“Chúng Ta Đã Gặp Đấng Mê-si”
Chương này dựa trên Giăng 1:19-51. DA 132.1
Bấy giờ Giăng Báp-tít đang giảng dạy và làm phép báp-têm tại Bê-tha-ba-ra, bên kia sông Giô-đanh. Không xa nơi này là chỗ Đức Chúa Trời đã chặn dòng sông cho đến khi dân Y-sơ-ra-ên qua được. Cách đó không bao xa, thành lũy Giê-ri-cô đã bị các đạo binh trên trời lật đổ. Ký ức về những biến cố ấy lúc này được khơi dậy, đem đến một sự thích thú sôi nổi cho sứ điệp của Giăng Báp-tít. Chẳng phải Đấng đã làm những việc lạ lùng trong các thời đại đã qua sẽ lại tỏ bày quyền năng của Ngài để giải cứu Y-sơ-ra-ên hay sao? Đó là ý nghĩ làm rúng động lòng dân chúng ngày ngày kéo đến chật ních bờ sông Giô-đanh. DA 132.2
Sự giảng dạy của Giăng đã ăn sâu vào lòng dân tộc đến nỗi đòi hỏi sự chú ý của các nhà cầm quyền tôn giáo. Mối nguy của sự nổi loạn khiến mọi cuộc tụ họp đông người đều bị người La-mã nhìn với con mắt nghi ngờ, và bất cứ điều gì có hơi hướng của một cuộc nổi dậy của dân chúng đều dấy lên nỗi sợ hãi nơi các nhà cầm quyền Do Thái. Giăng đã không công nhận thẩm quyền của Tòa Công luận bằng cách tìm kiếm sự chấp thuận của họ cho công việc mình; và ông đã quở trách cả nhà cầm quyền lẫn dân chúng, người Pha-ri-si cũng như người Sa-đu-sê. Thế mà dân chúng vẫn nô nức đi theo ông. Sự quan tâm đến công việc của ông dường như cứ liên tục gia tăng. Dù ông không phục tùng họ, Tòa Công luận vẫn cho rằng, với tư cách một thầy dạy công khai, ông thuộc thẩm quyền của họ. DA 132.3
Cơ quan này gồm các thành viên được chọn từ hàng thầy tế lễ, và từ những nhà cầm quyền cùng các thầy dạy hàng đầu của dân tộc. Thầy tế lễ thượng phẩm thường là chủ tịch. Mọi thành viên đều phải là những người cao tuổi, song chưa già; những người có học thức, không những am tường tôn giáo và lịch sử Do Thái, mà còn về kiến thức tổng quát. Họ phải không có tì vít thân thể, và phải là người đã có vợ, và là những người cha, vì như vậy có lẽ sẽ nhân hậu và chu đáo hơn những người khác. Nơi nhóm họp của họ là một phòng nối liền với đền thờ tại Giê-ru-sa-lem. Vào những ngày dân Do Thái còn độc lập, Tòa Công luận là tòa án tối cao của dân tộc, nắm cả thẩm quyền thế tục lẫn giáo hội. Dù nay bị các quan tổng đốc La-mã chi phối, nó vẫn có ảnh hưởng mạnh mẽ trong cả việc dân sự lẫn tôn giáo. DA 133.1
Tòa Công luận khó lòng trì hoãn việc điều tra công việc của Giăng. Có một số người nhớ lại sự mặc khải đã ban cho Xa-cha-ri trong đền thờ, và lời tiên tri của người cha, đã chỉ về đứa con mình như người truyền tin của Đấng Mê-si. Trong những biến động và đổi thay của ba mươi năm, những điều này phần lớn đã bị quên lãng. Nay chúng được nhớ lại do sự sôi động về chức vụ của Giăng. DA 133.2
Đã lâu lắm rồi Y-sơ-ra-ên mới có một tiên tri, đã lâu lắm rồi mới chứng kiến một cuộc cải cách như đang diễn ra. Lời kêu gọi xưng tội dường như mới mẻ và làm kinh động lòng người. Nhiều người trong hàng lãnh đạo không chịu đi nghe những lời kêu gọi và quở trách của Giăng, vì sợ rằng họ sẽ bị dẫn đến chỗ phải phơi bày những điều bí mật trong đời sống mình. Thế mà sự giảng dạy của ông là một sự loan báo trực tiếp về Đấng Mê-si. Người ta biết rõ rằng bảy mươi tuần lễ trong lời tiên tri của Đa-ni-ên, bao trùm sự đến của Đấng Mê-si, đã gần kết thúc; và mọi người đều háo hức được dự phần trong thời đại vinh quang của dân tộc đang được mong đợi lúc bấy giờ. Lòng nhiệt thành của dân chúng lớn đến nỗi Tòa Công luận chẳng bao lâu sẽ buộc phải hoặc chuẩn nhận hoặc khước từ công việc của Giăng. Quyền lực của họ trên dân chúng đã suy giảm rồi. Làm sao để duy trì địa vị của họ đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng. Với hy vọng đi đến một kết luận nào đó, họ phái đến sông Giô-đanh một đoàn các thầy tế lễ và người Lê-vi để bàn luận với vị thầy mới này. DA 133.3
Một đám đông đã tụ họp, lắng nghe lời ông, khi các phái viên đến gần. Với dáng vẻ uy quyền nhằm gây ấn tượng với dân chúng và bắt vị tiên tri phải kính nể, các thầy thông giáo ngạo mạn bước đến. Với một cử động tỏ lòng kính trọng, gần như là sợ hãi, đám đông giãn ra để họ đi qua. Những bậc vĩ nhân, trong áo lễ sang trọng, trong sự kiêu hãnh về địa vị và quyền lực, đứng trước vị tiên tri của nơi đồng vắng. DA 133.4
“Ông là ai?” họ gặng hỏi. DA 134.1
Biết được điều trong tư tưởng họ, Giăng đáp: “Ta không phải là Đấng Christ.” DA 134.2
“Vậy thì sao? Có phải ông là Ê-li chăng?” DA 134.3
“Không phải.” DA 134.4
“Có phải ông là đấng tiên tri đó chăng?” DA 134.5
“Không.” DA 134.6
“Vậy ông là ai? để chúng tôi trả lời cho những người đã sai chúng tôi đến. Ông tự xưng mình là ai?” DA 134.7
“Ta là tiếng của người kêu trong đồng vắng rằng: Hãy ban đường thẳng cho Chúa, như tiên tri Ê-sai đã nói.” DA 134.8
Đoạn Kinh Thánh mà Giăng đề cập đến là lời tiên tri tuyệt đẹp của Ê-sai:
“Đức Chúa Trời của các ngươi phán rằng: Hãy yên ủi, hãy yên ủi dân ta. Hãy nói cho thấu lòng Giê-ru-sa-lem, và rao rằng sự tranh chiến của nó đã trọn; tội lỗi nó đã được tha; nó đã chịu gấp hai từ tay Đức Giê-hô-va vì các tội mình. Có tiếng kêu rằng: Hãy mở đường trong đồng vắng cho Đức Giê-hô-va; hãy ban bằng đường cái trong đất hoang cho Đức Chúa Trời chúng ta! Mọi nơi sủng thấp sẽ được cao lên; mọi núi mọi gò sẽ bị hạ xuống: các nơi gập ghềnh sẽ làm cho bằng, các nơi dốc hãm sẽ làm thành đồng nội. Bấy giờ sự vinh hiển của Đức Giê-hô-va sẽ hiện ra, và mọi xác thịt đều sẽ xem thấy; vì miệng Đức Giê-hô-va đã phán vậy.” (Ê-sai 40:1-5)
DA 134.9
Thuở xưa, khi một vị vua đi qua những vùng ít người lui tới trong lãnh thổ mình, một toán người được phái đi trước cỗ xe hoàng gia để san phẳng những chỗ dốc và lấp đầy những chỗ trũng, hầu cho vua có thể đi lại an toàn và không bị cản trở. Tập tục này được vị tiên tri dùng để minh họa công việc của tin lành. “Mọi nơi sũng thấp sẽ được cao lên, mọi núi mọi gò sẽ bị hạ xuống.” Khi Thần của Đức Chúa Trời, với quyền năng thức tỉnh kỳ diệu, chạm đến linh hồn, thì nó hạ thấp sự kiêu hãnh của con người. Lạc thú, địa vị và quyền lực trần gian bị xem là vô giá trị. “Các lý luận, mọi sự cao tự nhấc mình lên nghịch cùng sự hiểu biết Đức Chúa Trời” đều bị đánh đổ; mọi ý tưởng đều bị bắt phục “vâng theo Đấng Christ.” II Cô-rinh-tô 10:5. Bấy giờ sự khiêm nhường và tình yêu thương biết hy sinh, vốn quá ít được quý trọng giữa loài người, được tôn cao như là điều duy nhất có giá trị. Đây là công việc của tin lành, mà sứ điệp của Giăng là một phần trong đó. DA 135.1
Các thầy thông giáo tiếp tục tra hỏi: “Vậy thì cớ sao ông làm phép báp-têm, nếu ông chẳng phải Đấng Christ, chẳng phải Ê-li, chẳng phải đấng tiên tri đó?” Những chữ “đấng tiên tri đó” ám chỉ Môi-se. Người Do Thái có khuynh hướng tin rằng Môi-se sẽ được sống lại từ kẻ chết, và được đem lên trời. Họ không biết rằng ông đã được sống lại rồi. Khi Giăng Báp-tít bắt đầu chức vụ mình, nhiều người tưởng rằng ông có thể là tiên tri Môi-se sống lại từ kẻ chết, vì ông dường như có một sự hiểu biết thấu đáo về các lời tiên tri và lịch sử của Y-sơ-ra-ên. DA 135.2
Người ta cũng tin rằng trước sự đến của Đấng Mê-si, Ê-li sẽ đích thân xuất hiện. Sự mong đợi này Giăng đáp lại bằng lời chối của ông; nhưng lời ông có một ý nghĩa sâu xa hơn. Về sau, Đức Chúa Giê-su phán, khi nói về Giăng: “Nếu các ngươi muốn nhận lấy, thật người là Ê-li, là đấng phải đến.” Ma-thi-ơ 11:14. Giăng đến trong thần và quyền của Ê-li, để làm một công việc như Ê-li đã làm. Nếu người Do Thái đã tiếp nhận ông, thì điều đó đã được thành tựu cho họ. Nhưng họ không tiếp nhận sứ điệp của ông. Đối với họ, ông không phải là Ê-li. Ông không thể hoàn thành cho họ sứ mạng mà ông đến để thực hiện. DA 135.3
Nhiều người trong số những kẻ tụ họp tại sông Giô-đanh đã có mặt khi Đức Chúa Giê-su chịu phép báp-têm; nhưng dấu lạ được ban lúc ấy chỉ tỏ ra cho một số ít người trong họ. Trong những tháng trước đó của chức vụ Giăng Báp-tít, nhiều người đã từ chối nghe theo lời kêu gọi ăn năn. Vì vậy họ đã làm cho lòng mình chai đá và sự hiểu biết mình tối tăm. Khi Thiên đàng làm chứng về Đức Chúa Giê-su lúc Ngài chịu phép báp-têm, họ không nhận biết điều đó. Những con mắt chưa bao giờ hướng về Đấng vô hình với đức tin thì không thấy được sự mặc khải về vinh quang của Đức Chúa Trời; những lỗ tai chưa bao giờ lắng nghe tiếng Ngài thì không nghe được những lời chứng. Ngày nay cũng vậy. Sự hiện diện của Đấng Christ và các thiên sứ phục vụ thường tỏ ra trong các buổi nhóm họp của dân chúng, thế mà có nhiều người không nhận biết điều đó. Họ chẳng nhận thấy điều gì khác thường. Nhưng đối với một số người, sự hiện diện của Đấng Cứu Thế được tỏ bày. Sự bình an và niềm vui làm phấn chấn lòng họ. Họ được an ủi, khích lệ, và ban phước. DA 136.1
Các phái viên từ Giê-ru-sa-lem đã chất vấn Giăng rằng: “Sao ngươi làm phép báp-têm?” và họ đang chờ đợi câu trả lời của ông. Bỗng nhiên, khi đưa mắt nhìn qua đám đông, mắt ông sáng lên, gương mặt ông rạng rỡ, cả con người ông xao động bởi một cảm xúc sâu xa. Với đôi tay dang rộng, ông kêu lên:
“Giăng trả lời: Về phần ta, ta làm phép báp-têm bằng nước; nhưng có một Đấng ở giữa các ngươi mà các ngươi không nhận biết. Ấy là Đấng đến sau ta, ta chẳng đáng mở dây giày Ngài.” (Giăng 1:26-27)
DA 136.2
Sứ điệp này rõ ràng và dứt khoát, để được mang trở lại cho Tòa Công Luận. Lời của Giăng không thể áp dụng cho ai khác ngoài Đấng đã được hứa từ lâu. Đấng Mê-si đang ở giữa họ! Trong sự kinh ngạc, các thầy tế lễ và các quan trưởng đưa mắt nhìn quanh, hy vọng tìm ra Đấng mà Giăng đã nói đến. Nhưng Ngài không thể nhận ra được giữa đám đông. DA 136.3
Khi tại lễ báp-têm của Đức Chúa Giê-su, Giăng chỉ về Ngài như Chiên Con của Đức Chúa Trời, một ánh sáng mới được chiếu rọi trên công việc của Đấng Mê-si. Tâm trí của vị tiên tri được hướng đến những lời của Ê-sai: “Người bị dẫn đi như chiên con bị dẫn đến hàng làm thịt.” Ê-sai 53:7. Trong những tuần lễ tiếp theo, Giăng với sự quan tâm mới đã nghiên cứu các lời tiên tri và sự dạy dỗ của việc tế lễ. Ông không phân biệt rõ ràng hai giai đoạn trong công việc của Đấng Christ—là một của lễ chịu khổ và là một vị vua đắc thắng—nhưng ông nhận thấy rằng sự đến của Ngài mang một ý nghĩa sâu xa hơn điều mà các thầy tế lễ hay dân chúng đã nhận biết. Khi ông thấy Đức Chúa Giê-su giữa đám đông lúc Ngài trở về từ đồng vắng, ông đầy tin tưởng trông mong Ngài ban cho dân chúng một dấu hiệu nào đó về bản tánh thật của Ngài. Ông hầu như sốt ruột chờ nghe Đấng Cứu Thế tuyên bố sứ mạng của Ngài; nhưng không một lời nào được thốt ra, không một dấu hiệu nào được tỏ bày. Đức Chúa Giê-su không đáp lại lời Giăng giới thiệu về Ngài, mà hòa mình với các môn đồ của Giăng, không tỏ ra bằng chứng bên ngoài nào về công việc đặc biệt của Ngài, và không làm điều gì để khiến mình được chú ý. DA 136.4
Ngày hôm sau, Giăng thấy Đức Chúa Giê-su đến. Với ánh sáng vinh hiển của Đức Chúa Trời ngự trên mình, vị tiên tri dang đôi tay ra, tuyên bố:
“Qua ngày sau, Giăng thấy Đức Chúa Giê-su đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi. Ấy về Đấng đó mà ta đã nói: Có một người đến sau ta, trổi hơn ta, vì người vốn trước ta. Về phần ta, ta vốn chẳng biết Ngài; nhưng ta đã đến làm phép báp-têm bằng nước, để Ngài được tỏ ra cho dân Y-sơ-ra-ên. Giăng lại còn làm chứng này nữa: Ta đã thấy Thánh Linh từ trời giáng xuống như chim bồ câu, đậu trên mình Ngài. Về phần ta, ta vốn không biết Ngài; nhưng Đấng sai ta làm phép báp-têm bằng nước có phán cùng ta rằng: Đấng mà ngươi sẽ thấy Thánh Linh ngự xuống đậu lên trên, ấy là Đấng làm phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh. Ta đã thấy, nên ta làm chứng rằng: Ấy chính Ngài là Con Đức Chúa Trời.” (Giăng 1:29-34)
DA 137.1
Đây có phải là Đấng Christ chăng? Với sự kính sợ và kinh ngạc, dân chúng nhìn xem Đấng vừa được tuyên bố là Con Đức Chúa Trời. Họ đã được cảm động sâu xa bởi những lời của Giăng. Ông đã nói với họ nhân danh Đức Chúa Trời. Họ đã lắng nghe ông ngày này qua ngày khác khi ông quở trách tội lỗi của họ, và mỗi ngày niềm xác tín rằng ông được sai đến từ thiên đàng càng thêm vững mạnh. Nhưng Đấng cao trọng hơn Giăng Báp-tít này là ai? Trong y phục và phong thái của Ngài chẳng có gì cho thấy địa vị cao quý. Ngài rõ ràng là một nhân vật giản dị, ăn mặc như họ trong bộ y phục khiêm tốn của người nghèo. DA 137.2
Trong đám đông có vài người tại lễ báp-têm của Đấng Christ đã thấy vinh hiển thiêng liêng và đã nghe tiếng phán của Đức Chúa Trời. Nhưng kể từ thời điểm đó, dáng vẻ của Đấng Cứu Thế đã thay đổi rất nhiều. Tại lễ báp-têm của Ngài, họ đã thấy gương mặt Ngài biến hóa trong ánh sáng từ thiên đàng; nay, xanh xao, mệt mỏi và gầy gò, Ngài chỉ được nhận ra bởi tiên tri Giăng. DA 137.3
Nhưng khi dân chúng nhìn xem Ngài, họ thấy một gương mặt nơi đó lòng thương xót thiêng liêng hòa quyện với quyền năng tự ý thức. Mỗi cái nhìn của đôi mắt, mỗi nét trên gương mặt, đều biểu lộ sự khiêm nhường, và bày tỏ một tình yêu thương không thể tả xiết. Ngài dường như được bao bọc bởi một bầu không khí của ảnh hưởng thuộc linh. Trong khi phong cách của Ngài dịu dàng và khiêm tốn, Ngài làm cho người ta cảm nhận một quyền năng được ẩn giấu, nhưng không thể che giấu hoàn toàn được. Đây có phải là Đấng mà dân Y-sơ-ra-ên đã trông đợi từ bấy lâu nay chăng? DA 137.4
Đức Chúa Giê-su đến trong sự nghèo khó và hèn hạ, để Ngài có thể vừa là gương mẫu vừa là Đấng Cứu Chuộc của chúng ta. Nếu Ngài xuất hiện với sự uy nghi của bậc vua chúa, làm sao Ngài có thể dạy dỗ sự khiêm nhường? làm sao Ngài có thể trình bày những lẽ thật thấm thía như trong Bài Giảng Trên Núi? Niềm hy vọng của những người thấp hèn trong đời sẽ ở đâu nếu Đức Chúa Giê-su đến ngự giữa loài người như một vị vua? DA 138.1
Tuy nhiên, đối với đám đông, dường như không thể nào Đấng được Giăng chỉ định lại có liên hệ với những kỳ vọng cao xa của họ. Vì vậy nhiều người đã thất vọng, và vô cùng bối rối. DA 138.2
Những lời mà các thầy tế lễ và các thầy thông giáo hết sức mong được nghe, rằng Đức Chúa Giê-su giờ đây sẽ khôi phục vương quốc cho Y-sơ-ra-ên, đã không được thốt ra. Họ đã chờ đợi và trông ngóng một vị vua như thế; họ sẵn lòng tiếp nhận một vị vua như thế. Nhưng một Đấng tìm cách thiết lập trong lòng họ một vương quốc của sự công bình và bình an, thì họ không chịu tiếp nhận. DA 138.3
Ngày hôm sau, trong khi hai môn đồ đang đứng gần đó, Giăng lại thấy Đức Chúa Giê-su giữa dân chúng. Một lần nữa gương mặt của vị tiên tri rạng rỡ với vinh hiển từ Đấng Vô Hình, khi ông kêu lên: “Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời!” Những lời ấy làm rúng động lòng các môn đồ. Họ không hiểu trọn vẹn ý nghĩa của chúng. Danh hiệu mà Giăng đã ban cho Ngài—“Chiên Con của Đức Chúa Trời”—có nghĩa gì? Chính Giăng cũng chưa giải thích điều đó. DA 138.4
Rời khỏi Giăng, họ đi tìm Đức Chúa Giê-su. Một trong hai người là Anh-rê, em của Si-môn; người kia là Giăng, người viết Phúc Âm. Đây là những môn đồ đầu tiên của Đấng Christ. Được thúc đẩy bởi một sự thôi thúc không thể cưỡng lại, họ theo Đức Chúa Giê-su—khao khát được trò chuyện với Ngài, nhưng lại kính sợ và lặng thinh, đắm chìm trong ý nghĩ có tầm quan trọng lớn lao, “Đây có phải là Đấng Mê-si chăng?” DA 138.5
Đức Chúa Giê-su biết rằng các môn đồ đang theo Ngài. Họ là trái đầu mùa của chức vụ Ngài, và có niềm vui trong lòng vị Thầy thiêng liêng khi những linh hồn này đáp lại ân điển của Ngài. Tuy vậy, Ngài quay lại, chỉ hỏi: “Các ngươi tìm chi?” Ngài muốn để họ tự do quay trở lại hoặc nói lên điều họ mong muốn. DA 138.6
Họ chỉ ý thức về một mục đích duy nhất. Một sự hiện diện chiếm trọn tâm trí họ. Họ thốt lên: “Lạy Ra-bi,… Thầy ở đâu?” Trong một cuộc trò chuyện ngắn ngủi bên đường, họ không thể nhận được điều họ ao ước. Họ mong muốn được ở riêng với Đức Chúa Giê-su, được ngồi nơi chân Ngài, và lắng nghe lời Ngài. DA 138.7
“Ngài phán rằng: Hãy đến xem. Vậy, hai người đi, thấy nơi Ngài ở, và ở lại cùng Ngài trong ngày đó.” DA 139.1
Nếu Giăng và Anh-rê có tinh thần chẳng tin như các thầy tế lễ và các quan trưởng, thì họ đã không được tìm thấy như những người học trò nơi chân Đức Chúa Giê-su. Họ hẳn đã đến với Ngài như những kẻ chỉ trích, để phê phán lời Ngài. Nhiều người vì thế mà đóng cánh cửa lại trước những cơ hội quý báu nhất. Nhưng những môn đồ đầu tiên này thì không như vậy. Họ đã đáp lại tiếng gọi của Đức Thánh Linh qua sự rao giảng của Giăng Báp-tít. Giờ đây họ nhận ra tiếng của vị Thầy thiên thượng. Đối với họ, lời của Đức Chúa Giê-su tràn đầy sự tươi mới, lẽ thật và vẻ đẹp. Một ánh sáng thiêng liêng được chiếu rọi trên sự dạy dỗ của Kinh Thánh Cựu Ước. Những chủ đề lẽ thật muôn mặt hiện ra trong ánh sáng mới. DA 139.2
Chính lòng ăn năn, đức tin và tình yêu thương khiến cho linh hồn có thể tiếp nhận sự khôn ngoan từ thiên đàng. Đức tin hành động bởi tình yêu thương là chìa khóa của tri thức, và mỗi người có lòng yêu thương đều “nhìn biết Đức Chúa Trời.” 1 Giăng 4:7. DA 139.3
Môn đồ Giăng là một người có tình cảm chân thành và sâu đậm, nhiệt thành, nhưng cũng hay trầm tư. Ông đã bắt đầu nhận ra vinh hiển của Đấng Christ—không phải sự uy nghi và quyền lực trần tục mà ông được dạy phải trông mong, nhưng là “vinh hiển y như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha, đầy ơn và lẽ thật.” Giăng 1:14. Ông đắm chìm trong sự suy gẫm về chủ đề kỳ diệu này. DA 139.4
Anh-rê tìm cách chia sẻ niềm vui đang tràn ngập lòng mình. Đi tìm anh mình là Si-môn, ông kêu lên: “Chúng ta đã gặp Đấng Mê-si.” Si-môn không chờ đợi lời mời lần thứ hai. Ông cũng đã nghe sự rao giảng của Giăng Báp-tít, và ông vội vã đến cùng Đấng Cứu Thế. Mắt của Đấng Christ dừng lại trên ông, đọc thấu bản tánh và lịch sử đời sống của ông. Bản tánh bốc đồng của ông, tấm lòng yêu thương và đầy thông cảm của ông, tham vọng và sự tự tin của ông, lịch sử về sự sa ngã, sự ăn năn, công lao và cái chết tử đạo của ông—Đấng Cứu Thế đã đọc thấu tất cả, và Ngài phán: “Ngươi là Si-môn, con của Giô-na; ngươi sẽ được gọi là Sê-pha (nghĩa là Phi-e-rơ, hay là đá).” DA 139.5
“Qua ngày sau, Đức Chúa Giê-su muốn đi đến xứ Ga-li-lê, tìm gặp Phi-líp và phán cùng người rằng: Hãy theo Ta.” Phi-líp vâng theo mạng lệnh, và lập tức người cũng trở nên một người làm việc cho Đấng Christ. DA 139.6
Phi-líp gọi Na-tha-na-ên. Người nầy đã ở giữa đám đông khi Giăng Báp-tít chỉ về Đức Chúa Giê-su là Chiên Con của Đức Chúa Trời. Khi Na-tha-na-ên nhìn Đức Chúa Giê-su, ông cảm thấy thất vọng. Lẽ nào người nầy, mang dấu vết của lao nhọc và nghèo khó, lại có thể là Đấng Mê-si? Tuy vậy, Na-tha-na-ên không thể quyết định chối bỏ Đức Chúa Giê-su, vì sứ điệp của Giăng đã đem sự thuyết phục vào lòng ông. DA 139.7
Vào lúc Phi-líp gọi ông, Na-tha-na-ên đã lui vào một rừng cây yên tĩnh để suy gẫm về lời rao báo của Giăng và những lời tiên tri về Đấng Mê-si. Ông cầu nguyện rằng nếu người mà Giăng rao báo chính là Đấng giải cứu, thì điều đó được tỏ ra cho ông, và Đức Thánh Linh ngự trên ông cùng với sự bảo đảm rằng Đức Chúa Trời đã thăm viếng dân Ngài và dấy lên cho họ một cái sừng cứu rỗi. Phi-líp biết bạn mình đang tra xét các lời tiên tri, và trong khi Na-tha-na-ên đang cầu nguyện dưới một cây vả, Phi-líp tìm ra nơi ẩn náu của ông. Họ thường cầu nguyện chung với nhau tại nơi vắng vẻ nầy được che khuất bởi lá cây. DA 140.1
Sứ điệp “Chúng ta đã gặp Đấng mà Môi-se có chép trong luật pháp, và các đấng tiên tri cũng có nói đến” dường như là một lời đáp trực tiếp cho lời cầu nguyện của Na-tha-na-ên. Nhưng đức tin của Phi-líp vẫn còn run rẩy. Ông nói thêm với vẻ nghi ngờ: “Ấy là Đức Chúa Giê-su ở Na-xa-rét, con của Giô-sép.” Một lần nữa, thành kiến lại dấy lên trong lòng Na-tha-na-ên. Ông thốt lên: “Há có vật gì tốt ra từ Na-xa-rét được sao?” DA 140.2
Phi-líp không tranh luận. Ông nói: “Hãy đến xem. Đức Chúa Giê-su thấy Na-tha-na-ên đến cùng mình, bèn phán về người rằng: Nầy, một người Y-sơ-ra-ên thật, trong người không có điều dối trá chi hết!” Na-tha-na-ên ngạc nhiên thốt lên: “Bởi đâu thầy biết tôi? Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Trước khi Phi-líp gọi ngươi, ta đã thấy ngươi lúc ở dưới cây vả.” DA 140.3
Thế là đủ. Thần Linh thiêng liêng đã làm chứng cho Na-tha-na-ên trong lúc ông cầu nguyện cô độc dưới cây vả nay phán cùng ông qua lời của Đức Chúa Giê-su. Dầu còn nghi ngờ và phần nào nhượng bộ trước thành kiến, Na-tha-na-ên vẫn đến cùng Đấng Christ với một lòng khao khát chân lý chân thành, và nay lòng khao khát ấy được thỏa nguyện. Đức tin của ông vượt hơn đức tin của người đã đem ông đến cùng Đức Chúa Giê-su. Ông thưa rằng: “Lạy thầy, thầy là Con Đức Chúa Trời, thầy là Vua dân Y-sơ-ra-ên!” DA 140.4
Nếu Na-tha-na-ên trông cậy nơi các thầy thông giáo để được hướng dẫn, hẳn ông đã không bao giờ tìm được Đức Chúa Giê-su. Chính nhờ tự mình thấy và tự mình xét đoán mà ông trở nên một môn đồ. Ngày nay cũng vậy đối với nhiều người mà thành kiến cản trở khỏi điều tốt lành. Kết quả sẽ khác biết bao nếu họ chịu “đến xem”! DA 140.5
Trong khi còn trông cậy vào sự hướng dẫn của thẩm quyền loài người, không ai sẽ đạt đến sự hiểu biết cứu rỗi về chân lý. Giống như Na-tha-na-ên, chúng ta cần phải tự mình nghiên cứu Lời Đức Chúa Trời, và cầu xin sự soi sáng của Đức Thánh Linh. Đấng đã thấy Na-tha-na-ên dưới cây vả sẽ thấy chúng ta trong nơi kín nhiệm cầu nguyện. Các thiên sứ từ thế giới ánh sáng ở gần những ai khiêm nhường tìm kiếm sự hướng dẫn thiêng liêng. DA 141.1
Với sự kêu gọi Giăng và Anh-rê và Si-môn, Phi-líp và Na-tha-na-ên, nền móng của Hội Thánh Cơ-đốc được khởi đầu. Giăng hướng hai môn đồ của mình đến cùng Đấng Christ. Rồi một trong hai người, là Anh-rê, tìm gặp anh mình và gọi người đến cùng Đấng Cứu Thế. Kế đó, Phi-líp được kêu gọi, và ông đi tìm Na-tha-na-ên. Những gương nầy phải dạy chúng ta tầm quan trọng của sự cố gắng cá nhân, của việc kêu gọi trực tiếp đến bà con, bạn hữu và những người lân cận của mình. Có những người trọn cả đời tự xưng là quen biết Đấng Christ, nhưng chưa bao giờ thực hiện một sự cố gắng cá nhân nào để đem dầu chỉ một linh hồn đến cùng Đấng Cứu Thế. Họ phó mặc tất cả công việc cho người truyền đạo. Người ấy có thể được trang bị đầy đủ cho chức vụ mình, nhưng không thể làm điều mà Đức Chúa Trời đã dành lại cho các tín hữu của Hội Thánh. DA 141.2
Có nhiều người cần đến sự phục vụ của những tấm lòng Cơ-đốc đầy yêu thương. Nhiều người đã sa vào sự hư mất, là những kẻ lẽ ra đã được cứu nếu những người lân cận của họ, là những người nam nữ bình thường, đã thực hiện sự cố gắng cá nhân vì họ. Nhiều người đang chờ đợi được tiếp cận cách cá nhân. Ngay trong chính gia đình, khu xóm, thành phố nơi chúng ta sinh sống, có công việc để chúng ta làm với tư cách là những nhà truyền giáo cho Đấng Christ. Nếu chúng ta là những người Cơ-đốc, công việc nầy sẽ là niềm vui của chúng ta. Vừa khi một người được cải đạo, thì trong lòng người sanh ra một khát vọng tỏ cho người khác biết người đã tìm được một người bạn quý báu dường nào nơi Đức Chúa Giê-su. Chân lý cứu rỗi và thánh hóa không thể bị giam giữ trong lòng người. DA 141.3
Tất cả những ai dâng mình cho Đức Chúa Trời sẽ là những máng dẫn ánh sáng. Đức Chúa Trời lập họ làm những công cụ của Ngài để truyền cho người khác sự giàu có của ân điển Ngài. Lời hứa của Ngài là:
“Ta sẽ làm cho chúng nó với các miền chung quanh đồi ta nên nguồn phước. Ta sẽ khiến mưa sa nơi mùa thuận tiện, ấy sẽ là cơn mưa của phước lành.” (Ê-xê-chi-ên 34:26)
DA 141.4
Phi-líp nói cùng Na-tha-na-ên: “Hãy đến xem.” Ông không yêu cầu bạn mình chấp nhận lời chứng của người khác, nhưng tự mình chiêm ngưỡng Đấng Christ. Nay Đức Chúa Giê-su đã thăng thiên về trời, các môn đồ Ngài là những đại diện của Ngài giữa loài người, và một trong những cách hiệu nghiệm nhất để chinh phục các linh hồn cho Ngài là làm gương về tánh hạnh của Ngài trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Ảnh hưởng của chúng ta trên người khác không tùy thuộc nhiều vào điều chúng ta nói cho bằng vào con người chúng ta. Người ta có thể chống đối và bác bỏ lý luận của chúng ta, họ có thể kháng cự lại những lời kêu gọi của chúng ta; nhưng một đời sống đầy tình yêu thương vô vị lợi là một lý lẽ họ không thể nào chối cãi. Một đời sống nhất quán, mang đặc tánh của sự nhu mì của Đấng Christ, là một quyền năng trong thế gian. DA 141.5
Sự dạy dỗ của Đấng Christ là sự bày tỏ một niềm xác tín và kinh nghiệm đã được rèn đúc bên trong, và những ai học nơi Ngài trở nên những người dạy dỗ theo thứ tự thiêng liêng. Lời Đức Chúa Trời, được thốt ra bởi người mà chính mình đã được nhờ đó nên thánh, có một quyền năng ban sự sống khiến nó hấp dẫn người nghe, và thuyết phục họ rằng đó là một thực tại sống động. Khi một người đã tiếp nhận chân lý trong sự yêu mến nó, người sẽ tỏ điều nầy ra trong cách cư xử đầy sức thuyết phục và trong giọng nói của mình. Người tỏ cho biết điều mà chính mình đã nghe, đã thấy, và đã rờ đến về Lời sự sống, hầu cho người khác cũng được tương giao với mình qua sự hiểu biết về Đấng Christ. Lời chứng của người, từ đôi môi được chạm bởi than lửa từ trên bàn thờ, là chân lý cho tấm lòng dễ tiếp nhận, và tạo nên sự thánh hóa trên tánh hạnh. DA 142.1
Và ai tìm cách ban ánh sáng cho người khác thì chính mình sẽ được ban phước. “Sẽ có những trận mưa phước hạnh.”
“Lòng rộng rãi sẽ được no nê; Còn ai nhuần gội, chính người sẽ được nhuần gội.” (Châm-ngôn 11:25)
Đức Chúa Trời đã có thể đạt được mục đích cứu rỗi tội nhân mà không cần đến sự trợ giúp của chúng ta; nhưng để chúng ta phát triển một tánh hạnh giống như tánh hạnh của Đấng Christ, chúng ta phải dự phần trong công việc của Ngài. Để bước vào sự vui mừng của Ngài—niềm vui được thấy các linh hồn được cứu chuộc bởi sự hy sinh của Ngài—chúng ta phải tham gia vào công lao của Ngài cho sự cứu chuộc họ. DA 142.2
Lời biểu lộ đầu tiên của Na-tha-na-ên về đức tin của ông, rất trọn vẹn, sốt sắng và chân thành, vang lên như điệu nhạc bên tai Đức Chúa Giê-su. Và Ngài “đáp rằng: Vì ta đã phán cùng ngươi rằng ta thấy ngươi dưới cây vả, thì ngươi tin; ngươi sẽ thấy việc lớn hơn điều đó.” Đấng Cứu Thế trông đợi với niềm vui về công việc của Ngài trong việc rao truyền tin lành cho kẻ nhu mì, băng bó những tấm lòng tan vỡ, và rao sự tự do cho những kẻ bị Sa-tan cầm tù. Khi nghĩ đến những phước hạnh quý báu Ngài đã đem đến cho loài người, Đức Chúa Giê-su nói thêm: “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, các ngươi sẽ thấy trời mở ra, và thiên sứ của Đức Chúa Trời lên xuống trên Con người.” DA 142.3
Ở đây Đấng Christ thật sự phán rằng: Trên bờ sông Giô-đanh, các từng trời đã mở ra, và Thánh Linh ngự xuống trên Ta như chim bồ câu. Cảnh tượng ấy chỉ là dấu hiệu rằng Ta là Con Đức Chúa Trời. Nếu các ngươi tin nơi Ta như vậy, đức tin các ngươi sẽ được làm cho sống động. Các ngươi sẽ thấy các từng trời mở ra, và chẳng bao giờ đóng lại nữa. Ta đã mở chúng ra cho các ngươi. Các thiên sứ của Đức Chúa Trời đang lên, mang những lời cầu nguyện của kẻ thiếu thốn và đau khổ lên cùng Đức Chúa Cha ở trên cao, và đang xuống, đem đến phước hạnh và hy vọng, lòng can đảm, sự giúp đỡ, và sự sống, cho con cái loài người. DA 142.4
Các thiên sứ của Đức Chúa Trời hằng đi lại từ đất lên trời, và từ trời xuống đất. Những phép lạ của Đấng Christ dành cho những kẻ đau yếu và khốn khổ đã được thực hiện bởi quyền năng của Đức Chúa Trời thông qua sự phục vụ của các thiên sứ. Và chính nhờ Đấng Christ, qua sự phục vụ của các sứ giả thiên đàng của Ngài, mà mọi phước lành từ Đức Chúa Trời đến với chúng ta. Khi mang lấy nhân tánh, Đấng Cứu Thế của chúng ta hiệp lợi ích của Ngài với lợi ích của các con trai và con gái sa ngã của A-đam, đồng thời qua thần tánh của Ngài, Ngài nắm lấy ngôi của Đức Chúa Trời. Và như vậy, Đấng Christ là phương tiện thông công giữa loài người với Đức Chúa Trời, và giữa Đức Chúa Trời với loài người. DA 143.1