Chuyến Đi Dự Lễ Vượt Qua
Chương này dựa trên Lu-ca 2:41-51. DA 75.1
Trong vòng người Do Thái, năm thứ mười hai là ranh giới phân chia giữa thời thơ ấu và tuổi thanh niên. Khi hoàn tất năm này, một bé trai Hê-bơ-rơ được gọi là con của luật pháp, và cũng là con của Đức Chúa Trời. Cậu được ban cho những cơ hội đặc biệt để được dạy dỗ về tôn giáo, và được trông đợi sẽ tham gia vào những lễ hội và nghi thức thánh. Chính theo phong tục này mà Đức Chúa Giê-su trong thời thơ ấu đã thực hiện chuyến viếng thăm lễ Vượt Qua tại Giê-ru-sa-lem. Giống như mọi người Y-sơ-ra-ên sùng đạo, Giô-sép và Ma-ri hằng năm đều đi lên dự lễ Vượt Qua; và khi Đức Chúa Giê-su đã đến tuổi quy định, họ đem Ngài theo cùng. DA 75.2
Có ba kỳ lễ trong năm, lễ Vượt Qua, lễ Ngũ Tuần, và lễ Lều Tạm, mà tại đó tất cả người nam của Y-sơ-ra-ên được truyền lệnh phải ra mắt trước Chúa tại Giê-ru-sa-lem. Trong các kỳ lễ này, lễ Vượt Qua được nhiều người tham dự nhất. Nhiều người đến từ khắp các xứ nơi người Do Thái bị tản lạc. Từ mọi nơi của xứ Pa-léx-tin, những người thờ phượng kéo đến với số lượng đông đảo. Cuộc hành trình từ xứ Ga-li-lê mất vài ngày, và những lữ khách hợp lại thành từng đoàn lớn để có bạn đồng hành và được an toàn. Phụ nữ và những người lớn tuổi cưỡi bò hoặc lừa đi qua những con đường dốc đứng và đầy đá. Những người nam khỏe mạnh hơn và thanh niên thì đi bộ. Thời điểm lễ Vượt Qua tương ứng với cuối tháng Ba hoặc đầu tháng Tư, và cả xứ rực rỡ với hoa, và vui mừng với tiếng chim hót. Suốt dọc đường là những địa điểm đáng ghi nhớ trong lịch sử của Y-sơ-ra-ên, và những người cha người mẹ thuật lại cho con cái họ những kỳ công mà Đức Chúa Trời đã làm cho dân Ngài trong các thời đại đã qua. Họ làm cho cuộc hành trình bớt mệt nhọc bằng tiếng hát và âm nhạc, và cuối cùng khi những tháp của Giê-ru-sa-lem hiện ra trong tầm mắt, mọi giọng nói đều hòa vào khúc ca khải hoàn,— DA 75.3
“Hỡi Giê-ru-sa-lem, chân chúng ta dừng lại Trong các cửa ngươi. Giê-ru-sa-lem là cái thành Được cất vững bền, kết nhau tề chỉnh. Các chi phái của Đức Giê-hô-va lên nơi ấy, Tùy theo thường lệ truyền cho Y-sơ-ra-ên. Vì tại đó có lập các ngôi đoán xét, Tức là các ngôi nhà Đa-vít. Hãy cầu hòa bình cho Giê-ru-sa-lem; Phàm kẻ nào yêu mến ngươi sẽ được thới thạnh. Nguyện sự hòa bình ở trong vách tường ngươi, Sự thới thạnh trong các cung ngươi!” (Thi-thiên 122:2-7)
DA 76.1
DA 76.2
Việc giữ lễ Vượt Qua bắt đầu cùng với sự ra đời của dân tộc Hê-bơ-rơ. Vào đêm cuối cùng trong vòng nô lệ của họ tại Ai Cập, khi chẳng có dấu hiệu nào của sự giải cứu, Đức Chúa Trời truyền lệnh cho họ chuẩn bị cho một cuộc phóng thích tức thời. Ngài đã cảnh báo Pha-ra-ôn về sự phán xét cuối cùng giáng trên dân Ai Cập, và Ngài chỉ thị cho người Hê-bơ-rơ quy tụ gia đình mình trong nhà của họ. Sau khi rảy huyết của chiên con đã bị giết lên các cột cửa, họ phải ăn thịt chiên con, nướng chín, với bánh không men và rau đắng. Ngài phán, “Các ngươi ăn thịt đó, lưng thắt dây, chân mang giày, tay cầm gậy, ăn vội vàng; ấy là lễ Vượt Qua của Đức Giê-hô-va.” Xuất Ê-díp-tô Ký 12:11. Vào lúc nửa đêm, tất cả con đầu lòng của dân Ai Cập đều bị giết. Bấy giờ nhà vua sai báo cho Y-sơ-ra-ên sứ điệp, “Hãy chỗi dậy, ra khỏi giữa vòng dân ta… và đi hầu việc Đức Giê-hô-va, như các ngươi đã nói.” Xuất Ê-díp-tô Ký 12:31. Người Hê-bơ-rơ ra khỏi Ai Cập như một dân tộc độc lập. Chúa đã truyền lệnh rằng lễ Vượt Qua phải được giữ hằng năm. Ngài phán, “Khi con cháu các ngươi hỏi rằng: Lễ nầy là nghĩa chi? thì hãy đáp rằng: Ấy là của tế lễ Vượt Qua của Đức Giê-hô-va, vì khi Ngài hành hại xứ Ê-díp-tô thì Ngài đi vượt qua các nhà dân Y-sơ-ra-ên.” Như vậy từ đời này sang đời khác, câu chuyện về sự giải cứu diệu kỳ này phải được lặp lại. DA 76.3
Lễ Vượt Qua được tiếp nối bởi bảy ngày lễ bánh không men. Vào ngày thứ hai của kỳ lễ, hoa lợi đầu mùa của vụ gặt trong năm, một bó lúa mạch, được dâng trước Chúa. Tất cả các nghi lễ của kỳ lễ đều là hình bóng về công việc của Đấng Christ. Sự giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi Ai Cập là một bài học cụ thể về sự cứu chuộc, mà lễ Vượt Qua được dự định để ghi nhớ. Chiên con bị giết, bánh không men, bó hoa lợi đầu mùa, tượng trưng cho Đấng Cứu Thế. DA 77.1
Đối với hầu hết dân chúng trong thời Đấng Christ, việc giữ kỳ lễ này đã thoái hóa thành nghi thức hình thức. Nhưng nó có ý nghĩa biết bao đối với Con Đức Chúa Trời! DA 77.2
Lần đầu tiên ấu nhi Giê-su nhìn ngắm đền thờ. Ngài thấy các thầy tế lễ mặc áo trắng đang thi hành chức vụ trang nghiêm của họ. Ngài nhìn xem con sinh tế đẫm máu trên bàn thờ dâng của lễ. Cùng với những người thờ phượng, Ngài cúi đầu cầu nguyện, trong khi đám mây hương trầm bay lên trước mặt Đức Chúa Trời. Ngài chứng kiến những nghi thức cảm động của việc cử hành lễ Vượt Qua. Mỗi ngày Ngài thấy ý nghĩa của chúng càng rõ ràng hơn. Mỗi hành động dường như gắn liền với chính cuộc đời Ngài. Những thôi thúc mới đang được khơi dậy trong lòng Ngài. Lặng lẽ và chuyên chú, Ngài dường như đang nghiền ngẫm một vấn đề lớn lao. Sự mầu nhiệm về sứ mạng của Ngài đang được mở ra cho Đấng Cứu Thế. DA 78.1
Mải mê suy ngẫm về những cảnh tượng này, Ngài đã không ở lại bên cha mẹ. Ngài tìm cách ở một mình. Khi các nghi lễ Vượt Qua đã kết thúc, Ngài vẫn còn nán lại trong các hành lang đền thờ; và khi những người thờ phượng rời khỏi Giê-ru-sa-lem, Ngài bị bỏ lại phía sau. DA 78.2
Trong chuyến viếng thăm Giê-ru-sa-lem này, cha mẹ của Đức Chúa Giê-su mong muốn đưa Ngài tiếp xúc với các bậc thầy lớn trong Y-sơ-ra-ên. Trong khi Ngài vâng phục từng chi tiết lời của Đức Chúa Trời, Ngài lại không tuân theo các nghi thức và tập tục của các thầy thông giáo. Giô-sép và Ma-ri hy vọng rằng Ngài có thể được dẫn dắt đến chỗ kính trọng các thầy thông giáo uyên bác, và lưu tâm cần mẫn hơn đến những đòi hỏi của họ. Nhưng Đức Chúa Giê-su trong đền thờ đã được Đức Chúa Trời dạy dỗ. Điều mà Ngài đã nhận lãnh, Ngài bắt đầu truyền đạt ngay lập tức. DA 78.3
Vào thời đó, một phòng gắn liền với đền thờ được dành riêng cho một trường học thánh, theo cách của các trường tiên tri. Tại đây, các thầy thông giáo hàng đầu cùng với học trò của họ tụ họp lại, và ấu nhi Giê-su đã đến đó. Ngồi dưới chân những bậc trang nghiêm, uyên bác này, Ngài lắng nghe lời dạy dỗ của họ. Như một người đi tìm kiếm sự khôn ngoan, Ngài hỏi các thầy này về những lời tiên tri, và về những biến cố đang xảy ra lúc bấy giờ chỉ về sự đến của Đấng Mê-si. DA 78.4
Đức Chúa Giê-su tự bày tỏ như một người khao khát sự hiểu biết về Đức Chúa Trời. Những câu hỏi của Ngài gợi mở những lẽ thật sâu xa mà từ lâu đã bị che khuất, nhưng lại thiết yếu cho sự cứu rỗi của linh hồn. Trong khi cho thấy sự khôn ngoan của những người khôn ngoan hạn hẹp và nông cạn biết bao, mỗi câu hỏi đặt trước họ một bài học thiêng liêng, và trình bày lẽ thật dưới một khía cạnh mới. Các thầy thông giáo nói về sự vinh hiển kỳ diệu mà sự đến của Đấng Mê-si sẽ đem lại cho dân tộc Do Thái; nhưng Đức Chúa Giê-su trình bày lời tiên tri của Ê-sai, và hỏi họ ý nghĩa của những phần Kinh Thánh chỉ về sự thương khó và sự chết của Chiên Con của Đức Chúa Trời. DA 78.5
Các thầy quay lại chất vấn Ngài, và họ kinh ngạc về những câu trả lời của Ngài. Với sự khiêm nhường của một đứa trẻ, Ngài lặp lại những lời của Kinh Thánh, ban cho chúng một chiều sâu ý nghĩa mà những người khôn ngoan chưa từng nghĩ tới. Nếu được noi theo, những đường lối lẽ thật mà Ngài chỉ ra hẳn đã đem đến một cuộc cải cách trong tôn giáo thời bấy giờ. Một sự quan tâm sâu sắc đối với những điều thiêng liêng hẳn đã được khơi dậy; và khi Đức Chúa Giê-su bắt đầu chức vụ của Ngài, nhiều người hẳn đã được chuẩn bị để tiếp nhận Ngài. DA 78.6
Các thầy thông giáo biết rằng Đức Chúa Giê-su chưa từng được dạy dỗ trong trường học của họ; thế nhưng sự hiểu biết của Ngài về những lời tiên tri vượt xa sự hiểu biết của họ. Nơi cậu bé Ga-li-lê trầm tư này, họ nhận thấy một triển vọng lớn lao. Họ ao ước thu nhận Ngài làm học trò, để Ngài có thể trở thành một thầy dạy trong Y-sơ-ra-ên. Họ muốn đảm trách việc giáo dục Ngài, cảm thấy rằng một trí tuệ độc đáo dường ấy phải được đưa vào khuôn đúc của họ. DA 80.1
Những lời của Đức Chúa Giê-su đã cảm động lòng họ như chưa bao giờ từng được cảm động bởi những lời từ môi miệng loài người. Đức Chúa Trời đang tìm cách ban ánh sáng cho những nhà lãnh đạo này trong Y-sơ-ra-ên, và Ngài dùng phương cách duy nhất mà qua đó họ có thể được tiếp cận. Trong sự kiêu ngạo của mình, họ hẳn đã khinh thường mà không thừa nhận rằng họ có thể nhận sự dạy dỗ từ bất cứ ai. Nếu Đức Chúa Giê-su có vẻ như đang cố dạy dỗ họ, họ hẳn đã khinh khi mà không lắng nghe. Nhưng họ tự mãn rằng họ đang dạy dỗ Ngài, hoặc ít nhất là thử sự hiểu biết của Ngài về Kinh Thánh. Sự khiêm tốn và duyên dáng trẻ trung của Đức Chúa Giê-su đã giải trừ những thành kiến của họ. Một cách vô thức, tâm trí họ được mở ra với lời của Đức Chúa Trời, và Đức Thánh Linh phán với lòng họ. DA 80.2
Họ không thể không thấy rằng sự trông đợi của họ về Đấng Mê-si không được lời tiên tri ủng hộ; nhưng họ không chịu từ bỏ những lý thuyết đã ve vuốt tham vọng của họ. Họ không chịu thừa nhận rằng họ đã hiểu sai Kinh Thánh mà họ tự xưng là dạy dỗ. Câu hỏi truyền từ người này sang người khác, Làm sao chàng trai này có sự hiểu biết, dầu chưa hề học? Ánh sáng đang chiếu trong bóng tối; nhưng “sự tối tăm chẳng hề nhận lấy sự sáng đó.” Giăng 1:5. DA 80.3
Trong khi đó, Giô-sép và Ma-ri đang ở trong tình trạng vô cùng bối rối và đau khổ. Khi rời khỏi Giê-ru-sa-lem, họ đã mất dấu Đức Chúa Giê-su, và họ không hề biết rằng Ngài đã ở lại phía sau. Lúc bấy giờ vùng đất ấy đông dân cư, và các đoàn lữ hành từ xứ Ga-li-lê thì rất lớn. Có nhiều sự hỗn loạn khi họ rời khỏi thành. Trên đường đi, niềm vui được đồng hành cùng bạn bè và những người quen biết đã thu hút sự chú ý của họ, và họ không nhận ra sự vắng mặt của Ngài cho đến khi đêm xuống. Rồi khi họ dừng lại để nghỉ ngơi, họ mới thấy thiếu vắng bàn tay giúp đỡ của con mình. Tưởng rằng Ngài đang ở cùng đoàn người của họ, họ đã không cảm thấy lo lắng gì. Dù còn trẻ, họ đã hoàn toàn tin cậy nơi Ngài, mong rằng khi cần đến, Ngài sẽ sẵn sàng giúp đỡ họ, lo liệu mọi nhu cầu của họ như Ngài vẫn luôn làm. Nhưng giờ đây nỗi sợ hãi của họ trỗi dậy. Họ tìm kiếm Ngài khắp đoàn người, nhưng vô ích. Run rẩy, họ nhớ lại Hê-rốt đã từng tìm cách giết Ngài lúc còn thơ ấu như thế nào. Những điềm gở u ám tràn ngập lòng họ. Họ cay đắng tự trách mình. DA 80.4
Trở về Giê-ru-sa-lem, họ tiếp tục cuộc tìm kiếm. Ngày hôm sau, khi họ hòa mình giữa những người thờ phượng trong đền thờ, một giọng nói quen thuộc đã thu hút sự chú ý của họ. Họ không thể nhầm lẫn được; không có giọng nói nào khác giống như giọng của Ngài, vừa nghiêm trang và tha thiết, lại vừa đầy du dương. DA 81.1
Tại trường học của các thầy thông giáo, họ tìm thấy Đức Chúa Giê-su. Dầu vui mừng, họ vẫn không thể quên nỗi đau buồn và lo lắng của mình. Khi Ngài lại ở cùng họ, người mẹ nói với những lời hàm ý trách móc: “Hỡi con, sao con làm cho hai ta thể nầy? Nầy, cha và mẹ đã khó nhọc tìm con.” DA 81.2
“Cha mẹ kiếm tôi làm chi?” Đức Chúa Giê-su đáp. “Há chẳng biết tôi phải lo việc Cha tôi sao?” Và vì dường như họ không hiểu lời Ngài, Ngài chỉ tay lên trên. Trên gương mặt Ngài có một ánh sáng khiến họ kinh ngạc. Thần tánh đang chiếu lòa qua nhân tánh. Khi tìm thấy Ngài trong đền thờ, họ đã lắng nghe những điều xảy ra giữa Ngài và các thầy thông giáo, và họ kinh ngạc về những câu hỏi và câu trả lời của Ngài. Lời Ngài khơi dậy một dòng suy tưởng sẽ không bao giờ phai mờ. DA 81.3
Và câu hỏi của Ngài dành cho họ có một bài học. “Há chẳng biết,” Ngài nói, “tôi phải lo việc Cha tôi sao?” Đức Chúa Giê-su đang chuyên tâm vào công việc mà Ngài đã đến thế gian để làm; nhưng Giô-sép và Ma-ri đã xao lãng việc của họ. Đức Chúa Trời đã ban cho họ vinh dự cao trọng khi giao phó Con Ngài cho họ. Các thiên sứ thánh đã hướng dẫn đường lối của Giô-sép để bảo toàn mạng sống Đức Chúa Giê-su. Nhưng trọn một ngày họ đã mất dấu Đấng mà lẽ ra họ không nên quên dù chỉ một khoảnh khắc. Và khi nỗi lo lắng được giải tỏa, họ đã không tự trách mình, mà lại đổ lỗi cho Ngài. DA 81.4
Thật là tự nhiên khi cha mẹ của Đức Chúa Giê-su xem Ngài như con riêng của họ. Ngài hằng ngày ở với họ, đời sống của Ngài về nhiều phương diện giống như những đứa trẻ khác, và họ khó mà nhận thức được rằng Ngài là Con Đức Chúa Trời. Họ có nguy cơ không trân trọng được phước lành đã ban cho họ trong sự hiện diện của Đấng Cứu Chuộc của thế gian. Nỗi đau buồn vì sự chia cách với Ngài, và lời quở trách nhẹ nhàng mà lời Ngài bày tỏ, được nhằm để in sâu vào lòng họ sự thiêng liêng của trách nhiệm họ được giao phó. DA 81.5
Trong câu trả lời cho mẹ Ngài, Đức Chúa Giê-su lần đầu tiên cho thấy rằng Ngài hiểu mối liên hệ của Ngài với Đức Chúa Trời. Trước khi Ngài giáng sinh, thiên sứ đã nói với Ma-ri:
“Con trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là Con của Đấng Rất Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít là tổ phụ Ngài. Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp, nước Ngài vô cùng.” (Lu-ca 1:32,33)
Ma-ri đã suy gẫm những lời này trong lòng; tuy nhiên dù bà tin rằng con mình sẽ là Đấng Mê-si của dân Y-sơ-ra-ên, bà vẫn không hiểu sứ mạng của Ngài. Giờ đây bà không hiểu lời Ngài; nhưng bà biết rằng Ngài đã chối bỏ mối quan hệ huyết thống với Giô-sép, và đã tuyên bố Ngài là Con của Đức Chúa Trời. DA 81.6
Đức Chúa Giê-su không phớt lờ mối liên hệ của Ngài với cha mẹ trần thế. Từ Giê-ru-sa-lem, Ngài trở về nhà với họ, và giúp đỡ họ trong đời sống lao nhọc. Ngài giấu kín trong lòng mình điều mầu nhiệm về sứ mạng của Ngài, vâng phục chờ đợi thời điểm đã định để Ngài bước vào công việc của mình. Trong suốt mười tám năm sau khi Ngài đã nhận biết rằng mình là Con Đức Chúa Trời, Ngài vẫn thừa nhận mối ràng buộc gắn kết Ngài với mái nhà tại Na-xa-rét, và thực hiện những bổn phận của một người con, một người anh, một người bạn, và một công dân. DA 82.1
Khi sứ mạng của Ngài được mở ra cho Đức Chúa Giê-su trong đền thờ, Ngài đã lánh xa sự tiếp xúc với đám đông. Ngài muốn trở về từ Giê-ru-sa-lem trong yên lặng, với những người biết bí mật về cuộc đời Ngài. Qua nghi lễ Vượt Qua, Đức Chúa Trời tìm cách kêu gọi dân Ngài rời khỏi những lo toan trần tục, và nhắc nhở họ về công việc kỳ diệu của Ngài trong sự giải cứu họ khỏi xứ Ê-díp-tô. Trong công việc này, Ngài muốn họ thấy một lời hứa về sự giải cứu khỏi tội lỗi. Như huyết của chiên con bị giết đã che chở những nhà của dân Y-sơ-ra-ên, thì huyết của Đấng Christ cũng phải cứu linh hồn họ; nhưng họ chỉ có thể được cứu nhờ Đấng Christ khi bởi đức tin họ biến đời sống của Ngài thành của riêng mình. Chỉ có giá trị trong nghi lễ tượng trưng ấy khi nó hướng những người thờ phượng đến Đấng Christ là Đấng Cứu Thế của riêng họ. Đức Chúa Trời mong muốn họ được dẫn dắt đến sự nghiên cứu và suy gẫm trong tinh thần cầu nguyện về sứ mạng của Đấng Christ. Nhưng khi đám đông rời khỏi Giê-ru-sa-lem, sự náo nức của cuộc hành trình và việc giao tiếp xã hội quá thường thu hút sự chú ý của họ, và nghi lễ mà họ vừa chứng kiến đã bị lãng quên. Đấng Cứu Thế không bị thu hút bởi đoàn người của họ. DA 82.2
Khi Giô-sép và Ma-ri trở về từ Giê-ru-sa-lem một mình với Đức Chúa Giê-su, Ngài hy vọng hướng tâm trí họ đến những lời tiên tri về Đấng Cứu Thế chịu khổ. Trên đồi Gô-gô-tha, Ngài đã tìm cách làm vơi đi nỗi đau buồn của mẹ Ngài. Giờ đây Ngài đang nghĩ đến bà. Ma-ri sẽ chứng kiến cơn hấp hối cuối cùng của Ngài, và Đức Chúa Giê-su mong muốn bà hiểu được sứ mạng của Ngài, để bà được thêm sức chịu đựng, khi lưỡi gươm đâm thấu linh hồn bà. Như Đức Chúa Giê-su đã bị chia cách khỏi bà, và bà đã đau buồn tìm kiếm Ngài trong ba ngày, thì khi Ngài bị dâng lên vì tội lỗi của thế gian, Ngài sẽ một lần nữa mất khỏi bà trong ba ngày. Và khi Ngài bước ra khỏi mộ, nỗi đau buồn của bà sẽ một lần nữa biến thành niềm vui mừng. Nhưng bà có thể chịu đựng nỗi thống khổ về cái chết của Ngài tốt hơn biết bao nếu bà hiểu được Kinh Thánh mà giờ đây Ngài đang cố hướng tư tưởng bà đến! DA 82.3
Nếu Giô-sép và Ma-ri đã đặt vững tâm trí mình nơi Đức Chúa Trời qua sự suy gẫm và cầu nguyện, hẳn họ đã nhận thức được sự thiêng liêng của trách nhiệm họ được giao phó, và sẽ không mất dấu Đức Chúa Giê-su. Chỉ một ngày xao lãng, họ đã mất Đấng Cứu Thế; nhưng họ phải trải qua ba ngày tìm kiếm trong lo âu mới tìm lại được Ngài. Đối với chúng ta cũng vậy; bởi lời nói vô ích, lời nói xấu, hoặc xao lãng cầu nguyện, chúng ta có thể chỉ trong một ngày mất đi sự hiện diện của Đấng Cứu Thế, và có thể phải mất nhiều ngày tìm kiếm trong đau buồn mới tìm lại được Ngài, và lấy lại sự bình an mà chúng ta đã đánh mất. DA 83.1
Trong sự giao tiếp với nhau, chúng ta cần cẩn thận kẻo quên Đức Chúa Giê-su, và cứ tiếp tục đi mà không lưu ý rằng Ngài không ở cùng chúng ta. Khi chúng ta bị thu hút vào những điều thuộc về thế gian đến nỗi không còn nghĩ đến Đấng mà nơi Ngài niềm hy vọng về sự sống đời đời của chúng ta được tập trung, chúng ta tự tách mình khỏi Đức Chúa Giê-su và khỏi các thiên sứ trên trời. Những bậc thánh này không thể ở lại nơi mà sự hiện diện của Đấng Cứu Thế không được mong muốn, và sự vắng mặt của Ngài không được lưu ý. Đây là lý do tại sao sự nản lòng thường xảy ra giữa những người xưng mình là môn đồ của Đấng Christ. DA 83.2
Nhiều người tham dự các buổi nhóm thờ phượng, và được tươi mới và an ủi bởi Lời Đức Chúa Trời; nhưng vì xao lãng sự suy gẫm, tỉnh thức, và cầu nguyện, họ đánh mất phước lành, và thấy mình còn thiếu thốn hơn trước khi nhận được nó. Họ thường cảm thấy rằng Đức Chúa Trời đã đối xử khắc nghiệt với mình. Họ không thấy rằng lỗi là ở chính họ. Bởi tự tách mình khỏi Đức Chúa Giê-su, họ đã khép kín ánh sáng của sự hiện diện Ngài. DA 83.3
Sẽ thật tốt cho chúng ta nếu mỗi ngày dành ra một giờ suy tư để chiêm ngưỡng cuộc đời của Đấng Christ. Chúng ta nên xem xét từng điểm một, và để trí tưởng tượng nắm bắt mỗi cảnh tượng, đặc biệt là những cảnh sau cùng. Khi chúng ta dừng lại suy ngẫm về sự hy sinh lớn lao của Ngài cho chúng ta như vậy, lòng tin cậy của chúng ta nơi Ngài sẽ kiên định hơn, tình yêu của chúng ta sẽ được khơi dậy, và chúng ta sẽ được thấm nhuần sâu sắc hơn tinh thần của Ngài. Nếu cuối cùng chúng ta muốn được cứu, chúng ta phải học bài học về sự ăn năn và hạ mình nơi chân thập tự giá. DA 83.4
Khi chúng ta giao tiếp với nhau, chúng ta có thể trở thành nguồn phước cho nhau. Nếu chúng ta thuộc về Đấng Christ, thì những tư tưởng ngọt ngào nhất của chúng ta sẽ hướng về Ngài. Chúng ta sẽ thích trò chuyện về Ngài; và khi chúng ta nói với nhau về tình yêu thương của Ngài, lòng chúng ta sẽ được làm cho dịu lại bởi ảnh hưởng thiêng liêng. Khi chiêm ngưỡng vẻ đẹp của bổn tánh Ngài, chúng ta sẽ được “biến hóa nên cũng một ảnh tượng Ngài, từ vinh hiển qua vinh hiển.”
“Chúng ta ai nấy đều để mặt trần mà nhìn xem vinh hiển Chúa như trong gương, thì hóa nên cũng một ảnh tượng Ngài, từ vinh hiển qua vinh hiển, như bởi Chúa, là Thánh Linh.” (II Cô-rinh-tô 3:18)
DA 83.5