Tiếng Kêu Trong Đồng Vắng

Chương này dựa trên Lu-ca 1:5-23, 57-80; 3:1-18; Ma-thi-ơ 3:1-12; Mác 1:1-8. DA 97.1

Từ giữa vòng những người trung tín trong Y-sơ-ra-ên, là những người đã trông đợi từ lâu sự đến của Đấng Mê-si, người dọn đường cho Đấng Christ đã xuất hiện. Thầy tế lễ già Xa-cha-ri và vợ ông là Ê-li-sa-bét “đều là công bình trước mặt Đức Chúa Trời;” và trong đời sống yên tĩnh và thánh khiết của họ, ánh sáng của đức tin tỏa ra như một ngôi sao giữa bóng tối của những ngày gian ác ấy. Cặp vợ chồng tin kính này được ban cho lời hứa về một người con trai, là người sẽ “đi trước mặt Chúa để dọn đường cho Ngài.” DA 97.2

Xa-cha-ri ngụ tại “miền núi xứ Giu-đa,” nhưng ông đã lên Giê-ru-sa-lem để phụng sự một tuần trong đền thờ, một sự phục vụ được đòi hỏi hai lần mỗi năm từ các thầy tế lễ của mỗi ban. “Vả, Xa-cha-ri cứ theo thứ tự trong ban mình mà làm chức tế lễ trước mặt Đức Chúa Trời. Khi đã bắt thăm theo lệ các thầy cả lập ra rồi, thì người được gọi vào nơi thánh của Chúa để dâng hương.” DA 97.3

Ông đang đứng trước bàn thờ bằng vàng nơi thánh của đền thánh. Đám mây hương cùng với những lời cầu nguyện của Y-sơ-ra-ên đang bay lên trước mặt Đức Chúa Trời. Đột nhiên, ông ý thức được một sự hiện diện thiêng liêng. Một thiên sứ của Chúa “đứng bên hữu bàn thờ.” Vị trí của thiên sứ là một dấu hiệu của ân huệ, nhưng Xa-cha-ri không lưu ý đến điều này. Trong nhiều năm, ông đã cầu nguyện cho sự đến của Đấng Cứu Chuộc; nay thiên đàng đã sai sứ giả đến công bố rằng những lời cầu nguyện ấy sắp được nhậm; nhưng lòng thương xót của Đức Chúa Trời dường như quá lớn đối với ông để có thể tin. Ông tràn đầy sợ hãi và tự kết án. DA 97.4

Nhưng ông được chào đón bằng lời bảo đảm vui mừng: “Hỡi Xa-cha-ri, đừng sợ, vì lời cầu nguyện ngươi đã được nhậm rồi. Ê-li-sa-bét vợ ngươi sẽ sanh một con trai, ngươi khá đặt tên là Giăng. Con trai đó sẽ làm cho ngươi vui mừng hớn hở, và nhiều kẻ sẽ mừng rỡ về sự sanh người ra. Vì người sẽ nên tôn trọng trước mặt Chúa; không uống rượu hay là giống gì làm cho say; và sẽ được đầy dẫy Đức Thánh Linh… Người sẽ làm cho nhiều con trai Y-sơ-ra-ên trở lại cùng Chúa, là Đức Chúa Trời của họ. Chính người lại sẽ lấy tâm thần quyền phép Ê-li mà đi trước mặt Chúa, để đem lòng cha trở về con cái, kẻ loạn nghịch đến sự khôn ngoan của người công bình, đặng sửa soạn cho Chúa một dân sẵn lòng. Xa-cha-ri thưa rằng: Bởi sao tôi biết được điều đó? Vì tôi đã già, vợ tôi đã cao tuổi rồi.” DA 98.1

Xa-cha-ri biết rõ làm thế nào Áp-ra-ham trong tuổi già được ban cho một đứa con bởi vì ông tin Đấng đã hứa là thành tín. Nhưng trong một khoảnh khắc, vị thầy tế lễ già này quay ý tưởng của mình về sự yếu đuối của con người. Ông quên rằng điều gì Đức Chúa Trời đã hứa, Ngài có quyền thực hiện. Thật là một sự tương phản giữa sự chẳng tin này với đức tin ngọt ngào, như con trẻ của Ma-ri, thiếu nữ ở Na-xa-rét, là người đã đáp lời thông báo kỳ diệu của thiên sứ rằng: “Tôi đây là tôi tớ Chúa; xin sự ấy xảy ra cho tôi như lời người truyền!” Lu-ca 1:38. DA 98.2

Sự sanh ra một con trai cho Xa-cha-ri, cũng như sự sanh ra đứa con của Áp-ra-ham, và của Ma-ri, là để dạy một chân lý thiêng liêng lớn lao, một chân lý mà chúng ta chậm học hỏi và dễ quên lãng. Trong chính mình, chúng ta không có khả năng làm điều lành nào; nhưng điều mà chúng ta không thể làm sẽ được quyền năng của Đức Chúa Trời thực hiện trong mỗi linh hồn thuận phục và tin cậy. Chính nhờ đức tin mà đứa con của lời hứa được ban cho. Chính nhờ đức tin mà sự sống thiêng liêng được sinh ra, và chúng ta được làm cho có thể làm những việc công bình. DA 98.3

Đáp lời thắc mắc của Xa-cha-ri, thiên sứ nói: “Ta là Gáp-ri-ên, đứng rồi mặt Đức Chúa Trời; Ngài đã sai ta đến truyền cho ngươi và báo tin mừng nầy.” Năm trăm năm trước, Gáp-ri-ên đã tỏ cho Đa-ni-ên biết về thời kỳ tiên tri sẽ kéo dài cho đến sự đến của Đấng Christ. Sự hiểu biết rằng cuối thời kỳ này đã gần đã thúc giục Xa-cha-ri cầu nguyện cho sự đến của Đấng Mê-si. Nay chính sứ giả đã truyền lời tiên tri ấy đã đến để công bố sự ứng nghiệm của nó. DA 98.4

Lời của thiên sứ, “Ta là Gáp-ri-ên, đứng rồi mặt Đức Chúa Trời,” cho thấy rằng người giữ một vị trí tôn vinh cao trọng trong cung điện thiên đàng. Khi đến với một sứ điệp cho Đa-ni-ên, người nói: “Chẳng có ai giúp ta để chống với chúng nó, ngoài Mi-ca-ên [Đấng Christ], là vua các ngươi.” Đa-ni-ên 10:21. Về Gáp-ri-ên, Đấng Cứu Thế đã phán trong sách Khải Huyền, rằng “Ngài đã sai thiên sứ đến tỏ những điều đó cho Giăng, tôi tớ Ngài.” Khải Huyền 1:1. Và cho Giăng, thiên sứ tuyên bố: “Ta là bạn tôi tớ với ngươi và với anh em ngươi là các đấng tiên tri.” Khải Huyền 22:9. Thật là một ý tưởng kỳ diệu—rằng vị thiên sứ đứng kề tôn vinh sau Con Đức Chúa Trời là người được chọn để mở ra những mục đích của Đức Chúa Trời cho loài người tội lỗi. DA 99.1

Xa-cha-ri đã bày tỏ sự nghi ngờ về lời của thiên sứ. Ông sẽ không nói được nữa cho đến khi những lời ấy được ứng nghiệm. Thiên sứ nói: “Nầy, ngươi sẽ câm,… cho đến ngày nào các điều ấy xảy ra, vì ngươi không tin lời ta, là lời đến kỳ sẽ ứng nghiệm.” Bổn phận của thầy tế lễ trong sự phục vụ này là cầu nguyện cho sự tha thứ các tội lỗi công cộng và quốc gia, và cho sự đến của Đấng Mê-si; nhưng khi Xa-cha-ri cố gắng làm điều này, ông không thể thốt ra một lời nào. DA 99.2

Bước ra để chúc phước cho dân chúng, “người ra dấu cho họ mà không nói được.” Họ đã chờ đợi lâu, và đã bắt đầu lo sợ rằng ông đã bị triệt hạ bởi sự phán xét của Đức Chúa Trời. Nhưng khi ông bước ra từ nơi thánh, mặt ông chói sáng với sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, “họ nhận biết người đã thấy sự hiện thấy gì trong đền thờ.” Xa-cha-ri thuật lại cho họ điều ông đã thấy và nghe; và “khi những ngày về phần việc mình đã trọn, người trở về nhà.” DA 99.3

Chẳng bao lâu sau khi đứa con của lời hứa được sanh ra, lưỡi của người cha được mở ra, “bèn nói ra mà ngợi khen Đức Chúa Trời. Hết thảy xóm giềng đều kinh sợ, và người ta nói chuyện với nhau về mọi sự ấy khắp miền núi xứ Giu-đê. Ai nghe cũng ghi vào lòng mà nói rằng: Ấy vậy, con trẻ đó sẽ ra thể nào?” Tất cả những điều này nhằm hướng sự chú ý đến sự đến của Đấng Mê-si, mà Giăng phải dọn đường cho Ngài. DA 99.4

Đức Thánh Linh ngự trên Xa-cha-ri, và bằng những lời đẹp đẽ này, ông đã tiên tri về sứ mạng của con trai mình: DA 100.1

“Hỡi con trẻ, người ta sẽ kêu con là tiên tri của Đấng Rất Cao; Con sẽ đi trước mặt Chúa, dọn đường Ngài, Để cho dân Ngài bởi sự tha tội họ mà biết sự rỗi. Vì Đức Chúa Trời chúng tôi động lòng thương xót, Và mặt trời mọc lên từ nơi cao thăm viếng chúng tôi, Để soi những kẻ ngồi chỗ tối tăm và trong bóng sự chết, Cùng đưa chân chúng tôi đi đường bình an.” DA 100.2

“Vả, con trẻ ấy lớn lên, tâm thần mạnh mẽ, ở nơi đồng vắng cho đến ngày tỏ mình ra cùng dân Y-sơ-ra-ên.” Trước khi Giăng được sanh ra, thiên sứ đã nói: “Người sẽ nên tôn trọng trước mặt Chúa; không uống rượu hay là giống gì làm cho say; và sẽ được đầy dẫy Đức Thánh Linh.” Đức Chúa Trời đã kêu gọi con trai của Xa-cha-ri vào một công việc lớn lao, công việc lớn nhất từng được giao phó cho loài người. Để hoàn thành công việc này, ông phải có Chúa làm việc cùng. Và Thần của Đức Chúa Trời sẽ ở cùng ông nếu ông để ý đến sự chỉ dạy của thiên sứ. DA 100.3

Giăng phải đi ra như sứ giả của Đức Giê-hô-va, để đem đến cho loài người ánh sáng của Đức Chúa Trời. Ông phải đem đến một hướng đi mới cho tư tưởng của họ. Ông phải in sâu vào lòng họ sự thánh khiết trong những đòi hỏi của Đức Chúa Trời, và nhu cầu của họ về sự công bình trọn vẹn của Ngài. Một sứ giả như thế phải là người thánh khiết. Ông phải là một đền thờ cho Thần của Đức Chúa Trời ngự bên trong. Để hoàn thành sứ mạng của mình, ông phải có một thể chất khỏe mạnh, và sức mạnh tâm trí lẫn thuộc linh. Vì vậy, ông cần phải kiểm soát các sự thèm khát và dục vọng. Ông phải có thể kiểm soát mọi năng lực của mình đến nỗi ông có thể đứng giữa loài người mà không bị lay chuyển bởi hoàn cảnh chung quanh như những vầng đá và núi non nơi đồng vắng. DA 100.4

Vào thời Giăng Báp-tít, lòng tham lam của cải, sự ham mê xa hoa và phô trương đã trở nên phổ biến. Những thú vui nhục dục, sự ăn uống chè chén đã gây nên bệnh tật và sự suy đồi về thể chất, làm tê liệt nhận thức thuộc linh, và làm giảm sự nhạy cảm đối với tội lỗi. Giăng phải đứng lên như một nhà cải cách. Bằng đời sống tiết độ và y phục giản dị của mình, ông phải quở trách những sự thái quá của thời đại mình. Vì vậy mới có những lời chỉ dẫn ban cho cha mẹ của Giăng,—một bài học về sự tiết độ do một thiên sứ từ ngai trời ban xuống. DA 100.5

Trong thời thơ ấu và tuổi thanh xuân, tánh nết dễ uốn nắn nhất. Khi ấy năng lực tự chủ cần phải được hình thành. Bên lò sưởi và quanh bàn ăn gia đình, có những ảnh hưởng được phát huy mà kết quả của chúng bền lâu như cõi đời đời. Hơn bất cứ tài năng thiên phú nào, những thói quen được lập nên trong những năm đầu đời sẽ quyết định một người sẽ chiến thắng hay thất bại trong cuộc chiến của đời sống. Tuổi trẻ là mùa gieo giống. Nó quyết định tánh chất của mùa gặt, cho đời nầy và cho đời sau. DA 101.1

Là một tiên tri, Giăng phải “đem lòng cha trở về con cái, kẻ loạn nghịch đến sự khôn ngoan của người công bình, để sửa soạn cho Chúa một dân sẵn lòng.” Trong khi dọn đường cho sự giáng lâm lần thứ nhất của Đấng Christ, ông là người đại diện cho những kẻ sẽ chuẩn bị một dân sẵn lòng cho sự tái lâm của Chúa chúng ta. Thế gian buông mình theo sự tư dục. Những sai lầm và truyện hoang đường lan tràn. Những cạm bẫy của Sa-tan để hủy diệt linh hồn ngày càng gia tăng. Tất cả những ai muốn nên thánh trọn vẹn trong sự kính sợ Đức Chúa Trời đều phải học những bài học về sự tiết độ và tự chủ. Sự thèm muốn và dục vọng phải được kềm giữ dưới những năng lực cao hơn của tâm trí. Sự kỷ luật bản thân nầy là điều cốt yếu cho sức mạnh tinh thần và sự sáng suốt thuộc linh, là điều sẽ giúp chúng ta hiểu và thực hành những lẽ thật thiêng liêng của Lời Đức Chúa Trời. Vì lý do nầy mà sự tiết độ tìm được chỗ đứng của nó trong công cuộc chuẩn bị cho sự tái lâm của Đấng Christ. DA 101.2

Theo lẽ thường tình, con trai của Xa-cha-ri lẽ ra phải được dạy dỗ để làm thầy tế lễ. Nhưng việc đào tạo trong các trường của các thầy thông giáo lẽ ra đã làm cho ông không hợp với công việc của mình. Đức Chúa Trời đã không sai ông đến với các giáo sư thần học để học cách giải nghĩa Kinh Thánh. Ngài đã gọi ông vào đồng vắng, để ông học hỏi từ thiên nhiên và từ Đức Chúa Trời của thiên nhiên. DA 101.3

Đó là một vùng hoang vắng, nơi ông tìm thấy nhà của mình, giữa những đồi trọc, những khe núi hoang dại, và những hang đá. Nhưng đó là sự lựa chọn của ông khi từ bỏ những lạc thú và xa hoa của đời sống để chịu lấy kỷ luật khắc nghiệt của đồng vắng. Tại đây, hoàn cảnh chung quanh ông thuận lợi cho những thói quen giản dị và tự chối mình. Không bị quấy rầy bởi sự ồn ào của thế gian, tại đây ông có thể học những bài học của thiên nhiên, của sự mặc khải, và của Đấng Quan Phòng. Những lời của thiên sứ nói cùng Xa-cha-ri đã thường được cha mẹ kính sợ Đức Chúa Trời của Giăng nhắc lại cho ông. Từ thuở ấu thơ, sứ mạng của ông luôn được giữ trước mắt ông, và ông đã chấp nhận sự ủy thác thánh khiết ấy. Đối với ông, sự cô tịch của đồng vắng là một nơi trú ẩn đáng ao ước, thoát khỏi xã hội mà trong đó sự nghi ngờ, vô tín và ô uế đã trở nên hầu như tràn lan khắp nơi. Ông không tin cậy nơi sức riêng của mình để chống lại sự cám dỗ, và lánh xa khỏi sự tiếp xúc thường xuyên với tội lỗi, kẻo ông đánh mất ý thức về sự cực kỳ tội lỗi của nó. DA 101.4

Được dâng cho Đức Chúa Trời như một người Na-xi-rê từ lúc sanh ra, ông đã tự mình giữ lời thề ấy trong sự dâng mình trọn đời. Y phục của ông giống như y phục của các tiên tri thời xưa, một chiếc áo bằng lông lạc đà, thắt bằng dây lưng bằng da. Ông ăn “châu chấu và mật ong rừng” tìm được trong đồng vắng, và uống nước trong lành từ các đồi núi. DA 102.1

Nhưng đời sống của Giăng không phải trải qua trong sự nhàn rỗi, trong sự u sầu khổ hạnh, hay trong sự cô lập ích kỷ. Thỉnh thoảng ông đi ra để hòa mình với mọi người; và ông luôn là một người quan sát đầy quan tâm những điều đang xảy ra trong thế gian. Từ nơi ẩn dật tĩnh lặng của mình, ông theo dõi sự diễn tiến của các biến cố. Với tầm nhìn được soi sáng bởi Thần Linh của Đức Chúa Trời, ông nghiên cứu tánh nết của loài người, để có thể hiểu cách nào chạm đến lòng họ với sứ điệp từ trời. Gánh nặng của sứ mạng đặt trên ông. Trong sự cô tịch, qua sự suy gẫm và cầu nguyện, ông tìm cách thắt lưng linh hồn mình cho công việc trọn đời đang chờ đợi trước mặt. DA 102.2

Dầu ở trong đồng vắng, ông cũng không được miễn khỏi sự cám dỗ. Trong khả năng có thể, ông đóng kín mọi ngả đường mà Sa-tan có thể xâm nhập, thế nhưng ông vẫn còn bị kẻ cám dỗ tấn công. Nhưng nhận thức thuộc linh của ông rõ ràng; ông đã phát triển sức mạnh và tánh quả quyết, và nhờ sự trợ giúp của Đức Thánh Linh, ông có thể nhận ra những sự tiến đến của Sa-tan, và chống lại quyền lực của nó. DA 102.3

Giăng tìm thấy trong đồng vắng trường học và đền thánh của mình. Giống như Môi-se giữa các núi xứ Ma-đi-an, ông được bao bọc trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời, và vây quanh bởi những bằng chứng về quyền năng của Ngài. Số phận của ông không phải là cư ngụ, như nhà lãnh đạo vĩ đại của Y-sơ-ra-ên đã làm, giữa sự uy nghiêm long trọng của những núi cô tịch; nhưng trước mặt ông là những đỉnh cao của Mô-áp, bên kia sông Giô-đanh, nói về Đấng đã lập vững các núi, và thắt sức mạnh quanh chúng. Vẻ u ám và đáng sợ của thiên nhiên nơi quê hương đồng vắng của ông đã vẽ nên cách sống động tình trạng của Y-sơ-ra-ên. Vườn nho phì nhiêu của Chúa đã trở nên hoang vu tiêu điều. Nhưng phía trên đồng vắng, các từng trời uốn cong rực rỡ và xinh đẹp. Những đám mây kéo đến, đen tối với bão tố, được vòng qua bởi cầu vồng của lời hứa. Cũng vậy, trên sự suy đồi của Y-sơ-ra-ên chiếu sáng vinh quang đã hứa của triều đại Đấng Mê-si. Những đám mây thạnh nộ được bắc qua bởi cầu vồng của lòng thương xót giao ước của Ngài. DA 102.4

Một mình trong đêm tĩnh lặng, ông đọc lời Đức Chúa Trời hứa cùng Áp-ra-ham về một dòng dõi đông như sao trên trời. Ánh sáng bình minh, dát vàng trên các núi Mô-áp, nói về Đấng sẽ giống như “sự sáng buổi sớm mai, khi mặt trời mọc lên, một buổi sớm mai chẳng có mây.” 2 Sa-mu-ên 23:4. Và trong sự sáng rực của ban trưa, ông thấy sự huy hoàng của sự hiện ra của Ngài, khi “sự vinh hiển của Đức Giê-hô-va sẽ hiện ra, và mọi xác thịt đều sẽ xem thấy.” Ê-sai 40:5. DA 102.5

Với tâm thần kính sợ nhưng hân hoan, ông tra xét trong các cuộn sách tiên tri những sự mặc khải về sự đến của Đấng Mê-si,—dòng dõi đã hứa sẽ giày đạp đầu con rắn; Si-lô, “Đấng ban sự bình an,” là Đấng sẽ xuất hiện trước khi một vua ngừng cai trị trên ngôi Đa-vít. Bây giờ thì giờ đã đến. Một nhà cai trị La-mã ngồi trong cung điện trên núi Si-ôn. Bởi lời chắc chắn của Chúa, Đấng Christ đã được sanh ra rồi. DA 103.1

Những sự miêu tả say mê của Ê-sai về vinh quang của Đấng Mê-si là điều ông học hỏi ngày và đêm,—Chồi từ gốc Gie-sê; một Vua sẽ cai trị trong sự công bình, đoán xét “công bình cho những kẻ nhu mì của đất;” “như nơi núp gió bão;… như bóng vầng đá lớn trong xứ mòn mỏi;” Y-sơ-ra-ên sẽ không còn gọi là “Bị Bỏ,” cũng không gọi đất nàng là “Hoang vu,” nhưng sẽ được Chúa gọi là “Sự Vui Thích Của Ta,” và đất nàng là “Bê-u-la.” Ê-sai 11:4; 32:2; 62:4. Lòng của người lưu đày cô đơn được tràn đầy bởi khải tượng vinh hiển ấy. DA 103.2

Ông nhìn xem Vua trong vẻ đẹp của Ngài, và bản thân được quên đi. Ông chiêm ngưỡng sự uy nghi của sự thánh khiết, và cảm thấy mình thật bất tài và không xứng đáng. Ông sẵn sàng đi ra như sứ giả của Thiên Đàng, không sợ hãi điều thuộc về loài người, bởi vì ông đã nhìn xem Đấng Thiêng Liêng. Ông có thể đứng thẳng và không sợ hãi trước sự hiện diện của các vua chúa thế gian, bởi vì ông đã cúi mình thấp trước Vua của các vua. DA 103.3

Giăng không hoàn toàn hiểu rõ bản chất nước của Đấng Mê-si. Ông trông đợi Y-sơ-ra-ên được giải cứu khỏi các kẻ thù của dân tộc mình; nhưng sự đến của một Vua trong sự công bình, và sự thiết lập Y-sơ-ra-ên thành một dân thánh, là mục tiêu lớn của niềm hy vọng nơi ông. Như vậy ông tin rằng lời tiên tri đã ban cho khi ông sanh ra sẽ được ứng nghiệm,— DA 103.4

“Mà nhớ lại giao ước thánh của Ngài;… Mà hứa rằng khi chúng tôi đã được cứu khỏi tay kẻ nghịch thù, Ngài sẽ ban ơn lành cho chúng tôi, trước mặt Ngài, Lấy sự thánh khiết và công bình mà hầu việc Ngài, trọn đời mình không sợ hãi gì hết.” DA 103.5

Ông thấy dân mình bị lừa dối, tự mãn, và ngủ mê trong tội lỗi của họ. Ông khao khát đánh thức họ đến một đời sống thánh khiết hơn. Sứ điệp mà Đức Chúa Trời đã giao cho ông mang đến được thiết kế để làm cho họ giật mình thoát khỏi sự uể oải, và khiến họ run sợ vì sự gian ác lớn lao của mình. Trước khi hạt giống của tin lành có thể tìm được chỗ bám rễ, mảnh đất của tấm lòng phải được cày xới. Trước khi họ tìm sự chữa lành từ Đức Chúa Giê-su, họ phải được đánh thức để nhận biết hiểm họa của mình từ những vết thương của tội lỗi. DA 103.6

Đức Chúa Trời không sai các sứ giả đến để tâng bốc kẻ có tội. Ngài không truyền sứ điệp bình an nào để ru ngủ kẻ chưa được thánh hóa vào sự an toàn chết người. Ngài đặt những gánh nặng nề lên lương tâm của kẻ làm điều sai trái, và đâm thấu linh hồn bằng những mũi tên cáo trách. Các thiên sứ phục vụ trình bày cho người ấy những sự phán xét đáng sợ của Đức Chúa Trời để làm sâu sắc thêm ý thức về nhu cầu, và thúc giục tiếng kêu, “Tôi phải làm chi cho được cứu rỗi?” Bấy giờ bàn tay đã hạ xuống bụi đất sẽ nâng kẻ ăn năn lên. Tiếng nói đã quở trách tội lỗi, và làm xấu hổ sự kiêu ngạo cùng tham vọng, sẽ hỏi với lòng cảm thương dịu dàng nhất, “Ngươi muốn ta làm chi cho ngươi?” DA 104.1

Khi chức vụ của Giăng bắt đầu, dân tộc đang ở trong tình trạng kích động và bất mãn gần đến mức cách mạng. Khi A-chê-la-u bị bãi nhiệm, xứ Giu-đê đã bị đặt trực tiếp dưới quyền kiểm soát của La-mã. Sự bạo ngược và bóc lột của các tổng đốc La-mã, cùng những nỗ lực kiên quyết của họ nhằm đưa vào các biểu tượng và phong tục ngoại giáo, đã nhóm lên cuộc nổi loạn, mà đã bị dập tắt trong máu của hàng ngàn người dũng cảm nhất của Y-sơ-ra-ên. Tất cả những điều này càng làm gia tăng lòng căm thù của dân tộc đối với La-mã, và càng làm tăng thêm sự khao khát được giải thoát khỏi quyền lực của nó. DA 104.2

Giữa sự bất hòa và tranh chấp, một tiếng nói được nghe từ đồng vắng, một tiếng nói gây giật mình và nghiêm khắc, nhưng đầy hy vọng: “Các ngươi phải ăn năn; vì nước thiên đàng đã đến gần.” Với một quyền năng mới mẻ, lạ lùng, nó đã làm rúng động lòng người. Các tiên tri đã báo trước sự đến của Đấng Christ như một biến cố ở tận tương lai xa xôi; nhưng đây là lời tuyên bố rằng điều ấy đã đến gần. Sự xuất hiện khác thường của Giăng đưa tâm trí của những người nghe ông trở về với các nhà tiên kiến cổ xưa. Trong phong cách và y phục, ông giống tiên tri Ê-li. Với tâm thần và quyền năng của Ê-li, ông lên án sự bại hoại của dân tộc, và quở trách những tội lỗi đang thịnh hành. Lời của ông rõ ràng, sắc bén, và đầy sức thuyết phục. Nhiều người tin rằng ông là một trong các tiên tri đã sống lại từ kẻ chết. Cả dân tộc đều xúc động. Đoàn dân đông kéo nhau đến đồng vắng. DA 104.3

Giăng rao báo sự đến của Đấng Mê-si, và kêu gọi dân chúng ăn năn. Như một biểu tượng của sự tẩy sạch khỏi tội lỗi, ông làm phép báp-têm cho họ trong dòng nước sông Giô-đanh. Như vậy, bằng một bài học thực tiễn đầy ý nghĩa, ông tuyên bố rằng những kẻ tự xưng là dân được chọn của Đức Chúa Trời đã bị tội lỗi làm ô uế, và rằng nếu không có sự thanh tẩy tấm lòng và đời sống, họ không thể có phần trong nước của Đấng Mê-si. DA 104.4

Các vương hầu và thầy thông giáo, binh lính, người thâu thuế, và nông dân đều đến nghe vị tiên tri. Trong một thời gian, lời cảnh báo nghiêm trọng từ Đức Chúa Trời đã làm họ kinh hãi. Nhiều người được đưa đến sự ăn năn, và chịu phép báp-têm. Người thuộc mọi tầng lớp đều thuận theo đòi hỏi của Giăng Báp-tít, để được dự phần trong vương quốc mà ông rao báo. DA 105.1

Nhiều thầy thông giáo và người Pha-ri-si đến xưng tội mình, và xin chịu phép báp-têm. Họ đã tự đề cao mình tốt hơn người khác, và đã khiến dân chúng có ấn tượng cao về lòng tin kính của họ; bây giờ những bí mật tội lỗi trong đời sống họ bị phơi bày. Nhưng Giăng được Đức Thánh Linh cảm động để biết rằng nhiều người trong số họ không có sự cáo trách thật sự về tội lỗi. Họ là những kẻ cơ hội. Là bạn của vị tiên tri, họ hy vọng được ơn nơi vị Hoàng tử sắp đến. Và bằng cách nhận phép báp-têm từ tay vị giáo sư trẻ được lòng dân này, họ tưởng có thể củng cố ảnh hưởng của mình với dân chúng. DA 105.2

Giăng gặp họ với câu hỏi gay gắt, “Hỡi dòng dõi rắn lục, ai đã dạy các ngươi tránh khỏi cơn thạnh nộ ngày sau? Vậy, các ngươi hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn; và đừng tự nghĩ rằng, Chúng ta có Áp-ra-ham là tổ; vì ta nói cùng các ngươi, Đức Chúa Trời có thể khiến đá nầy sanh ra con cái cho Áp-ra-ham được.” DA 105.3

Người Do Thái đã hiểu sai lời hứa của Đức Chúa Trời về ân huệ đời đời cho Y-sơ-ra-ên:

“Đức Giê-hô-va, là Đấng đã ban mặt trời làm sự sáng ban ngày, ban thứ tự mặt trăng và ngôi sao soi ban đêm, lật biển lên, đến nỗi sóng nó gầm thét, Đức Giê-hô-va vạn quân là danh của Ngài phán rằng: Nếu lệ luật đó mất đi khỏi trước mặt ta, thì bấy giờ dòng giống Y-sơ-ra-ên cũng sẽ thôi không làm một nước trước mặt ta đời đời, Đức Giê-hô-va phán vậy. Đức Giê-hô-va phán như vầy: Nếu trên có thể đo được trời, dưới có thể dò được nền đất; thì cũng vậy, ta sẽ bỏ trọn cả dòng giống Y-sơ-ra-ên vì cớ mọi điều chúng nó đã làm, Đức Giê-hô-va phán vậy.” (Giê-rê-mi 31:35-37)

Người Do Thái xem dòng dõi tự nhiên của họ từ Áp-ra-ham như đem lại cho họ quyền đòi hỏi lời hứa này. Nhưng họ đã bỏ qua những điều kiện mà Đức Chúa Trời đã chỉ định. Trước khi ban lời hứa, Ngài đã phán,

“Đức Giê-hô-va phán: Nầy là giao ước mà ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên sau những ngày đó. Ta sẽ đặt luật pháp ta trong bụng chúng nó và chép vào lòng. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời chúng nó, chúng nó sẽ làm dân ta. Chúng nó ai nấy sẽ chẳng dạy kẻ lân cận mình hay là anh em mình, mà rằng: Hãy nhận biết Đức Giê-hô-va! Vì chúng nó thảy đều sẽ biết ta, kẻ nhỏ cũng như kẻ lớn. Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ tha sự gian ác chúng nó, và chẳng nhớ tội chúng nó nữa.” (Giê-rê-mi 31:33,34)

DA 106.1

Đối với một dân tộc mà trong lòng họ có luật pháp Ngài được ghi chép, ân huệ của Đức Chúa Trời được bảo đảm. Họ là một với Ngài. Nhưng người Do Thái đã tự tách mình khỏi Đức Chúa Trời. Vì cớ tội lỗi của họ, họ phải chịu khổ dưới những sự phán xét của Ngài. Đây là nguyên nhân của sự nô lệ của họ cho một dân ngoại giáo. Tâm trí họ bị tối tăm bởi sự vi phạm, và vì trong quá khứ Chúa đã tỏ cho họ ân huệ lớn dường ấy, nên họ bào chữa cho tội lỗi của mình. Họ tự tâng bốc rằng mình tốt hơn người khác, và xứng đáng được các ơn phước của Ngài. DA 106.2

Những điều này “được chép để răn bảo chúng ta, là kẻ ở gần cuối cùng các đời.” 1 Cô-rinh-tô 10:11. Biết bao lần chúng ta hiểu sai những ơn phước của Đức Chúa Trời, và tự tâng bốc rằng mình được ưu đãi vì cớ một sự tốt lành nào đó trong chúng ta! Đức Chúa Trời không thể làm cho chúng ta điều mà Ngài hằng khao khát làm. Các ân tứ của Ngài bị dùng để gia tăng sự tự mãn của chúng ta, và làm chai cứng lòng chúng ta trong sự chẳng tin và tội lỗi. DA 106.3

Giăng tuyên bố với các giáo sư của Y-sơ-ra-ên rằng sự kiêu ngạo, ích kỷ, và độc ác của họ cho thấy họ là dòng dõi rắn lục, một sự rủa sả chết người cho dân chúng, chứ không phải con cái của Áp-ra-ham công bình và vâng lời. Xét theo ánh sáng họ đã nhận được từ Đức Chúa Trời, họ còn tệ hơn cả dân ngoại giáo mà họ cảm thấy mình cao trọng hơn nhiều. Họ đã quên mất tảng đá mà từ đó họ được đẽo ra, và cái hố vực mà từ đó họ được đào lên. Đức Chúa Trời không lệ thuộc vào họ để hoàn thành mục đích của Ngài. Như Ngài đã gọi Áp-ra-ham ra khỏi một dân ngoại giáo, thì Ngài cũng có thể gọi những người khác đến phục vụ Ngài. Bây giờ tấm lòng họ có thể có vẻ vô hồn như những hòn đá nơi sa mạc, nhưng Thánh Linh Ngài có thể làm cho họ sống lại để làm theo ý muốn Ngài, và nhận được sự ứng nghiệm của lời hứa Ngài. DA 106.4

“Bây giờ cái búa đã để kề rễ cây,” vị tiên tri nói, “hễ cây nào không sanh trái tốt, thì sẽ phải đốn và chụm.” Không phải bởi danh xưng, nhưng bởi trái của nó, mà giá trị của một cây được định đoạt. Nếu trái vô giá trị, thì danh xưng không thể cứu cây khỏi sự hủy diệt. Giăng tuyên bố với người Do Thái rằng địa vị của họ trước Đức Chúa Trời sẽ được định đoạt bởi tánh nết và đời sống của họ. Lời xưng nhận là vô giá trị. Nếu đời sống và tánh nết họ không hòa hợp với luật pháp Đức Chúa Trời, thì họ không phải là dân của Ngài. DA 107.1

Dưới những lời dò xét tấm lòng của ông, những người nghe ông bị cáo trách. Họ đến với ông với câu hỏi, “Vậy thì chúng tôi phải làm gì?” Ông đáp, “Ai có hai áo, hãy lấy một cái cho người không có; và ai có đồ ăn cũng nên làm như vậy.” Và ông cảnh báo những người thâu thuế chống lại sự bất công, và binh lính chống lại sự bạo lực. DA 107.2

Ông nói, tất cả những ai trở thành thần dân của nước Đấng Christ sẽ bày tỏ bằng chứng của đức tin và sự ăn năn. Lòng nhân từ, sự lương thiện, và lòng trung thành sẽ được thấy trong đời sống họ. Họ sẽ phục vụ kẻ thiếu thốn, và đem các của lễ mình đến cho Đức Chúa Trời. Họ sẽ che chở kẻ không nơi nương tựa, và làm gương về đức hạnh và lòng thương xót. Cũng vậy, những kẻ theo Đấng Christ sẽ bày tỏ bằng chứng về quyền năng biến đổi của Đức Thánh Linh. Trong đời sống hằng ngày, sự công bình, lòng thương xót, và tình yêu thương của Đức Chúa Trời sẽ được thấy. Bằng không, họ giống như rơm rạ bị ném vào lửa. DA 107.3

“Về phần ta, ta lấy nước mà làm phép báp-têm cho các ngươi ăn năn,” Giăng nói; “song Đấng đến sau ta có quyền phép hơn ta, ta không đáng xách giày Ngài. Ấy là Đấng sẽ làm phép báp-têm cho các ngươi bằng Đức Thánh Linh và bằng lửa.” Ma-thi-ơ 3:11 (theo bản R.V., lời chú thích bên lề). Tiên tri Ê-sai đã tuyên bố rằng Chúa sẽ tẩy sạch dân Ngài khỏi sự gian ác của họ “bằng thần công bình cùng thần thiêu đốt.” Lời của Chúa phán cho Y-sơ-ra-ên là, “Ta sẽ lại tra tay trên ngươi, làm tan sạch hết cáu cặn ngươi, và bỏ hết chất pha của ngươi.” Ê-sai 4:4; 1:25. Đối với tội lỗi, ở bất cứ nơi nào tìm thấy, “Đức Chúa Trời chúng ta là đám lửa hay thiêu đốt.” Hê-bơ-rơ 12:29. Trong tất cả những ai thuận phục quyền năng Ngài, Thánh Linh của Đức Chúa Trời sẽ thiêu hủy tội lỗi. Nhưng nếu người ta cứ bám lấy tội lỗi, họ trở nên đồng nhất với nó. Khi ấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, vốn hủy diệt tội lỗi, ắt phải hủy diệt họ. Gia-cốp, sau đêm vật lộn với Thiên sứ, đã kêu lên rằng, “Tôi đã thấy Đức Chúa Trời đối mặt cùng tôi, mà linh hồn tôi được giải cứu.” Sáng-thế Ký 32:30. Gia-cốp đã phạm một tội lớn trong cách cư xử của ông đối với Ê-sau; nhưng ông đã ăn năn. Sự vi phạm của ông đã được tha thứ, và tội lỗi ông đã được tẩy sạch; vì vậy ông có thể chịu đựng được sự bày tỏ về sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Nhưng hễ nơi nào người ta đến trước mặt Đức Chúa Trời mà vẫn cố ý nuôi dưỡng điều ác, thì họ bị hủy diệt. Trong sự tái lâm của Đấng Christ, kẻ ác sẽ bị tiêu diệt “bởi hơi miệng Ngài,” và bị hủy diệt “bởi sự chói sáng lúc Ngài đến.” 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:8. Ánh sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời, vốn ban sự sống cho người công bình, sẽ giết chết kẻ ác. DA 107.4

Vào thời của Giăng Báp-tít, Đấng Christ sắp xuất hiện như Đấng bày tỏ bổn tánh của Đức Chúa Trời. Chính sự hiện diện của Ngài sẽ làm bày tỏ cho loài người thấy tội lỗi của họ. Chỉ khi nào họ bằng lòng được tẩy sạch khỏi tội lỗi thì họ mới có thể bước vào mối thông công với Ngài. Chỉ những người có lòng trong sạch mới có thể ở trong sự hiện diện của Ngài. DA 108.1

Như vậy, Giăng Báp-tít đã truyền sứ điệp của Đức Chúa Trời cho Y-sơ-ra-ên. Nhiều người chú ý đến lời dạy dỗ của ông. Nhiều người đã hy sinh mọi sự để vâng theo. Vô số người đã đi theo vị thầy mới này từ nơi này đến nơi khác, và không ít người nuôi hy vọng rằng ông có thể là Đấng Mê-si. Nhưng khi Giăng thấy dân chúng hướng về mình, ông tìm mọi cơ hội để hướng đức tin của họ về Đấng sẽ đến. DA 108.2