. Có nguy cơ rằng Ma-ri sẽ xem mối quan hệ của bà với Đức Chúa Giê-su như đem lại cho bà một quyền đặc biệt trên Ngài, và quyền, ở một mức độ nào đó, để hướng dẫn Ngài trong sứ mạng của Ngài. Trong ba mươi năm, Ngài đã là một người con yêu thương và vâng lời đối với bà, và tình yêu của Ngài không hề thay đổi; nhưng nay Ngài phải lo làm công việc của Cha Ngài. Là Con của Đấng Chí Cao, và là Đấng Cứu Thế của thế gian, không một ràng buộc trần thế nào được giữ Ngài khỏi sứ mạng của Ngài, hay ảnh hưởng đến cách cư xử của Ngài. Ngài phải đứng tự do để làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Bài học này cũng dành cho chúng ta. Những đòi hỏi của Đức Chúa Trời còn cao trọng hơn cả các mối ràng buộc của quan hệ con người. Không một sự lôi cuốn trần thế nào được làm chân chúng ta lệch khỏi con đường mà Ngài truyền cho chúng ta bước đi. DA 146.2

Hy vọng cứu chuộc duy nhất cho dòng giống sa ngã của chúng ta là ở trong Đấng Christ; Ma-ri chỉ có thể tìm được sự cứu rỗi qua Chiên Con của Đức Chúa Trời. Trong chính mình, bà không có công đức nào. Mối liên hệ của bà với Đức Chúa Giê-su không đặt bà vào một quan hệ thuộc linh nào khác với Ngài so với bất kỳ linh hồn nào khác của loài người. Điều này được tỏ ra trong lời của Đấng Cứu Thế. Ngài làm rõ sự phân biệt giữa mối quan hệ của Ngài với bà trong tư cách Con Người và trong tư cách Con Đức Chúa Trời. Mối ràng buộc huyết thống giữa họ không hề đặt bà ngang hàng với Ngài. DA 147.1

Những lời “Giờ ta chưa đến” chỉ về sự thật rằng mọi hành động trong cuộc đời của Đấng Christ trên đất đều là sự ứng nghiệm của kế hoạch đã tồn tại từ những ngày đời đời. Trước khi Ngài đến thế gian, kế hoạch đã được vạch ra trước mặt Ngài, hoàn hảo trong mọi chi tiết. Nhưng khi Ngài đi lại giữa loài người, Ngài được hướng dẫn, từng bước một, bởi ý muốn của Đức Chúa Cha. Ngài không do dự hành động vào thời điểm đã định. Với cùng sự thuận phục ấy, Ngài chờ đợi cho đến khi thời điểm đã đến. DA 147.2

Khi nói với Ma-ri rằng giờ Ngài chưa đến, Đức Chúa Giê-su đang đáp lại ý nghĩ chưa nói thành lời của bà — đáp lại sự trông đợi mà bà ấp ủ chung với dân tộc mình. Bà hy vọng rằng Ngài sẽ tỏ mình ra là Đấng Mê-si, và lên ngôi của Y-sơ-ra-ên. Nhưng thời điểm chưa đến. Không phải như một Vị Vua, nhưng như “một người sầu khổ, từng trải sự ưu phiền,” Đức Chúa Giê-su đã chấp nhận thân phận của loài người. DA 147.3

Nhưng dầu Ma-ri không có một quan niệm đúng đắn về sứ mạng của Đấng Christ, bà vẫn hoàn toàn tin cậy Ngài. Đức Chúa Giê-su đáp lại đức tin này. Chính để tôn trọng lòng tin cậy của Ma-ri, và để củng cố đức tin của các môn đồ Ngài, mà phép lạ đầu tiên đã được thực hiện. Các môn đồ sẽ phải đối diện với nhiều cám dỗ lớn lao dẫn đến sự vô tín. Đối với họ, các lời tiên tri đã làm cho điều đó trở nên rõ ràng vượt mọi tranh cãi rằng Đức Chúa Giê-su là Đấng Mê-si. Họ trông mong các nhà lãnh đạo tôn giáo sẽ tiếp nhận Ngài với lòng tin tưởng còn lớn hơn cả của họ. Họ rao truyền giữa dân chúng những công việc kỳ diệu của Đấng Christ và lòng tin tưởng của chính họ vào sứ mạng của Ngài, nhưng họ đã sửng sốt và cay đắng thất vọng bởi sự vô tín, định kiến ăn sâu, và lòng thù nghịch đối với Đức Chúa Giê-su, được bày tỏ bởi các thầy tế lễ và các thầy thông giáo. Những phép lạ thuở ban đầu của Đấng Cứu Thế đã củng cố các môn đồ để đứng vững trước sự chống đối này. DA 147.4

Không hề bối rối trước những lời của Đức Chúa Giê-su, Ma-ri nói với những người phục vụ tại bàn tiệc rằng: “Người biểu chi, hãy vâng theo cả.” Như vậy bà đã làm những gì có thể để dọn đường cho công việc của Đấng Christ. DA 148.1

Cạnh cửa ra vào có sáu cái ché đá lớn đựng nước, và Đức Chúa Giê-su bảo các đầy tớ đổ nước vào đầy các ché ấy. Việc ấy đã được làm xong. Rồi khi cần rượu để dùng ngay, Ngài phán: “Bây giờ hãy múc đi, đem cho kẻ coi tiệc.” Thay vì nước mà các bình đã được đổ đầy, rượu đã chảy ra. Cả người coi tiệc lẫn các quan khách nói chung đều không hay biết rằng rượu đã hết. Khi nếm thứ mà các đầy tớ đem đến, người coi tiệc thấy nó ngon hơn bất cứ rượu nào mình từng uống trước đó, và rất khác với thứ rượu được dọn ra lúc đầu tiệc. Quay sang chàng rể, người nói: “Mọi người đều đãi rượu ngon trước, sau khi người ta uống nhiều rồi, thì kế đến rượu vừa vừa; còn ngươi, ngươi lại giữ rượu ngon đến bây giờ.” DA 148.2

Như loài người dọn rượu ngon ra trước, rồi sau đó mới đến thứ kém hơn, thì thế gian cũng làm như vậy với các tặng phẩm của nó. Những gì nó đem dâng có thể làm vui mắt và mê hoặc giác quan, nhưng rốt cuộc lại không làm thỏa lòng. Rượu hóa ra đắng, sự vui vẻ hóa thành u sầu. Điều khởi đầu bằng ca hát và hân hoan lại kết thúc bằng mỏi mệt và chán ngán. Nhưng các tặng phẩm của Đức Chúa Giê-su luôn tươi mới và mới mẻ. Bữa tiệc Ngài dọn cho linh hồn không bao giờ thất bại trong việc đem lại sự thỏa lòng và niềm vui. Mỗi tặng phẩm mới làm tăng thêm khả năng của người nhận để trân trọng và vui hưởng các phước lành của Chúa. Ngài ban ơn càng thêm ơn. Không thể nào có sự thiếu hụt nguồn cung cấp. Nếu bạn ở trong Ngài, thì việc bạn nhận được một tặng phẩm phong phú hôm nay bảo đảm cho việc bạn nhận được một tặng phẩm còn phong phú hơn vào ngày mai. Lời Đức Chúa Giê-su phán với Na-tha-na-ên bày tỏ quy luật trong cách Đức Chúa Trời đối đãi với con cái của đức tin. Với mỗi sự mặc khải mới mẻ về tình yêu của Ngài, Ngài tuyên phán với tấm lòng tiếp nhận:

“Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Vì ta đã phán cùng ngươi rằng ta thấy ngươi dưới cây vả, thì ngươi tin; ngươi sẽ thấy việc lớn hơn điều đó!” (Giăng 1:50)

DA 148.3

Tặng phẩm của Đấng Christ tại tiệc cưới là một biểu tượng. Nước tượng trưng cho phép báp-têm vào trong sự chết của Ngài; rượu tượng trưng cho sự đổ huyết Ngài vì tội lỗi của thế gian. Nước để đổ đầy các ché được mang đến bởi tay con người, nhưng chỉ duy lời của Đấng Christ mới có thể ban cho nó năng lực ban sự sống. Các nghi lễ chỉ về sự chết của Đấng Cứu Thế cũng vậy. Chỉ bởi quyền năng của Đấng Christ, vận hành qua đức tin, mà chúng mới có hiệu lực nuôi dưỡng linh hồn. DA 148.4

Lời của Đấng Christ đã cung cấp dư dật cho bữa tiệc. Ân điển của Ngài cũng dư dật như vậy để xóa bỏ những điều gian ác của loài người, và để đổi mới và nâng đỡ linh hồn. DA 149.1

Tại bữa tiệc đầu tiên Ngài dự cùng các môn đồ, Đức Chúa Giê-su đã trao cho họ chén tượng trưng cho công việc của Ngài vì sự cứu rỗi của họ. Trong bữa tiệc cuối cùng, Ngài lại trao chén ấy, khi lập nên nghi lễ thánh mà qua đó sự chết của Ngài được rao truyền “cho tới lúc Ngài đến.”

“Ấy vậy, mỗi lần anh em ăn bánh này, uống chén này, thì rao sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến.” (I Cô-rinh-tô 11:26)

Và nỗi buồn của các môn đồ khi phải chia tay Chúa mình đã được an ủi bằng lời hứa về sự tái hợp, khi Ngài phán: “Từ rày về sau, ta không uống trái nho nầy nữa, cho đến ngày mà ta sẽ uống trái nho mới cùng các ngươi ở trong nước của Cha ta.”

“Ta phán cùng các ngươi, từ rày về sau, ta không uống trái nho này nữa, cho đến ngày mà ta sẽ uống trái nho mới cùng các ngươi ở trong nước của Cha ta.” (Ma-thi-ơ 26:29)

DA 149.2

Rượu mà Đấng Christ đã cung cấp cho bữa tiệc, và rượu Ngài trao cho các môn đồ như một biểu tượng cho chính huyết Ngài, chính là nước nho nguyên chất. Tiên tri Ê-sai đã nhắc đến điều này khi ông nói về rượu mới “trong chùm,” và phán: “Đừng làm hư đi, vì trong trái đó có phước lành.”

“Đức Giê-hô-va phán như vầy: Khi người ta thấy rượu mới trong chùm nho, thì rằng: Đừng làm hư đi, vì trong trái đó có phước lành; ta cũng sẽ làm như vậy vì cớ các tôi tớ ta, hầu cho ta không hủy diệt cả.” (Ê-sai 65:8)

DA 149.3

Chính Đấng Christ là Đấng trong Cựu Ước đã ban lời cảnh cáo cho Y-sơ-ra-ên: “Rượu khiến người ta nhạo báng, đồ uống say làm cho hỗn hào; phàm ai dùng nó quá độ, chẳng phải là khôn ngoan.”

“Rượu khiến người ta nhạo báng, đồ uống say làm cho hỗn hào; Phàm ai dùng nó quá độ, chẳng phải là khôn ngoan.” (Châm-ngôn 20:1)

Và chính Ngài không hề cung cấp thứ đồ uống như vậy. Sa-tan cám dỗ loài người buông mình theo những điều sẽ làm mờ tối lý trí và làm tê liệt nhận thức thuộc linh, nhưng Đấng Christ dạy chúng ta đem bản tính thấp hèn vào sự phục tùng. Cả cuộc đời Ngài là tấm gương của sự tự chối mình. Để bẻ gãy quyền lực của sự thèm khát, Ngài đã chịu thay cho chúng ta thử thách khắc nghiệt nhất mà nhân tánh có thể chịu đựng. Chính Đấng Christ đã truyền rằng Giăng Báp-tít không được uống rượu hay đồ uống say. Chính Ngài đã răn bảo sự kiêng cữ tương tự cho vợ của Ma-nô-a. Và Ngài đã rủa sả người nào kề chai rượu vào môi kẻ lân cận mình. Đấng Christ không hề mâu thuẫn với lời dạy của chính Ngài. Rượu nho chưa lên men mà Ngài cung cấp cho quan khách dự tiệc cưới là một thức uống lành mạnh và bổ khỏe. Tác dụng của nó là đem khẩu vị vào sự hòa hợp với một sự thèm ăn lành mạnh. DA 149.4

Khi các quan khách dự tiệc bàn tán về phẩm chất của rượu, những câu hỏi được nêu ra khiến các đầy tớ thuật lại phép lạ ấy. Một lúc lâu, cả nhóm quá đỗi kinh ngạc đến nỗi không nghĩ đến Đấng đã thực hiện công việc kỳ diệu đó. Rốt cuộc khi họ tìm kiếm Ngài, thì thấy rằng Ngài đã lui đi cách lặng lẽ đến nỗi ngay cả các môn đồ Ngài cũng không hay biết. DA 149.5

Bây giờ sự chú ý của cả nhóm chuyển sang các môn đồ. Lần đầu tiên họ có cơ hội nhìn nhận đức tin của mình nơi Đức Chúa Giê-su. Họ kể lại những gì đã thấy và nghe tại sông Giô-đanh, và trong nhiều tấm lòng đã nhen lên hy vọng rằng Đức Chúa Trời đã dấy lên một đấng giải cứu cho dân Ngài. Tin tức về phép lạ lan khắp cả vùng đó, và được mang đến tận Giê-ru-sa-lem. Với sự quan tâm mới mẻ, các thầy tế lễ và các trưởng lão tra xét những lời tiên tri chỉ về sự đến của Đấng Christ. Có một ước muốn nồng nhiệt được biết về sứ mạng của vị thầy giáo mới này, người đã xuất hiện giữa dân chúng cách khiêm nhường như vậy. DA 150.1

Chức vụ của Đấng Christ tương phản rõ rệt với chức vụ của các trưởng lão Do Thái. Sự tôn sùng truyền thống và hình thức của họ đã hủy diệt mọi sự tự do thật trong tư tưởng hay hành động. Họ sống trong sự sợ hãi liên tục về việc bị ô uế. Để tránh tiếp xúc với những kẻ “ô uế,” họ giữ mình xa cách, không những với dân ngoại, mà còn với đa số dân tộc của chính mình, chẳng tìm cách làm ích cho họ cũng chẳng tìm cách chiếm được tình thân hữu của họ. Bởi cứ chăm chú mãi vào những vấn đề ấy, họ đã làm còi cọc tâm trí mình và thu hẹp quỹ đạo cuộc sống mình. Gương của họ khích lệ tánh tự cao và sự thiếu khoan dung giữa mọi tầng lớp dân chúng. DA 150.2

Đức Chúa Giê-su khởi đầu công cuộc cải cách bằng cách bước vào sự đồng cảm gần gũi với nhân loại. Trong khi Ngài bày tỏ lòng tôn kính cao cả nhất đối với luật pháp Đức Chúa Trời, Ngài quở trách sự sùng đạo giả hình của người Pha-ri-si, và tìm cách giải thoát dân chúng khỏi những quy tắc vô nghĩa đang trói buộc họ. Ngài tìm cách phá đổ những hàng rào ngăn cách các tầng lớp khác nhau trong xã hội, để Ngài có thể đem loài người lại với nhau như con cái của một gia đình. Việc Ngài dự tiệc cưới được dự định là một bước nhằm thực hiện điều này. DA 150.3

Đức Chúa Trời đã truyền cho Giăng Báp-tít ở trong đồng vắng, để ông được che chở khỏi ảnh hưởng của các thầy tế lễ và các thầy thông giáo, và được chuẩn bị cho một sứ mạng đặc biệt. Nhưng sự khắc khổ và biệt lập của đời sống ông không phải là tấm gương cho dân chúng. Chính Giăng cũng không bảo những người nghe ông từ bỏ các bổn phận trước đây của họ. Ông bảo họ tỏ ra bằng chứng về sự ăn năn của mình bằng cách trung tín với Đức Chúa Trời tại nơi Ngài đã kêu gọi họ. DA 150.4

Đức Chúa Giê-su quở trách sự buông mình theo dục vọng dưới mọi hình thức, nhưng bản tánh Ngài hòa đồng. Ngài tiếp nhận lòng hiếu khách của mọi tầng lớp, viếng thăm nhà của người giàu lẫn người nghèo, người học thức lẫn người dốt nát, và tìm cách nâng cao tư tưởng của họ từ những vấn đề tầm thường của đời sống lên đến những điều thuộc linh và đời đời. Ngài chẳng cho phép sự phóng đãng, và không một bóng dáng của sự nhẹ dạ thế tục nào làm vẩn đục hành vi của Ngài; nhưng Ngài tìm thấy niềm vui trong những cảnh hạnh phúc vô tội, và bởi sự hiện diện của Ngài, Ngài đã chuẩnhận buổi họp mặt xã hội. Một lễ cưới của người Do Thái là một dịp đầy ấn tượng, và niềm vui của nó không làm phật lòng Con Người. Bằng việc dự tiệc cưới này, Đức Chúa Giê-su đã tôn trọng hôn nhân như một định chế thiêng liêng. DA 150.5

Trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, mối quan hệ hôn nhân được dùng để tượng trưng cho sự kết hiệp dịu dàng và thiêng liêng tồn tại giữa Đấng Christ và dân Ngài. Đối với tâm trí của Đức Chúa Giê-su, niềm vui của các lễ cưới hướng về sự vui mừng của ngày mà Ngài sẽ đưa cô dâu của Ngài về nhà Đức Chúa Cha, và những người được cứu chuộc cùng với Đấng Cứu Chuộc sẽ ngồi vào tiệc cưới Chiên Con. Ngài phán:

“Như người trai tráng cưới người nữ đồng trinh, thì các con trai ngươi cũng sẽ cưới ngươi; chàng rể mới vui mừng vì vợ mới mình, Đức Chúa Trời ngươi cũng vui mừng vì ngươi. Người ta sẽ chẳng gọi ngươi là Kẻ bị bỏ nữa, chẳng gọi đất ngươi là Đất hoang vu nữa; nhưng sẽ gọi ngươi là Kẻ mà ta ưa thích; và đất ngươi sẽ được xưng là Kẻ có chồng; vì Đức Giê-hô-va sẽ ưa thích ngươi, và đất ngươi sẽ có chồng.” (Ê-sai 62:5,4)

“Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ở giữa ngươi; Ngài là Đấng quyền năng sẽ giải cứu ngươi: Ngài sẽ vui mừng cả thể vì cớ ngươi; vì lòng yêu thương mình, Ngài sẽ nín lặng; và vì cớ ngươi Ngài sẽ ca hát mừng rỡ.” (Sô-phô-ni 3:17)

Khi sứ đồ Giăng được ban cho khải tượng về những điều trên trời, ông viết:

“Đoạn, tôi lại nghe có tiếng như một đám đông vô số người, khác nào tiếng nước lớn hoặc như tiếng sấm dữ, mà rằng: A-lê-lu-gia! Vì Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta, là Đấng Toàn năng, đã cầm quyền cai trị. Chúng ta hãy hớn hở vui mừng, tôn vinh Ngài; vì lễ cưới Chiên Con đã tới, và vợ Ngài đã sửa soạn, Thiên sứ phán cùng tôi rằng: Hãy chép: Phước thay cho những kẻ được mời đến dự tiệc cưới Chiên Con! Người lại tiếp rằng: Đó là những lời chân thật của Đức Chúa Trời.” (Khải-huyền 19:6,7,9)

DA 151.1

Đức Chúa Giê-su nhìn thấy nơi mỗi linh hồn một người phải được kêu gọi vào nước Ngài. Ngài chạm đến lòng người bằng cách đi giữa họ như một người mong muốn điều tốt lành cho họ. Ngài tìm kiếm họ trên các đường phố công cộng, trong những ngôi nhà riêng, trên các thuyền, trong nhà hội, bên bờ hồ, và tại tiệc cưới. Ngài gặp gỡ họ trong những công việc thường nhật, và bày tỏ sự quan tâm đến những việc đời thường của họ. Ngài đem sự dạy dỗ của Ngài vào trong gia đình, đưa các gia đình ngay tại nhà của họ vào dưới ảnh hưởng của sự hiện diện thiêng liêng của Ngài. Lòng cảm thông sâu sắc của cá nhân Ngài đã giúp chinh phục các tấm lòng. Ngài thường lui về các núi để cầu nguyện một mình, nhưng đó là sự chuẩn bị cho công việc của Ngài giữa loài người trong đời sống hoạt động. Từ những lúc ấy, Ngài bước ra để cứu giúp người bệnh, dạy dỗ người dốt nát, và bẻ gãy xiềng xích cho những kẻ bị Sa-tan giam cầm. DA 151.2

Chính bằng sự tiếp xúc và gần gũi cá nhân mà Đức Chúa Giê-su đã huấn luyện các môn đồ Ngài. Đôi khi Ngài dạy dỗ họ, ngồi giữa họ trên sườn núi; đôi khi bên bờ biển, hay khi đi với họ trên đường, Ngài bày tỏ những điều mầu nhiệm của nước Đức Chúa Trời. Ngài không giảng đạo như loài người ngày nay. Bất cứ nơi đâu có những tấm lòng mở ra để tiếp nhận sứ điệp thiêng liêng, Ngài đều mở ra những lẽ thật về con đường cứu rỗi. Ngài không truyền lệnh cho các môn đồ phải làm điều này điều kia, nhưng phán: “Hãy theo Ta.” Trong các chuyến đi qua những vùng quê và thành phố, Ngài đem họ theo, để họ thấy cách Ngài dạy dỗ dân chúng. Ngài liên kết mối quan tâm của họ với của Ngài, và họ hiệp với Ngài trong công việc. DA 152.1

Tấm gương của Đấng Christ trong việc liên kết chính Ngài với những lợi ích của nhân loại phải được noi theo bởi tất cả những ai rao giảng lời Ngài, và bởi tất cả những ai đã tiếp nhận tin lành của ân điển Ngài. Chúng ta không nên từ bỏ sự giao thiệp xã hội. Chúng ta không nên ẩn mình khỏi người khác. Để tiếp cận mọi tầng lớp, chúng ta phải gặp họ tại nơi họ đang ở. Họ ít khi tự mình tìm đến chúng ta. Không phải chỉ từ trên bục giảng mà lòng người mới được lẽ thật thiêng liêng chạm đến. Còn có một lãnh vực lao động khác, có lẽ khiêm nhường hơn, nhưng đầy hứa hẹn không kém. Lãnh vực ấy được tìm thấy trong nhà của người thấp hèn, và trong dinh thự của người quyền quý; tại bàn ăn hiếu khách, và trong những buổi họp mặt vui chơi lành mạnh. DA 152.2

Là các môn đồ của Đấng Christ, chúng ta sẽ không hòa mình với thế gian chỉ vì ham mê khoái lạc, để cùng họ làm điều dại dột. Những sự giao kết như thế chỉ có thể dẫn đến tai hại. Chúng ta không bao giờ nên dung túng tội lỗi bằng lời nói hay việc làm, bằng sự im lặng hay sự hiện diện của mình. Bất cứ nơi đâu chúng ta đi, chúng ta phải đem Đức Chúa Giê-su theo cùng, và bày tỏ cho người khác sự quý báu của Đấng Cứu Thế chúng ta. Nhưng những ai cố gìn giữ tôn giáo của mình bằng cách giấu nó sau những bức tường đá thì đánh mất những cơ hội quý báu để làm điều lành. Qua các mối quan hệ xã hội, Cơ-đốc Giáo tiếp xúc với thế gian. Mỗi người đã tiếp nhận ánh sáng thiêng liêng phải làm rạng rỡ con đường của những ai chưa biết Sự Sáng của sự sống. DA 152.3

Tất cả chúng ta đều phải trở nên những nhân chứng cho Đức Chúa Giê-su. Năng lực giao thiệp, được thánh hóa bởi ân điển của Đấng Christ, phải được tận dụng để chinh phục các linh hồn về cho Đấng Cứu Thế. Hãy để thế gian thấy rằng chúng ta không ích kỷ chỉ chăm lo cho lợi ích riêng của mình, nhưng chúng ta mong muốn người khác cùng chia sẻ những phước hạnh và đặc ân của chúng ta. Hãy để họ thấy rằng tôn giáo của chúng ta không khiến chúng ta trở nên vô cảm hay khắt khe. Hãy để tất cả những ai xưng rằng mình đã tìm được Đấng Christ phục vụ như Ngài đã làm vì lợi ích của loài người. DA 152.4

Chúng ta không bao giờ nên gây cho thế gian ấn tượng sai lầm rằng những người Cơ-đốc là một dân tộc u sầu, bất hạnh. Nếu mắt chúng ta chăm chú vào Đức Chúa Giê-su, chúng ta sẽ thấy một Đấng Cứu Chuộc đầy lòng thương xót, và sẽ nhận được ánh sáng từ gương mặt Ngài. Bất cứ nơi đâu Thánh Linh của Ngài cai trị, nơi đó có sự bình an ngự trị. Và cũng sẽ có sự vui mừng, vì có sự tin cậy yên tĩnh, thánh khiết nơi Đức Chúa Trời. DA 152.5

Đấng Christ đẹp lòng với những người theo Ngài khi họ tỏ ra rằng, dù là con người, họ vẫn dự phần vào bản tính thiêng liêng. Họ không phải là những pho tượng, nhưng là những con người sống động. Lòng họ, được tươi mới bởi sương móc của ân điển thiêng liêng, mở ra và vươn về phía Mặt Trời Công Bình. Ánh sáng chiếu trên họ, họ phản chiếu lại trên người khác qua những việc làm rạng ngời tình yêu thương của Đấng Christ. DA 153.1