Như Một Trẻ Thơ
Chương này dựa trên Lu-ca 2:39, 40. DA 68.1
Thời thơ ấu và tuổi thanh xuân của Đức Chúa Giê-su trải qua trong một ngôi làng nhỏ trên vùng núi. Không có nơi nào trên đất mà lại không được vinh dự bởi sự hiện diện của Ngài. Cung điện của các vua hẳn đã được đặc ân tiếp đón Ngài như một vị khách. Nhưng Ngài đã đi ngang qua những ngôi nhà giàu sang, những cung điện hoàng gia và những học viện trứ danh, để chọn ngôi nhà của mình tại Na-xa-rét tăm tối và bị khinh dể. DA 68.2
Lời ghi chép ngắn ngủi về thời niên thiếu của Ngài thật kỳ diệu trong ý nghĩa của nó: “Con trẻ lớn lên, và mạnh mẽ, được đầy dẫy sự khôn ngoan, và ơn Đức Chúa Trời ngự trên Ngài.” Dưới ánh sáng từ gương mặt của Đức Chúa Cha, Đức Chúa Giê-su
“Đức Chúa Giê-su khôn ngoan càng thêm, thân hình càng lớn, càng được đẹp lòng Đức Chúa Trời và người ta.” (Lu-ca 2:52)
Tâm trí Ngài linh hoạt và sâu sắc, với sự chín chắn và khôn ngoan vượt quá tuổi tác của Ngài. Tuy vậy, tính cách của Ngài lại đẹp đẽ trong sự cân đối. Các năng lực của trí óc và thân thể phát triển từ từ, phù hợp với các quy luật của tuổi thơ. DA 68.3
Khi còn là một đứa trẻ, Đức Chúa Giê-su bày tỏ một tâm tính đáng yêu đặc biệt. Đôi tay sẵn lòng của Ngài luôn sẵn sàng phục vụ người khác. Ngài thể hiện một sự nhẫn nại mà không gì có thể quấy rối được, và một sự chân thật không bao giờ hy sinh tính liêm chính. Vững vàng trong nguyên tắc như một tảng đá, đời sống Ngài bày tỏ ân điển của lòng nhã nhặn vị tha. DA 68.4
Với lòng sốt sắng sâu xa, mẹ của Đức Chúa Giê-su quan sát sự phát triển các năng lực của Ngài, và chiêm ngưỡng dấu ấn của sự trọn vẹn trên tính cách Ngài. Với niềm vui thích, bà tìm cách khích lệ tâm trí sáng láng, dễ tiếp thu ấy. Qua Đức Thánh Linh, bà nhận được sự khôn ngoan để cộng tác với các thiên sứ trên trời trong việc dưỡng dục đứa trẻ này, là Đấng chỉ có thể nhận Đức Chúa Trời làm Cha của mình. DA 69.1
Từ thuở xa xưa, những người trung tín trong dân Y-sơ-ra-ên đã hết sức chú trọng đến việc giáo dục con trẻ. Chúa đã chỉ dạy rằng ngay từ thuở thơ ấu, con trẻ phải được dạy về lòng nhân từ và sự cao cả của Ngài, đặc biệt như đã được tỏ ra trong luật pháp Ngài, và được biểu lộ trong lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên. Bài hát, lời cầu nguyện và những bài học từ Kinh Thánh phải được thích nghi với tâm trí đang mở mang. Cha và mẹ phải dạy con cái mình rằng luật pháp Đức Chúa Trời là sự bày tỏ tính cách Ngài, và khi chúng tiếp nhận các nguyên tắc của luật pháp vào lòng, thì hình ảnh Đức Chúa Trời được khắc ghi trên tâm trí và linh hồn. Phần lớn sự dạy dỗ là bằng lời nói; nhưng con trẻ cũng học đọc các văn tự tiếng Hê-bơ-rơ; và những cuộn da chép Kinh Thánh Cựu Ước được mở ra cho chúng nghiên cứu. DA 69.2
Trong thời Đấng Christ, thị trấn hay thành phố nào không lo liệu cho việc dạy dỗ tôn giáo cho người trẻ thì bị xem là ở dưới sự rủa sả của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, sự dạy dỗ đã trở nên hình thức. Truyền thống phần lớn đã thay thế cho Kinh Thánh. Nền giáo dục chân thật hẳn sẽ dẫn người trẻ đến chỗ “tìm kiếm Đức Chúa Trời, và hết sức rờ tìm cho được, dẫu Ngài chẳng ở xa mỗi một người trong chúng ta.” Nhưng các thầy dạy luật Do Thái lại chú tâm vào những vấn đề nghi lễ. Tâm trí bị nhồi nhét đầy những điều vô giá trị đối với người học, và sẽ không được công nhận trong trường học cao hơn của các cung điện trên trời. Kinh nghiệm có được qua việc đích thân tiếp nhận lời Đức Chúa Trời chẳng có chỗ đứng trong hệ thống giáo dục. Bị cuốn vào vòng quay của những điều bề ngoài, các học trò chẳng tìm được những giờ phút yên tĩnh để ở cùng Đức Chúa Trời. Họ không nghe được tiếng Ngài phán vào lòng họ. Trong sự tìm kiếm tri thức, họ quay lưng khỏi Nguồn của sự khôn ngoan. Những điều thiết yếu lớn lao trong sự phục vụ Đức Chúa Trời bị bỏ bê. Các nguyên tắc của luật pháp bị che mờ. Điều được xem là nền giáo dục cao siêu lại chính là trở ngại lớn nhất cho sự phát triển thật sự. Dưới sự huấn luyện của các thầy ra-bi, các năng lực của người trẻ bị kìm hãm. Tâm trí họ trở nên chật hẹp và hạn hẹp. DA 69.3
Đức Chúa Giê-su lúc còn nhỏ không nhận sự giáo huấn trong các trường nhà hội. Mẹ Ngài là người thầy đầu tiên của Ngài. Từ môi miệng bà và từ những cuộn sách của các tiên tri, Ngài học biết về những điều thuộc thiên thượng. Chính những lời mà Ngài đã phán cho Môi-se vì dân Y-sơ-ra-ên thì nay Ngài được dạy nơi đầu gối mẹ mình. Khi Ngài tiến từ thời thơ ấu lên tuổi thanh xuân, Ngài không tìm đến các trường của các thầy ra-bi. Ngài không cần nền giáo dục có được từ những nguồn như thế; vì Đức Chúa Trời là Đấng dạy dỗ Ngài. DA 70.1
Câu hỏi được nêu ra trong lúc Đấng Cứu Thế thi hành chức vụ, “Người nầy chưa từng học, làm sao biết được Kinh Thánh?” không cho thấy rằng Đức Chúa Giê-su không biết đọc, mà chỉ cho thấy Ngài đã không nhận một nền giáo dục theo lối các ra-bi. Vì Ngài thu nhận tri thức theo cách mà chúng ta cũng có thể làm, nên sự quen thuộc mật thiết của Ngài với Kinh Thánh cho thấy những năm tháng thơ ấu của Ngài đã được dành cho việc nghiên cứu lời Đức Chúa Trời một cách siêng năng biết bao. Và mở ra trước mặt Ngài là kho thư viện vĩ đại gồm các công trình do Đức Chúa Trời tạo nên. Đấng đã dựng nên muôn vật học những bài học mà chính tay Ngài đã viết trên đất, trên biển và trên bầu trời. Tách biệt khỏi những đường lối ô uế của thế gian, Ngài thu thập kho tàng kiến thức khoa học từ thiên nhiên. Ngài nghiên cứu đời sống của cây cỏ và muông thú, và đời sống của con người. Từ những năm đầu đời, Ngài đã được sở hữu một mục đích duy nhất; Ngài sống để ban phước cho người khác. Vì điều này, Ngài tìm thấy nguồn lực trong thiên nhiên; những ý tưởng mới về phương cách và phương tiện chợt lóe lên trong tâm trí Ngài khi Ngài nghiên cứu đời sống cây cỏ và đời sống muông thú. Ngài không ngừng tìm cách rút ra từ những điều hữu hình những minh họa để trình bày lời sống động của Đức Chúa Trời. Những ẩn dụ mà nhờ đó, trong lúc thi hành chức vụ, Ngài ưa thích dạy những bài học lẽ thật, cho thấy tâm linh Ngài cởi mở biết bao với những ảnh hưởng của thiên nhiên, và Ngài đã thu thập sự dạy dỗ thuộc linh từ khung cảnh chung quanh trong đời sống hằng ngày của Ngài như thế nào. DA 70.2
Như vậy, ý nghĩa của lời và các công trình của Đức Chúa Trời được tỏ ra cho Đức Chúa Giê-su, khi Ngài cố gắng hiểu lý lẽ của vạn vật. Các thiên sứ là những người hầu việc Ngài, và sự trau dồi những tư tưởng thánh khiết cùng sự thông công thiêng liêng là điều Ngài có. Từ buổi bình minh đầu tiên của trí khôn, Ngài liên tục lớn lên trong ân điển thuộc linh và sự hiểu biết lẽ thật. DA 70.3
Mỗi đứa trẻ đều có thể thu nhận tri thức như Đức Chúa Giê-su đã làm. Khi chúng ta cố gắng làm quen với Cha thiên thượng qua lời Ngài, các thiên sứ sẽ đến gần, tâm trí chúng ta sẽ được củng cố, tính cách chúng ta sẽ được nâng cao và tinh luyện. Chúng ta sẽ trở nên giống Đấng Cứu Thế của mình hơn. Và khi chúng ta chiêm ngưỡng cái đẹp đẽ và hùng vĩ trong thiên nhiên, tình cảm chúng ta hướng về Đức Chúa Trời. Trong khi tâm linh kính sợ, thì linh hồn được tiếp thêm sinh lực bởi sự tiếp xúc với Đấng Vô Hạn qua các công trình của Ngài. Sự thông công với Đức Chúa Trời qua lời cầu nguyện phát triển các năng lực trí tuệ và đạo đức, và các năng lực thuộc linh được củng cố khi chúng ta trau dồi những tư tưởng về những điều thuộc linh. DA 70.4
Đời sống của Đức Chúa Giê-su là một đời sống hòa hợp với Đức Chúa Trời. Khi còn là một đứa trẻ, Ngài suy nghĩ và nói năng như một đứa trẻ; nhưng không một dấu vết tội lỗi nào làm hoen ố hình ảnh Đức Chúa Trời ở bên trong Ngài. Tuy vậy, Ngài không được miễn khỏi sự cám dỗ. Dân cư Na-xa-rét nổi tiếng về sự gian ác của họ. Cái nhìn thấp kém mà người ta thường dành cho họ được thể hiện qua câu hỏi của Na-tha-na-ên, “Há có vật gì tốt ra từ Na-xa-rét được sao?” Đức Chúa Giê-su được đặt vào nơi mà tính cách Ngài sẽ bị thử thách. Ngài cần phải luôn cảnh giác để gìn giữ sự thanh sạch của mình. Ngài chịu mọi cuộc tranh chiến mà chúng ta phải đương đầu, hầu cho Ngài có thể làm gương cho chúng ta trong thời thơ ấu, tuổi thanh xuân và tuổi trưởng thành. DA 71.1
Sa-tan không hề mệt mỏi trong những nỗ lực đánh bại Đứa Trẻ của Na-xa-rét. Từ những năm đầu đời, Đức Chúa Giê-su được các thiên sứ trên trời canh giữ, tuy vậy đời sống Ngài là một cuộc đấu tranh lâu dài chống lại các thế lực bóng tối. Việc trên đất có một đời sống thoát khỏi sự ô uế của điều ác là một sự xúc phạm và một điều khó hiểu đối với vua chúa của bóng tối. Hắn không bỏ sót phương cách nào để gài bẫy Đức Chúa Giê-su. Không một con cái nào của loài người sẽ từng được kêu gọi sống một đời sống thánh khiết giữa cuộc tranh chiến với sự cám dỗ dữ dội như Đấng Cứu Thế của chúng ta đã trải qua. DA 71.2
Cha mẹ của Đức Chúa Giê-su nghèo khó, và sống lệ thuộc vào sự lao động hằng ngày của họ. Ngài quen thuộc với sự nghèo khó, sự tự chối mình và sự thiếu thốn. Kinh nghiệm này là một sự bảo vệ cho Ngài. Trong đời sống cần lao của Ngài không có những giây phút nhàn rỗi mời gọi sự cám dỗ. Không có những giờ vô mục đích nào mở đường cho những mối giao du làm hư hỏng. Trong khả năng có thể, Ngài đóng cánh cửa lại trước kẻ cám dỗ. Cả lợi lộc lẫn lạc thú, lời khen ngợi lẫn sự chê trách, đều không thể khiến Ngài đồng ý làm một việc sai trái. Ngài khôn ngoan để nhận biết điều ác, và mạnh mẽ để chống lại nó. DA 72.1
Đấng Christ là Đấng vô tội duy nhất từng cư ngụ trên đất; tuy vậy trong gần ba mươi năm, Ngài đã sống giữa những dân cư gian ác của Na-xa-rét. Sự kiện này là một lời quở trách đối với những kẻ tưởng rằng mình lệ thuộc vào nơi chốn, gia sản, hay sự thịnh vượng để có thể sống một đời sống không chỗ trách được. Sự cám dỗ, sự nghèo khó, sự nghịch cảnh, chính là sự rèn luyện cần thiết để phát triển sự thanh sạch và sự kiên định. DA 72.2
Đức Chúa Giê-su sống trong nhà của một người nông dân, và đã trung tín cùng vui vẻ thực hiện phần của mình trong việc gánh vác những gánh nặng của gia đình. Ngài đã từng là Đấng Chỉ Huy của thiên đàng, và các thiên sứ vui mừng thực thi lời Ngài; nay Ngài là một người đầy tớ sẵn lòng, một người con yêu thương và vâng lời. Ngài học một nghề, và với chính đôi tay mình làm việc trong xưởng mộc cùng Giô-sép. Trong bộ y phục giản dị của một người lao động bình thường, Ngài đi trên những con đường của thị trấn nhỏ, đi đến và trở về từ công việc khiêm nhường của mình. Ngài không dùng quyền năng thiêng liêng của mình để giảm bớt gánh nặng hay làm nhẹ đi sự lao nhọc của mình. DA 72.3
Khi Đức Chúa Giê-su làm việc trong thời thơ ấu và tuổi thanh xuân, tâm trí và thân thể Ngài được phát triển. Ngài không sử dụng sức lực thể chất một cách thiếu cẩn trọng, nhưng theo cách giữ cho chúng được khỏe mạnh, để Ngài có thể làm công việc tốt nhất trong mọi lãnh vực. Ngài không muốn có khiếm khuyết, ngay cả trong việc sử dụng công cụ. Ngài hoàn hảo như một người thợ, cũng như Ngài hoàn hảo trong tính cách. Bằng chính gương mẫu của mình, Ngài dạy rằng bổn phận của chúng ta là phải siêng năng, rằng công việc của chúng ta nên được thực hiện một cách chính xác và kỹ lưỡng, và rằng sự lao động như thế là đáng tôn trọng. Sự rèn luyện dạy cho đôi tay trở nên hữu ích và huấn luyện người trẻ gánh vác phần của mình trong những gánh nặng của cuộc đời sẽ ban sức mạnh thể chất, và phát triển mọi khả năng. Mọi người đều nên tìm điều gì đó để làm có ích cho chính mình và hữu ích cho người khác. Đức Chúa Trời đã chỉ định công việc như một phước lành, và chỉ có người lao động siêng năng mới tìm được vinh quang và niềm vui thực sự của cuộc đời. Sự chấp thuận của Đức Chúa Trời ngự xuống với sự bảo đảm yêu thương trên những trẻ em và người trẻ vui vẻ làm phần của mình trong những bổn phận của gia đình, chia sẻ gánh nặng của cha và mẹ. Những đứa trẻ như thế sẽ rời khỏi gia đình để trở thành những thành viên hữu ích của xã hội. DA 72.4
Suốt cuộc đời của Ngài trên đất, Đức Chúa Giê-su là một người lao động chân thành và bền bỉ. Ngài kỳ vọng nhiều; vì vậy Ngài đã cố gắng nhiều. Sau khi Ngài bắt đầu chức vụ của mình, Ngài phán:
“Trong khi còn ban ngày, ta phải làm trọn những việc của Đấng đã sai ta đến; tối lại, thì không ai làm việc được.” (Giăng 9:4)
Đức Chúa Giê-su không trốn tránh sự chăm lo và trách nhiệm, như nhiều người tự xưng là môn đồ của Ngài. Chính vì họ tìm cách lảng tránh kỷ luật này mà nhiều người trở nên yếu đuối và kém hiệu quả. Họ có thể sở hữu những đức tính quý báu và đáng mến, nhưng họ thiếu nghị lực và hầu như vô dụng khi phải đối mặt với khó khăn hay vượt qua trở ngại. Sự quả quyết và nghị lực, sự vững vàng và sức mạnh của tính cách, được biểu lộ trong Đấng Christ phải được phát triển trong chúng ta, qua cùng một kỷ luật mà Ngài đã chịu đựng. Và ân điển mà Ngài đã nhận là dành cho chúng ta. DA 73.1
Bao lâu Ngài còn sống giữa loài người, Đấng Cứu Thế của chúng ta đã chia sẻ số phận của người nghèo. Ngài biết bởi kinh nghiệm những lo toan và gian khổ của họ, và Ngài có thể an ủi và khích lệ tất cả những người lao động khiêm nhường. Những ai có một quan niệm đúng đắn về sự dạy dỗ của cuộc đời Ngài sẽ không bao giờ cảm thấy rằng phải phân biệt giữa các giai cấp, rằng người giàu phải được tôn trọng hơn người nghèo xứng đáng. DA 73.2
Đức Chúa Giê-su mang vào công việc của mình sự vui vẻ và sự khéo léo. Cần nhiều kiên nhẫn và tâm linh để đưa tôn giáo Kinh Thánh vào đời sống gia đình và vào xưởng làm việc, để chịu đựng sự căng thẳng của công việc thế gian, mà vẫn giữ con mắt chuyên chú vào sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Đây là nơi Đấng Christ là một Đấng giúp đỡ. Ngài không bao giờ quá đầy những lo toan thế gian đến nỗi không còn thời gian hay tâm trí cho những điều thuộc về thiên đàng. Ngài thường bày tỏ niềm vui của lòng mình bằng cách hát những thi thiên và những bài hát thiên đàng. Người dân Na-xa-rét thường nghe tiếng Ngài cất lên trong sự ngợi khen và cảm tạ Đức Chúa Trời. Ngài giao thông với thiên đàng trong bài ca; và khi những người bạn của Ngài than phiền vì mệt mỏi do lao động, họ được an ủi bởi giai điệu ngọt ngào từ đôi môi Ngài. Lời ngợi khen của Ngài dường như xua đuổi những thiên sứ ác, và, như hương trầm, làm cho nơi đó tràn ngập hương thơm. Tâm trí những người nghe Ngài được cất khỏi cảnh lưu đày trần thế, đến ngôi nhà thiên đàng. DA 73.3
Đức Chúa Giê-su là nguồn suối của lòng thương xót chữa lành cho thế gian; và suốt tất cả những năm tháng ẩn dật tại Na-xa-rét, đời sống Ngài tuôn ra trong những dòng cảm thông và dịu dàng. Người già cả, người buồn rầu, người mang nặng tội lỗi, những đứa trẻ chơi đùa trong niềm vui ngây thơ của chúng, những sinh vật bé nhỏ của rừng cây, những con vật chở nặng nhẫn nại — tất cả đều hạnh phúc hơn nhờ sự hiện diện của Ngài. Đấng mà lời quyền năng nâng đỡ các thế giới lại cúi xuống để cứu giúp một con chim bị thương. Không có gì là quá nhỏ bé đối với sự chú ý của Ngài, không có gì mà Ngài khinh rẻ không muốn phục vụ. DA 74.1
Như vậy, khi Ngài lớn lên trong sự khôn ngoan và vóc dáng, Đức Chúa Giê-su càng được đẹp lòng Đức Chúa Trời và loài người. Ngài lôi kéo sự cảm thông của mọi tấm lòng bằng cách tỏ ra mình có khả năng cảm thông với tất cả. Bầu không khí hy vọng và can đảm bao quanh Ngài đã làm cho Ngài trở thành một phước lành trong mọi nhà. Và thường trong nhà hội vào ngày Sa-bát, Ngài được mời đọc bài học từ các tiên tri, và lòng những người nghe rung động khi một ánh sáng mới chiếu ra từ những lời quen thuộc của bản văn thánh. DA 74.2
Tuy nhiên, Đức Chúa Giê-su tránh sự phô trương. Trong suốt tất cả những năm tháng Ngài ở tại Na-xa-rét, Ngài không hề bày tỏ quyền năng phép lạ của mình. Ngài không tìm kiếm một địa vị cao và không nhận lấy những danh hiệu nào. Đời sống yên tĩnh và giản dị của Ngài, và ngay cả sự im lặng của Kinh Thánh về những năm đầu đời của Ngài, dạy một bài học quan trọng. Đời sống của đứa trẻ càng yên tĩnh và giản dị — càng thoát khỏi sự kích động giả tạo, và càng hòa hợp với thiên nhiên — thì càng thuận lợi cho sức mạnh thể chất và tinh thần cùng sức mạnh thuộc linh. DA 74.3
Đức Chúa Giê-su là gương mẫu của chúng ta. Có nhiều người chú tâm với sự quan tâm vào giai đoạn chức vụ công khai của Ngài, trong khi họ bỏ qua không lưu ý sự dạy dỗ của những năm đầu đời của Ngài. Nhưng chính trong đời sống gia đình của Ngài mà Ngài là khuôn mẫu cho tất cả trẻ em và người trẻ. Đấng Cứu Thế đã hạ mình xuống cảnh nghèo khó, để Ngài có thể dạy chúng ta cách chúng ta trong một số phận khiêm nhường có thể bước đi gần gũi với Đức Chúa Trời như thế nào. Ngài sống để làm đẹp lòng, tôn vinh, và làm vinh hiển Cha của Ngài trong những điều tầm thường của cuộc sống. Công việc của Ngài bắt đầu bằng việc thánh hóa nghề thấp hèn của những người thợ lao nhọc kiếm bánh hằng ngày. Ngài đang phục vụ Đức Chúa Trời y như vậy khi lao động tại bàn thợ mộc cũng như khi làm phép lạ cho đoàn dân đông. Và mỗi người trẻ nào noi theo gương mẫu của Đấng Christ về sự trung tín và vâng lời trong ngôi nhà thấp hèn của Ngài có thể nhận lấy những lời mà Đức Chúa Cha đã phán về Ngài qua Đức Thánh Linh:
“Nầy, đầy tớ ta đây, là kẻ ta nâng đỡ; là kẻ ta chọn lựa, là kẻ mà linh hồn ta lấy làm đẹp lòng. Ta đã đặt Thần ta trên người, người sẽ tỏ ra sự công bình cho các dân ngoại.” (Ê-sai 42:1)
DA 74.4