Lễ Báp-têm
Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 3:13-17; Mác 1:9-11; Lu-ca 3:21, 22. DA 109.1
Tin tức về vị tiên tri nơi đồng vắng và lời tuyên bố kỳ diệu của ông lan truyền khắp xứ Ga-li-lê. Sứ điệp ấy đến tận những nông dân trong các thị trấn miền đồi xa xôi nhất, đến những người dân chài nơi bờ biển, và chính trong những tấm lòng đơn sơ, chân thành này, sứ điệp tìm được sự đáp ứng chân thật nhất. Tại Na-xa-rét, sứ điệp được kể lại trong xưởng mộc từng là của Giô-sép, và có Một Đấng nhận biết tiếng gọi ấy. Thì giờ của Ngài đã đến. Rời khỏi công việc lao động hằng ngày, Ngài từ biệt mẹ Ngài, và bước theo dấu chân những người đồng hương đang lũ lượt kéo đến sông Giô-đanh. DA 109.2
Đức Chúa Giê-su và Giăng Báp-tít là anh em họ, có quan hệ mật thiết qua hoàn cảnh ra đời của họ; thế nhưng họ chưa từng trực tiếp quen biết nhau. Cuộc đời Đức Chúa Giê-su trải qua tại Na-xa-rét ở xứ Ga-li-lê; còn cuộc đời Giăng thì ở nơi đồng vắng xứ Giu-đê. Giữa những khung cảnh hoàn toàn khác biệt, họ sống ẩn dật và không có liên lạc với nhau. Sự quan phòng của Đức Chúa Trời đã sắp đặt như vậy. Không cớ nào được tạo ra để người ta có thể buộc tội rằng họ đã thông đồng với nhau để củng cố lời tuyên bố của mỗi người. DA 109.3
Giăng biết rõ những biến cố đã đánh dấu sự ra đời của Đức Chúa Giê-su. Ông đã nghe về chuyến viếng thăm Giê-ru-sa-lem thời thơ ấu của Ngài, và những điều đã xảy ra trong trường của các thầy thông giáo. Ông biết về cuộc đời vô tội của Ngài, và tin rằng Ngài là Đấng Mê-si; nhưng về điều này ông chưa có sự bảo đảm chắc chắn. Sự việc Đức Chúa Giê-su đã ở trong sự âm thầm suốt bao nhiêu năm, không tỏ ra bằng cớ đặc biệt nào về sứ mạng của Ngài, đã làm dấy lên mối nghi ngờ liệu Ngài có thể là Đấng Được Hứa Ban hay không. Tuy nhiên, Giăng Báp-tít vẫn chờ đợi trong đức tin, tin rằng đến đúng thì giờ của Đức Chúa Trời thì mọi sự sẽ được tỏ tường. Đã được mặc khải cho ông rằng Đấng Mê-si sẽ tìm đến để chịu báp-têm bởi tay ông, và bấy giờ một dấu hiệu về bản tánh thiêng liêng của Ngài sẽ được ban cho. Nhờ vậy ông sẽ có thể giới thiệu Ngài cho dân chúng. DA 109.4
Khi Đức Chúa Giê-su đến để chịu báp-têm, Giăng nhận thấy nơi Ngài một sự thanh khiết của bản tánh mà ông chưa từng nhận thấy nơi bất cứ người nào trước đó. Chính bầu không khí nơi Ngài hiện diện thật thánh khiết và khiến lòng kính sợ. Giữa đoàn dân đông đảo tụ họp quanh ông tại sông Giô-đanh, Giăng đã nghe những câu chuyện đen tối về tội ác, và đã gặp những linh hồn cúi gập dưới gánh nặng của vô số tội lỗi; nhưng ông chưa bao giờ tiếp xúc với một con người mà từ đó toát ra một ảnh hưởng thiêng liêng đến thế. Tất cả những điều này hòa hợp với những gì đã được mặc khải cho Giăng về Đấng Mê-si. Vậy mà ông vẫn ngần ngại chấp nhận lời thỉnh cầu của Đức Chúa Giê-su. Làm sao ông, một tội nhân, lại có thể làm báp-têm cho Đấng Vô Tội? Và tại sao Đấng không cần sự ăn năn lại phải chịu một nghi lễ vốn là sự xưng nhận tội lỗi cần được rửa sạch? DA 110.1
Khi Đức Chúa Giê-su xin chịu báp-têm, Giăng lùi lại, thốt lên rằng:
“Song Giăng từ chối mà rằng: Chính tôi cần phải chịu Ngài làm phép báp-têm, mà Ngài lại trở đến cùng tôi sao! Đức Chúa Giê-su đáp rằng:” (Ma-thi-ơ 3:14)
Với uy quyền vững vàng nhưng dịu dàng, Đức Chúa Giê-su đáp:
“Bây giờ cứ làm đi, vì chúng ta nên làm cho trọn mọi việc công bình như vậy. Giăng bèn vâng lời Ngài.” (Ma-thi-ơ 3:15)
Và Giăng, vâng theo, dẫn Đấng Cứu Thế xuống sông Giô-đanh, và dìm Ngài dưới nước.
“Vừa khi lên khỏi nước, Ngài thấy các từng trời mở ra, và Đức Thánh Linh ngự xuống trên mình Ngài như chim bồ câu.” (Mác 1:10)
DA 111.1
Đức Chúa Giê-su không chịu báp-têm như là sự xưng nhận tội lỗi của riêng Ngài. Ngài tự đồng hóa mình với những tội nhân, thực hiện những bước mà chúng ta phải thực hiện, và làm công việc mà chúng ta phải làm. Cuộc đời chịu khổ và nhẫn nại chịu đựng của Ngài sau khi chịu báp-têm cũng là một tấm gương cho chúng ta. DA 111.2
Khi vừa lên khỏi nước, Đức Chúa Giê-su cúi mình cầu nguyện trên bờ sông. Một kỷ nguyên mới và quan trọng đang mở ra trước mặt Ngài. Giờ đây, trên một vũ đài rộng lớn hơn, Ngài bước vào cuộc tranh chiến của đời mình. Dù Ngài là Chúa Bình An, sự đến của Ngài phải như sự rút gươm ra khỏi vỏ. Vương quốc mà Ngài đến để thiết lập thì trái ngược với điều người Do Thái mong ước. Đấng vốn là nền tảng của các nghi lễ và thể chế của Y-sơ-ra-ên sẽ bị xem là kẻ thù và kẻ phá hoại nó. Đấng đã công bố luật pháp trên núi Si-na-i sẽ bị kết án là kẻ phạm pháp. Đấng đã đến để phá hủy quyền lực của Sa-tan sẽ bị mạ lị là Bê-ên-xê-bun. Không một ai trên đất hiểu được Ngài, và suốt thời gian thi hành chức vụ, Ngài vẫn phải bước đi đơn độc. Trong suốt cuộc đời Ngài, mẹ Ngài và các em Ngài đã không thấu hiểu sứ mạng của Ngài. Ngay cả các môn đồ Ngài cũng không hiểu Ngài. Ngài đã ngự trong ánh sáng đời đời, làm một với Đức Chúa Trời, nhưng cuộc đời Ngài trên đất phải trải qua trong cô đơn. DA 111.3
Là một với chúng ta, Ngài phải mang lấy gánh nặng tội lỗi và đau khổ của chúng ta. Đấng Vô Tội phải cảm nhận sự nhục nhã của tội lỗi. Đấng yêu sự bình an phải sống giữa sự tranh chấp, lẽ thật phải ở cùng sự dối trá, sự thanh khiết phải ở cùng sự ô uế. Mỗi tội lỗi, mỗi sự bất hòa, mỗi dục vọng ô nhơ mà sự vi phạm đã đem đến, đều là sự đau đớn cho tâm linh Ngài. DA 111.4
Một mình Ngài phải bước đi trên con đường ấy; một mình Ngài phải mang lấy gánh nặng ấy. Trên Đấng đã cởi bỏ vinh quang của mình và chấp nhận sự yếu đuối của nhân tánh, sự cứu chuộc thế gian phải được đặt để. Ngài thấy và cảm nhận tất cả những điều ấy, nhưng mục đích của Ngài vẫn kiên định. Sự cứu rỗi của dòng dõi sa ngã tùy thuộc nơi cánh tay Ngài, và Ngài giơ tay ra để nắm lấy bàn tay của Tình Yêu Toàn Năng. DA 111.5
Ánh mắt của Đấng Cứu Thế dường như xuyên thấu thiên đàng khi Ngài dốc đổ linh hồn mình ra trong sự cầu nguyện. Ngài biết rõ tội lỗi đã làm chai cứng lòng người ta thể nào, và sẽ khó khăn biết bao cho họ để nhận ra sứ mạng của Ngài, và tiếp nhận món quà cứu rỗi. Ngài nài xin Đức Chúa Cha ban cho quyền năng để thắng hơn sự chẳng tin của họ, để bẻ gãy xiềng xích mà Sa-tan đã trói buộc họ, và để vì cớ họ mà chiến thắng kẻ hủy diệt. Ngài xin bằng chứng rằng Đức Chúa Trời chấp nhận nhân loại trong thân vị của Con Ngài. DA 111.6
Chưa bao giờ các thiên sứ được nghe một lời cầu nguyện như thế. Họ háo hức muốn đem đến cho vị Thống Lãnh yêu dấu của mình một sứ điệp về sự bảo đảm và an ủi. Nhưng không; chính Đức Chúa Cha sẽ đáp lời cầu xin của Con Ngài. Trực tiếp từ ngai phát ra những tia sáng vinh quang của Ngài. Các từng trời mở ra, và trên đầu Đấng Cứu Thế hiện xuống một hình giống chim bồ câu bằng ánh sáng tinh khiết nhất, — biểu tượng thích hợp cho Ngài, Đấng nhu mì và khiêm nhường. DA 112.1
Trong đoàn dân đông đảo tại sông Giô-đanh, ít người ngoài Giăng nhận ra khải tượng thiên thượng ấy. Tuy nhiên, sự trang nghiêm của sự hiện diện thiêng liêng đã ngự trên hội chúng. Dân chúng đứng lặng yên nhìn chăm vào Đấng Christ. Hình dáng Ngài được tắm trong ánh sáng luôn bao quanh ngai Đức Chúa Trời. Gương mặt Ngài ngước lên rạng rỡ vinh quang như họ chưa bao giờ thấy gương mặt người nào trước đó. Từ trời mở ra, có tiếng phán rằng:
“Tức thì có tiếng từ trên trời phán rằng: Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đàng.” (Ma-thi-ơ 3:17)
DA 112.2
Những lời xác chứng này được ban cho để gây dựng đức tin nơi những người chứng kiến cảnh tượng ấy, và để thêm sức cho Đấng Cứu Thế trong sứ mạng của Ngài. Mặc dầu tội lỗi của một thế gian phạm tội được chất trên Đấng Christ, mặc dầu sự hạ mình mang lấy bản tánh sa ngã của chúng ta, tiếng phán từ trời vẫn tuyên bố Ngài là Con của Đấng Đời Đời. DA 112.3
Giăng đã vô cùng cảm động khi thấy Đức Chúa Giê-su cúi mình như một kẻ cầu xin, nài xin cùng những giọt nước mắt để được sự chấp nhận của Đức Chúa Cha. Khi vinh quang của Đức Chúa Trời bao quanh Ngài, và tiếng phán từ trời được nghe thấy, Giăng nhận ra dấu hiệu mà Đức Chúa Trời đã hứa. Ông biết rằng chính Đấng Cứu Chuộc của thế gian là Đấng mà ông đã làm báp-têm. Đức Thánh Linh ngự trên ông, và với bàn tay giơ ra chỉ về Đức Chúa Giê-su, ông kêu lên:
“Qua ngày sau, Giăng thấy Đức Chúa Giê-su đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi.” (Giăng 1:29)
DA 112.4
Không một ai trong số những người nghe, và ngay cả chính người nói, hiểu được ý nghĩa của những lời ấy, “Chiên Con của Đức Chúa Trời.” Trên núi Mô-ri-a, Áp-ra-ham đã nghe câu hỏi của con trai mình: “Cha ơi,… còn chiên con đâu có đặng làm của lễ thiêu?” Người cha đáp: “Con ơi, Đức Chúa Trời sẽ sắm sẵn lấy chiên con đặng dùng làm của lễ thiêu.” Sáng-thế Ký 22:7, 8. Và trong con chiên đực mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn để thay cho Y-sác, Áp-ra-ham đã thấy biểu tượng của Đấng sẽ chịu chết vì tội lỗi loài người. Đức Thánh Linh, qua Ê-sai, tiếp lấy hình ảnh ấy, đã nói tiên tri về Đấng Cứu Thế: “Người bị dẫn đi như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt,” “và Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người” (Ê-sai 53:7, 6); nhưng dân Y-sơ-ra-ên đã không hiểu được bài học ấy. Nhiều người trong số họ xem các của lễ hi sinh giống như dân ngoại nhìn vào các của lễ của họ, — như những lễ vật mà nhờ đó chính họ có thể nguôi cơn giận của Thần Linh. Đức Chúa Trời muốn dạy họ rằng chính từ tình yêu thương của Ngài đến món quà giúp họ được hòa thuận lại với Ngài. DA 112.5
Và lời phán cùng Đức Chúa Giê-su tại sông Giô-đanh, “Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường,” bao trùm cả nhân loại. Đức Chúa Trời đã phán cùng Đức Chúa Giê-su như là Đấng đại diện cho chúng ta. Với tất cả tội lỗi và sự yếu đuối của mình, chúng ta không bị vứt bỏ như vô giá trị. “Ngài làm cho chúng ta được nhận vào trong Con yêu dấu của Ngài.” Ê-phê-sô 1:6. Sự vinh hiển đậu trên Đấng Christ là một bảo chứng về tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta. Nó nói cho chúng ta biết về quyền năng của sự cầu nguyện—làm thế nào tiếng nói của loài người có thể thấu đến tai Đức Chúa Trời, và những lời nài xin của chúng ta được tiếp nhận nơi triều đình thiên đàng. Bởi tội lỗi, trái đất đã bị cắt đứt khỏi thiên đàng, và bị xa cách khỏi sự thông công với thiên đàng; nhưng Đức Chúa Giê-su đã nối lại trái đất với cõi vinh hiển. Tình yêu thương của Ngài đã bao bọc loài người, và vươn đến từng trời cao nhất. Ánh sáng từ các cánh cửa mở chiếu xuống đầu Đấng Cứu Thế chúng ta sẽ chiếu xuống chúng ta khi chúng ta cầu xin sự giúp đỡ để chống lại cám dỗ. Tiếng phán cùng Đức Chúa Giê-su cũng phán cùng mỗi linh hồn tin kính rằng: Nầy là con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường. DA 113.1
“Hỡi kẻ rất yêu dấu, chính lúc bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, còn về sự chúng ta sẽ ra thể nào, thì điều đó chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài như vốn có thật vậy.” 1 Giăng 3:2. Đấng Cứu Chuộc chúng ta đã mở đường để cho những kẻ tội lỗi nhất, thiếu thốn nhất, bị áp bức và khinh dể nhất, có thể tìm được lối đến cùng Đức Chúa Cha. Tất cả đều có thể có một mái nhà trong những nơi ở mà Đức Chúa Giê-su đã đi sắm sẵn. “Nầy là lời phán của Đấng thánh, chân thật, là Đấng có chìa khóa của Đa-vít, mở thì không ai đóng được, đóng thì không ai mở được… nầy, ta đã mở trước mặt ngươi một cái cửa không ai đóng được.” Khải Huyền 3:7, 8. DA 113.2