Những Ngày Xung Đột

Từ những năm đầu đời, đứa trẻ Do Thái đã bị vây quanh bởi những đòi hỏi của các thầy thông giáo. Những quy tắc cứng nhắc được quy định cho mọi hành động, đến cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất của đời sống. Dưới sự dạy dỗ của các giáo sư nhà hội, thanh thiếu niên được chỉ dạy vô số những điều luật mà với tư cách là người Y-sơ-ra-ên chính thống, họ phải tuân giữ. Nhưng Đức Chúa Giê-su không quan tâm đến những điều này. Từ thuở thơ ấu, Ngài đã hành động độc lập với những luật lệ của các thầy thông giáo. Kinh Thánh Cựu Ước là sự nghiên cứu thường xuyên của Ngài, và những lời, “Chúa phán như vầy,” luôn ở trên môi miệng Ngài. DA 84.1

Khi tình trạng của dân chúng bắt đầu mở ra trước tâm trí Ngài, Ngài thấy rằng những đòi hỏi của xã hội và những đòi hỏi của Đức Chúa Trời luôn xung đột nhau. Loài người đang lìa xa lời Đức Chúa Trời, và đề cao những lý thuyết do chính họ bày đặt ra. Họ tuân giữ những nghi lễ truyền thống chẳng có giá trị gì. Sự thờ phượng của họ chỉ là một chuỗi nghi thức lặp đi lặp lại; những chân lý thiêng liêng mà chúng được dùng để dạy dỗ thì bị che giấu khỏi những người thờ phượng. Ngài thấy rằng trong sự thờ phượng vô tín của họ, họ chẳng tìm được sự bình an nào cả. Họ không biết đến sự tự do của tâm linh sẽ đến với họ qua việc phục vụ Đức Chúa Trời trong lẽ thật. Đức Chúa Giê-su đã đến để dạy về ý nghĩa của sự thờ phượng Đức Chúa Trời, và Ngài không thể chấp thuận việc pha trộn những đòi hỏi của con người với những giới luật thiêng liêng. Ngài không công kích các giới luật hay tập tục của những giáo sư uyên bác; nhưng khi bị quở trách về những thói quen giản dị của mình, Ngài đã trưng dẫn lời Đức Chúa Trời để biện minh cho hành vi của Ngài. DA 84.2

Bằng mọi cách dịu dàng và nhu mì, Đức Chúa Giê-su cố gắng làm hài lòng những người Ngài tiếp xúc. Vì Ngài quá dịu dàng và khiêm tốn, các thầy thông giáo và các trưởng lão tưởng rằng Ngài sẽ dễ dàng bị ảnh hưởng bởi sự dạy dỗ của họ. Họ thúc giục Ngài tiếp nhận những châm ngôn và truyền thống được truyền lại từ các thầy thông giáo cổ xưa, nhưng Ngài đòi hỏi họ phải cho thấy thẩm quyền của những điều đó trong Kinh Thánh. Ngài sẵn lòng lắng nghe mọi lời ra từ miệng Đức Chúa Trời; nhưng Ngài không thể vâng theo những điều bịa đặt của loài người. Đức Chúa Giê-su dường như biết Kinh Thánh từ đầu đến cuối, và Ngài trình bày chúng theo đúng ý nghĩa thật của chúng. Các thầy thông giáo lấy làm xấu hổ khi bị một đứa trẻ chỉ dạy. Họ tự cho rằng việc giải thích Kinh Thánh là chức vụ của họ, và bổn phận của Ngài là chấp nhận sự giải nghĩa của họ. Họ phẫn nộ vì Ngài dám đứng đối nghịch với lời của họ. DA 85.1

Họ biết rằng không thể tìm thấy thẩm quyền nào trong Kinh Thánh cho những truyền thống của họ. Họ nhận ra rằng về sự hiểu biết thuộc linh, Đức Chúa Giê-su vượt xa họ. Tuy nhiên, họ tức giận vì Ngài không vâng theo mệnh lệnh của họ. Không thuyết phục được Ngài, họ tìm đến Giô-sép và Ma-ri, và trình bày trước mặt họ về thái độ không tuân phục của Ngài. Như vậy, Ngài đã chịu sự khiển trách và chỉ trích. DA 85.2

Ngay từ tuổi rất nhỏ, Đức Chúa Giê-su đã bắt đầu hành động cho chính mình trong việc hình thành phẩm cách của Ngài, và ngay cả lòng kính trọng và yêu thương cha mẹ cũng không thể khiến Ngài lìa khỏi sự vâng theo lời Đức Chúa Trời. “Có lời chép rằng” là lý do của Ngài cho mọi hành động khác với những tập tục của gia đình. Nhưng ảnh hưởng của các thầy thông giáo đã khiến cuộc đời Ngài trở nên cay đắng. Ngay cả trong tuổi trẻ, Ngài đã phải học bài học khó khăn về sự im lặng và lòng nhẫn nhịn chịu đựng. DA 86.1

Các anh em của Ngài, vì là con trai của Giô-sép nên được gọi như vậy, đã đứng về phía các thầy thông giáo. Họ nhất quyết rằng phải tuân theo những truyền thống, như thể đó là những đòi hỏi của Đức Chúa Trời. Họ thậm chí còn coi trọng những giới luật của loài người hơn cả lời Đức Chúa Trời, và họ rất bực bội trước sự thấu hiểu rõ ràng của Đức Chúa Giê-su trong việc phân biệt giữa điều giả dối và điều chân thật. Sự vâng giữ nghiêm ngặt của Ngài đối với luật pháp Đức Chúa Trời bị họ lên án là ngoan cố. Họ ngạc nhiên trước sự hiểu biết và khôn ngoan mà Ngài tỏ ra khi đối đáp với các thầy thông giáo. Họ biết rằng Ngài chưa từng nhận được sự dạy dỗ từ các bậc thông thái, vậy mà họ không thể không thấy rằng Ngài là một bậc thầy đối với họ. Họ nhận ra rằng sự giáo dục của Ngài thuộc loại cao hơn của chính họ. Nhưng họ không nhận thấy rằng Ngài có thể tiếp cận cây sự sống, một nguồn tri thức mà họ chẳng hề biết đến. DA 86.2

Đấng Christ không hề khép kín, và Ngài đã đặc biệt làm phật lòng người Pha-ri-si khi rời bỏ những quy tắc cứng nhắc của họ về phương diện này. Ngài thấy lãnh vực tôn giáo bị rào kín bởi những bức tường cao của sự cô lập, như thể đó là điều quá thiêng liêng đối với đời sống thường ngày. Những bức tường ngăn cách này Ngài đã đánh đổ. Trong sự tiếp xúc với loài người, Ngài không hỏi: Tín điều của ngươi là gì? Ngươi thuộc Hội Thánh nào? Ngài thi thố quyền năng cứu giúp của Ngài vì lợi ích của tất cả những ai cần được giúp đỡ. Thay vì ẩn mình trong am cốc của một ẩn sĩ để phô bày phẩm cách thiên thượng của Ngài, Ngài đã lao động hết lòng vì nhân loại. Ngài truyền dạy nguyên tắc rằng tôn giáo của Kinh Thánh không cốt ở sự hành xác. Ngài dạy rằng tôn giáo tinh sạch và không ô uế không chỉ dành cho những thời điểm nhất định và những dịp đặc biệt. Trong mọi lúc và ở mọi nơi, Ngài bày tỏ sự quan tâm yêu thương đối với loài người, và tỏa ra chung quanh Ngài ánh sáng của lòng sùng kính vui tươi. Tất cả những điều này là một lời quở trách đối với người Pha-ri-si. Nó cho thấy rằng tôn giáo không cốt ở sự ích kỷ, và rằng lòng tận tụy bệnh hoạn của họ đối với lợi ích cá nhân còn xa lắm mới là sự tin kính chân thật. Điều này đã khơi dậy lòng thù địch của họ đối với Đức Chúa Giê-su, đến nỗi họ tìm cách buộc Ngài phải tuân theo những quy định của họ. DA 86.3

Đức Chúa Giê-su làm việc để xoa dịu mọi trường hợp khổ đau mà Ngài thấy. Ngài có ít tiền để cho, nhưng Ngài thường nhịn ăn để cứu giúp những người dường như túng thiếu hơn Ngài. Các anh em Ngài cảm thấy ảnh hưởng của Ngài đã làm suy giảm ảnh hưởng của họ rất nhiều. Ngài có một sự khôn khéo mà không một ai trong họ có được, hay mong muốn có được. Khi họ nói lời cay nghiệt với những con người nghèo hèn, sa đọa, thì Đức Chúa Giê-su lại tìm đến chính những người ấy, và nói với họ những lời khích lệ. Đối với những người túng thiếu, Ngài sẽ cho một chén nước lạnh, và lặng lẽ đặt phần ăn của chính mình vào tay họ. Khi Ngài xoa dịu những đau khổ của họ, những chân lý Ngài dạy dỗ gắn liền với những hành động thương xót của Ngài, và nhờ đó được khắc ghi trong trí nhớ. DA 87.1

Tất cả những điều này làm các anh em Ngài không vui. Vì lớn tuổi hơn Đức Chúa Giê-su, họ cảm thấy Ngài phải chịu sự sai khiến của họ. Họ buộc tội Ngài tự cho mình cao trọng hơn họ, và quở trách Ngài vì đã đặt mình lên trên các thầy của họ cùng các thầy tế lễ và những kẻ cai trị dân chúng. Họ thường đe dọa và tìm cách uy hiếp Ngài; nhưng Ngài cứ tiến bước, lấy Kinh Thánh làm sự hướng dẫn cho mình. DA 87.2

Đức Chúa Giê-su yêu thương các anh em Ngài, và đối xử với họ bằng lòng nhân từ không hề thay đổi; nhưng họ ganh tị với Ngài, và bày tỏ sự vô tín cùng khinh miệt rõ rệt nhất. Họ không thể hiểu được hành vi của Ngài. Những mâu thuẫn lớn hiện ra nơi Đức Chúa Giê-su. Ngài là Con thiêng liêng của Đức Chúa Trời, vậy mà lại là một đứa trẻ yếu đuối. Là Đấng Tạo Hóa của các thế giới, cả trái đất là sản nghiệp của Ngài, vậy mà sự nghèo khó lại đánh dấu kinh nghiệm đời sống của Ngài trong từng bước đi. Ngài sở hữu một phẩm giá và một cá tính hoàn toàn khác biệt với lòng kiêu hãnh và sự tự phụ của thế gian; Ngài không tranh giành sự cao trọng của thế gian, và ngay cả trong địa vị thấp hèn nhất Ngài cũng vui lòng. Điều này khiến các anh em Ngài tức giận. Họ không thể lý giải được sự bình thản không ngừng của Ngài giữa thử thách và thiếu thốn. Họ không biết rằng vì cớ chúng ta mà Ngài đã trở nên nghèo khó, để qua sự nghèo khó của Ngài mà chúng ta “trở nên giàu.”

“Vì anh em biết ơn của Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc chúng ta, Ngài vốn giàu, vì anh em mà tự làm nên nghèo, hầu cho bởi sự nghèo của Ngài, anh em được nên giàu.” (II Cô-rinh-tô 8:9)

Họ không thể hiểu được sự mầu nhiệm trong sứ mạng của Ngài hơn là các bạn của Gióp có thể hiểu được sự hạ mình và đau khổ của ông. DA 87.3

Đức Chúa Giê-su bị các anh em Ngài hiểu lầm vì Ngài không giống họ. Tiêu chuẩn của Ngài không phải là tiêu chuẩn của họ. Trong khi hướng nhìn về loài người, họ đã lìa xa Đức Chúa Trời, và họ không có quyền năng của Ngài trong đời sống mình. Những hình thức tôn giáo mà họ tuân giữ không thể biến đổi phẩm cách. Họ nộp “một phần mười về bạc hà, hồi hương và rau cần,” nhưng bỏ qua “các điều hệ trọng hơn trong luật pháp, là sự công bình, thương xót và trung tín.”

“Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! Vì các ngươi nộp một phần mười bạc hà, hồi hương, và rau cần, mà bỏ điều hệ trọng hơn hết trong luật pháp, là sự công bình, thương xót và trung tín; đó là những điều các ngươi phải làm, mà cũng không nên bỏ sót những điều kia.” (Ma-thi-ơ 23:23)

Tấm gương của Đức Chúa Giê-su là một sự chọc tức liên tục đối với họ. Ngài ghét một điều duy nhất trên thế gian, ấy là tội lỗi. Ngài không thể chứng kiến một hành động sai trái mà không cảm thấy đau đớn đến nỗi không thể che giấu được. Giữa những kẻ chuộng hình thức, mà sự thánh thiện bề ngoài che giấu lòng yêu mến tội lỗi, và một phẩm cách mà lòng nhiệt thành cho vinh hiển Đức Chúa Trời luôn là tối thượng, thì sự tương phản là không thể nhầm lẫn được. Vì đời sống của Đức Chúa Giê-su lên án điều ác, nên Ngài bị chống đối, cả ở trong nhà lẫn ngoài xã hội. Lòng vô kỷ và sự chính trực của Ngài bị bình phẩm bằng giọng nhạo báng. Lòng kiên nhẫn và nhân từ của Ngài bị gọi là sự hèn nhát. DA 88.1

Trong sự cay đắng giáng xuống số phận của nhân loại, không có phần nào mà Đấng Christ không nếm trải. Có những kẻ tìm cách khinh miệt Ngài vì sự ra đời của Ngài, và ngay cả trong thời thơ ấu, Ngài đã phải đối diện với những ánh mắt khinh khi và những lời xầm xì độc địa của họ. Nếu Ngài đáp lại bằng một lời nói hay một cái nhìn thiếu kiên nhẫn, nếu Ngài nhượng bộ anh em mình dù chỉ bằng một hành động sai trái, thì Ngài đã thất bại trong việc trở nên một tấm gương trọn vẹn. Như thế, Ngài đã thất bại trong việc thực hiện kế hoạch cứu chuộc chúng ta. Nếu Ngài chỉ thừa nhận rằng có thể có lý do bào chữa cho tội lỗi, thì Sa-tan đã đắc thắng, và thế gian đã hư mất. Đó là lý do tại sao kẻ cám dỗ ra sức làm cho đời sống Ngài trở nên khốn khổ hết mức có thể, để có thể dẫn Ngài đến chỗ phạm tội. DA 88.2

Nhưng với mỗi cơn cám dỗ, Ngài chỉ có một câu đáp: “Có lời chép rằng.” Ngài hiếm khi quở trách bất kỳ việc làm sai trái nào của anh em mình, nhưng Ngài có một lời từ Đức Chúa Trời để nói với họ. Ngài thường bị tố cáo là hèn nhát vì từ chối hùa theo họ trong một việc bị cấm đoán nào đó; nhưng câu trả lời của Ngài là, Có lời chép rằng,

“Đoạn, phán với loài người rằng: Kính sợ Chúa, ấy là sự khôn ngoan; Tránh khỏi điều ác, ấy là sự thông sáng.” (Gióp 28:28)

DA 88.3

Có một số người tìm kiếm sự đồng hành của Ngài, cảm thấy bình an khi ở bên Ngài; nhưng nhiều người tránh né Ngài, bởi vì họ bị khiển trách bởi đời sống không tì vết của Ngài. Những bạn bè trẻ tuổi thúc giục Ngài làm như họ làm. Ngài tươi sáng và vui vẻ; họ thích sự hiện diện của Ngài, và hoan nghênh những lời gợi ý sẵn sàng của Ngài; nhưng họ thiếu kiên nhẫn với những điều Ngài đắn đo, và cho rằng Ngài hẹp hòi và quá khắt khe. Đức Chúa Giê-su đáp lại, Có lời chép rằng,

“Người trẻ tuổi phải làm sao cho đường lối mình được trong sạch? Phải cẩn thận theo lời Chúa. Tôi đã giấu lời Chúa trong lòng tôi, Để tôi không phạm tội cùng Chúa.” (Thi-thiên 119:9,11)

DA 89.1

Ngài thường bị hỏi, Tại sao Ngài cứ khăng khăng muốn quá khác biệt, quá khác với tất cả chúng tôi? Ngài đáp, Có lời chép rằng,

“Phước cho những người trọn vẹn trong đường lối mình, Đi theo luật pháp của Đức Giê-hô-va. Phước cho những người gìn giữ chứng cớ Ngài, Và hết lòng tìm cầu Ngài. Họ không làm trái phép công bình, Nhưng đi trong các lối Ngài.” (Thi-thiên 119:1-3)

DA 89.2

Khi bị chất vấn tại sao Ngài không tham gia những trò vui chơi của thanh niên Na-xa-rét, Ngài đáp, Có lời chép rằng,

“Tôi vui mừng về đường chứng cớ Chúa, Như thể vui mừng về của cải hiếm hiệm. Tôi sẽ suy gẫm về giềng mối Chúa, Chăm-xem đường lối của Chúa. Tôi ưa thích luật lệ Chúa, Sẽ chẳng quên lời của Chúa.” (Thi-thiên 119:14-16)

DA 89.3

Đức Chúa Giê-su không tranh đấu cho quyền lợi của mình. Công việc của Ngài thường bị làm cho khó nhọc một cách không cần thiết bởi vì Ngài sẵn lòng và không phàn nàn. Tuy nhiên Ngài không thất bại cũng không trở nên nản lòng. Ngài sống vượt trên những khó khăn này, như thể trong ánh sáng của diện mạo Đức Chúa Trời. Ngài không trả đũa khi bị đối xử thô bạo, nhưng kiên nhẫn chịu đựng sự sỉ nhục. DA 89.4

Ngài cứ liên tục bị hỏi, Tại sao Ngài chịu để cho người ta đối xử cay nghiệt như vậy, ngay cả từ anh em của Ngài? Ngài đáp, Có lời chép rằng,

“Hỡi con, chớ quên sự khuyên dạy ta, Lòng con khá giữ các mạng lịnh ta; Vì nó sẽ thêm cho con lâu ngày, Số năm mạng sống, và sự bình an. Sự nhân từ và sự chân thật, chớ để lìa bỏ con; Hãy đeo nó vào cổ, ghi nó nơi bia lòng con; Như vậy, trước mặt Đức Chúa Trời và loài người, Con sẽ được ơn và có sự khôn ngoan thật.” (Châm-ngôn 3:1-4)

DA 89.5

Từ thời điểm cha mẹ của Đức Chúa Giê-su tìm thấy Ngài trong đền thờ, cách hành xử của Ngài là một điều bí ẩn đối với họ. Ngài không muốn tranh luận, nhưng tấm gương của Ngài là một bài học không ngừng. Ngài dường như là người được biệt riêng ra. Những giờ hạnh phúc của Ngài là khi một mình với thiên nhiên và với Đức Chúa Trời. Bất cứ khi nào có cơ hội, Ngài lánh khỏi nơi lao động của mình, để ra ngoài đồng, để suy gẫm trong những thung lũng xanh tươi, để thông công với Đức Chúa Trời trên sườn núi hay giữa cây cối trong rừng. Sáng sớm thường thấy Ngài ở một nơi vắng vẻ nào đó, suy gẫm, tra xem Kinh Thánh, hoặc cầu nguyện. Từ những giờ yên tĩnh này, Ngài trở về nhà để gánh vác trở lại các bổn phận của mình, và để nêu gương về sự lao nhọc nhẫn nại. DA 89.6

Đời sống của Đấng Christ được ghi dấu bằng sự tôn kính và yêu thương đối với mẹ Ngài. Ma-ri tin trong lòng rằng đứa con thánh sinh ra từ bà chính là Đấng Mê-si đã được hứa từ lâu, nhưng bà không dám bày tỏ đức tin của mình. Suốt cuộc đời Ngài trên đất, bà đã dự phần trong những đau khổ của Ngài. Bà đau buồn chứng kiến những thử thách giáng xuống Ngài trong thời thơ ấu và niên thiếu. Bằng việc bênh vực điều mà bà biết là đúng trong cách hành xử của Ngài, chính bà cũng bị đưa vào những hoàn cảnh khó khăn. Bà xem các mối quan hệ trong gia đình, và sự chăm sóc dịu dàng của người mẹ đối với con cái, là điều có tầm quan trọng sống còn trong việc hình thành tánh nết. Các con trai và con gái của Giô-sép biết điều này, và bằng cách kêu gọi sự lo lắng của bà, họ tìm cách sửa đổi nếp sống của Đức Chúa Giê-su theo tiêu chuẩn của họ. DA 90.1

Ma-ri thường can ngăn Đức Chúa Giê-su, và thúc giục Ngài thuận theo những tập tục của các thầy thông giáo. Nhưng người ta không thể thuyết phục Ngài thay đổi thói quen chiêm nghiệm các công việc của Đức Chúa Trời và tìm cách xoa dịu sự đau khổ của con người hoặc thậm chí của những con thú không biết nói. Khi các thầy tế lễ và các thầy dạy đạo đòi Ma-ri giúp kiểm soát Đức Chúa Giê-su, bà rất bối rối; nhưng sự bình an đến với lòng bà khi Ngài trưng dẫn những lời Kinh Thánh ủng hộ nếp sống của Ngài. DA 90.2

Đôi lúc bà dao động giữa Đức Chúa Giê-su và anh em Ngài, là những người không tin rằng Ngài là Đấng được Đức Chúa Trời sai đến; nhưng có vô vàn bằng chứng rằng Ngài có một tánh cách thiêng liêng. Bà thấy Ngài hy sinh chính mình vì lợi ích của người khác. Sự hiện diện của Ngài đem một bầu không khí trong sạch hơn vào gia đình, và đời sống của Ngài như men hoạt động giữa các thành phần của xã hội. Vô hại và không tì vết, Ngài bước đi giữa những kẻ vô tâm, thô lỗ, bất nhã; giữa những người thâu thuế bất chính, những kẻ phóng đãng liều lĩnh, những người Sa-ma-ri bất nghĩa, những người lính ngoại đạo, những nông dân thô kệch, và đám đông hỗn tạp. Ngài nói một lời cảm thông chỗ này và một lời chỗ kia, khi Ngài thấy người ta mệt mỏi, nhưng vẫn bị buộc phải mang những gánh nặng nề. Ngài chia sẻ gánh nặng của họ, và lặp lại cho họ những bài học mà Ngài đã học được từ thiên nhiên, về tình yêu thương, lòng nhân từ, sự tốt lành của Đức Chúa Trời. DA 90.3

Ngài dạy mọi người xem chính mình được phú cho những tài năng quý báu, mà nếu được sử dụng đúng đắn sẽ bảo đảm cho họ sự giàu có đời đời. Ngài nhổ bỏ mọi sự hư không khỏi cuộc sống, và bằng chính tấm gương của mình, Ngài dạy rằng mỗi khoảnh khắc thời gian đều mang lấy những kết quả đời đời; rằng nó phải được trân quý như một kho báu, và phải được sử dụng cho những mục đích thánh khiết. Ngài không bỏ qua một con người nào như thể họ vô giá trị, nhưng tìm cách áp dụng phương thuốc cứu rỗi cho mỗi linh hồn. Bất cứ khi nào ở giữa nhóm người nào, Ngài cũng đưa ra một bài học thích hợp với thời điểm và hoàn cảnh. Ngài tìm cách truyền cảm hứng hy vọng cho những kẻ thô lỗ và ít hứa hẹn nhất, đặt trước họ sự bảo đảm rằng họ có thể trở nên không chỗ trách được và vô hại, đạt đến một tánh cách khiến họ được tỏ ra là con cái của Đức Chúa Trời. Ngài thường gặp những kẻ đã sa vào quyền kiểm soát của Sa-tan, và không có sức để thoát khỏi cạm bẫy của nó. Với một người như vậy, nản lòng, bệnh tật, bị cám dỗ, và sa ngã, Đức Chúa Giê-su sẽ nói những lời thương xót dịu dàng nhất, những lời cần thiết và có thể hiểu được. Ngài gặp những người khác đang chiến đấu giáp lá cà với kẻ thù của linh hồn. Ngài khích lệ những người này kiên trì, bảo đảm với họ rằng họ sẽ thắng; vì các thiên sứ của Đức Chúa Trời đứng về phía họ, và sẽ ban cho họ sự chiến thắng. Những người được Ngài giúp đỡ như vậy đều tin chắc rằng đây là Đấng mà họ có thể tin cậy với lòng tin tuyệt đối. Ngài sẽ không phản bội những điều bí mật mà họ trút vào tai lắng nghe đầy cảm thông của Ngài. DA 91.1

Đức Chúa Giê-su là Đấng chữa lành thân thể cũng như linh hồn. Ngài quan tâm đến mọi khía cạnh của sự đau khổ lọt vào tầm mắt Ngài, và đối với mỗi người đau khổ, Ngài đem đến sự cứu giúp, những lời nhân từ của Ngài như một liều thuốc xoa dịu. Không ai có thể nói rằng Ngài đã làm phép lạ; nhưng quyền năng—năng lực chữa lành của tình yêu thương—tuôn ra từ Ngài đến những người bệnh tật và khốn khổ. Như thế, một cách kín đáo, Ngài đã làm việc cho dân chúng ngay từ thời thơ ấu của Ngài. Và đây là lý do tại sao, sau khi chức vụ công khai của Ngài bắt đầu, nhiều người vui mừng lắng nghe Ngài. DA 92.1

Tuy nhiên, qua thời thơ ấu, tuổi thanh xuân, và tuổi trưởng thành, Đức Chúa Giê-su đã bước đi một mình. Trong sự thanh sạch và lòng trung thành của Ngài, Ngài đã đạp bàn ép rượu một mình, và trong vòng dân chúng chẳng có một ai ở với Ngài. Ngài đã mang lấy gánh nặng khủng khiếp của trách nhiệm cho sự cứu rỗi loài người. Ngài biết rằng nếu không có một sự thay đổi dứt khoát trong các nguyên tắc và mục đích của nhân loại, thì tất cả sẽ bị hư mất. Đây là gánh nặng của linh hồn Ngài, và không một ai có thể thấu hiểu được sức nặng đè trên Ngài. Tràn đầy một mục đích mãnh liệt, Ngài đã thực hiện mục tiêu của đời sống Ngài, ấy là chính Ngài phải trở nên ánh sáng cho loài người. DA 92.2