Lễ Dâng Con
Chương này dựa trên Lu-ca 2:21-38. DA 50.1
Khoảng bốn mươi ngày sau khi Đấng Christ giáng sinh, Giô-sép và Ma-ri đem Ngài lên thành Giê-ru-sa-lem, để dâng Ngài cho Chúa và để dâng của lễ. Việc này theo luật pháp người Do Thái, và với tư cách là Đấng thay thế cho loài người, Đấng Christ phải tuân theo luật pháp trong mọi chi tiết. Ngài đã chịu nghi lễ cắt bì như một sự cam kết về lòng vâng phục của Ngài đối với luật pháp. DA 50.2
Là của lễ dâng cho người mẹ, luật pháp đòi hỏi một con chiên con giáp năm làm của lễ thiêu, và một con bồ câu non hoặc một con chim cu làm của lễ chuộc tội. Nhưng luật pháp cũng quy định rằng nếu cha mẹ quá nghèo không thể đem một con chiên, thì một cặp chim cu hay hai con bồ câu non, một con làm của lễ thiêu, con kia làm của lễ chuộc tội, có thể được chấp nhận. DA 50.3
Các của lễ dâng cho Chúa phải không tì vết. Các của lễ này tượng trưng cho Đấng Christ, và từ đó hiển nhiên rằng chính Đức Chúa Giê-su không hề có khuyết tật thể chất nào. Ngài là “chiên con không tì, không vít.”
“bèn là bởi huyết báu Đấng Cơ-đốc, dường như huyết của chiên con không lỗi không vít,” (I Phi-e-rơ 1:19)
Cấu trúc thể chất của Ngài không bị hư hại bởi bất cứ khuyết điểm nào; thân thể Ngài mạnh khỏe và lành lặn. Và suốt cả cuộc đời, Ngài sống theo đúng các định luật của thiên nhiên. Về thể chất cũng như về thuộc linh, Ngài là tấm gương về điều mà Đức Chúa Trời muốn cả nhân loại trở nên qua sự vâng giữ các luật pháp của Ngài. DA 50.4
Việc dâng con đầu lòng có nguồn gốc từ thời rất xa xưa. Đức Chúa Trời đã hứa ban Con Đầu Lòng của thiên đàng để cứu kẻ tội nhân. Sự ban cho này phải được công nhận trong mỗi gia đình qua sự dâng hiến con trai đầu lòng. Người ấy phải được biệt riêng ra cho chức tế lễ, như một đại diện cho Đấng Christ giữa loài người. DA 51.1
Trong sự giải cứu dân Y-sơ-ra-ên khỏi Ai Cập, mạng lệnh về việc dâng con đầu lòng lại được ban ra lần nữa. Trong khi con cái Y-sơ-ra-ên còn làm nô lệ cho người Ai Cập, Chúa truyền cho Môi-se đến cùng Pha-ra-ôn, vua Ai Cập, mà nói rằng:
“Vậy, ngươi phải tâu cùng Pha-ra-ôn rằng: Đức Giê-hô-va có phán như vầy: Y-sơ-ra-ên là con ta, tức trưởng nam ta, nên ta có phán cùng ngươi rằng: Hãy cho con ta đi, để nó phụng sự ta, mà ngươi đã từ chối không cho nó đi. Nầy, ta sẽ giết con trai ngươi, là con trưởng nam của ngươi.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 4:22,23)
DA 51.2
Môi-se truyền lại sứ điệp của mình; nhưng câu trả lời của vị vua kiêu ngạo là:
“Nhưng Pha-ra-ôn đáp rằng: Giê-hô-va là ai mà trẫm phải vâng lời người, để cho dân Y-sơ-ra-ên đi? Trẫm chẳng biết Giê-hô-va nào hết; cũng chẳng cho dân Y-sơ-ra-ên đi nữa.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 5:2)
Chúa hành động vì dân Ngài qua những dấu kỳ và phép lạ, giáng những sự phán xét khủng khiếp xuống Pha-ra-ôn. Cuối cùng, thiên sứ hủy diệt được sai đi để giết con đầu lòng của người và của súc vật trong vòng dân Ai Cập. Để dân Y-sơ-ra-ên được tha, họ được chỉ dẫn bôi huyết của một con chiên bị giết lên khung cửa nhà mình. Mỗi nhà phải được đánh dấu, để khi thiên sứ đến với sứ mạng chết chóc, người có thể vượt qua các nhà của dân Y-sơ-ra-ên. DA 51.3
Sau khi giáng sự phán xét này trên Ai Cập, Chúa phán cùng Môi-se: “Hãy biệt riêng ra thánh cho ta mọi con đầu lòng,… bất kỳ người hay vật, vì nó thuộc về ta;” “bởi vì trong ngày ta hành hại các con đầu lòng trong xứ Ê-díp-tô, ta biệt riêng ra thánh cho ta hết thảy con đầu lòng trong dân Y-sơ-ra-ên, bất kỳ người hay vật; nó sẽ thuộc về ta. Ta là Đức Giê-hô-va.”
“Trong vòng dân Y-sơ-ra-ên bất luận người hay vật, hãy vì ta biệt riêng ra thánh mọi con đầu lòng; bởi con đầu lòng thuộc về ta.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 13:2)
“Vì hết thảy con đầu lòng đều thuộc về ta; ngày xưa khi ta hành hại các con đầu lòng trong xứ Ê-díp-tô, ta đã biệt riêng ra thánh cho ta hết thảy con đầu lòng trong Y-sơ-ra-ên, bất luận loài người hay thú vật; chúng nó đều sẽ thuộc về ta. Ta là Đức Giê-hô-va.” (Dân-số Ký 3:13)
Sau khi sự thờ phượng nơi đền tạm được thiết lập, Chúa chọn chi phái Lê-vi thay cho con đầu lòng của cả dân Y-sơ-ra-ên để phục vụ trong đền thánh. Nhưng con đầu lòng vẫn được xem là thuộc về Chúa, và phải được chuộc lại bằng một giá chuộc. DA 51.4
Như vậy luật pháp về sự dâng con đầu lòng mang ý nghĩa đặc biệt. Trong khi đó là một sự kỷ niệm về cuộc giải cứu kỳ diệu mà Chúa đã thực hiện cho con cái Y-sơ-ra-ên, nó cũng báo trước một sự giải cứu lớn lao hơn, sẽ được hoàn thành bởi Con Một của Đức Chúa Trời. Như huyết được rảy trên khung cửa đã cứu các con đầu lòng của dân Y-sơ-ra-ên, thì huyết của Đấng Christ cũng có quyền năng cứu cả thế gian. DA 51.5
Vậy thì biết bao ý nghĩa gắn liền với sự dâng hiến Đấng Christ! Nhưng thầy tế lễ không nhìn thấu qua bức màn; ông không hiểu được sự mầu nhiệm bên kia. Việc dâng các con trẻ là một cảnh tượng thông thường. Ngày này qua ngày khác, thầy tế lễ nhận tiền chuộc khi các hài nhi được dâng cho Chúa. Ngày này qua ngày khác, ông làm theo công việc thường lệ của mình, ít để ý đến cha mẹ hay con cái, trừ khi ông thấy dấu hiệu nào đó về sự giàu có hoặc địa vị cao trọng của cha mẹ. Giô-sép và Ma-ri đều nghèo; và khi họ đem con mình đến, các thầy tế lễ chỉ thấy một người nam và một người nữ ăn mặc như những người Ga-li-lê, trong những bộ y phục tầm thường nhất. Không có gì trong dáng vẻ của họ thu hút sự chú ý, và họ chỉ dâng lên của lễ của những người thuộc tầng lớp nghèo. DA 52.1
Thầy tế lễ thực hiện nghi lễ theo công việc chính thức của mình. Ông bồng đứa trẻ trong tay, và đưa lên trước bàn thờ. Sau khi trao lại cho mẹ nó, ông ghi tên “Giê-su” vào sổ con đầu lòng. Khi hài nhi nằm trong tay ông, ông nào ngờ rằng đó là Đấng Cao Cả của thiên đàng, Vua Vinh Hiển. Thầy tế lễ không nghĩ rằng hài nhi này là Đấng mà Môi-se đã viết về: “Chúa là Đức Chúa Trời các ngươi sẽ dấy lên trong anh em các ngươi một Đấng tiên tri như ta; các ngươi phải nghe theo mọi điều Ngài sẽ phán dặn.”
“Môi-se có nói rằng: Chúa là Đức Chúa Trời chúng ta sẽ dấy lên trong anh em các ngươi một Đấng tiên tri như ta; các ngươi phải nghe theo mọi điều Ngài sẽ phán dặn.” (Công-vụ các Sứ-đồ 3:22)
Ông không nghĩ rằng hài nhi này là Đấng mà Môi-se đã xin được thấy vinh quang. Nhưng Đấng cao trọng hơn Môi-se đang nằm trong tay thầy tế lễ; và khi ông ghi tên đứa trẻ, ông đang ghi danh Đấng là nền tảng của toàn bộ thể chế Do Thái. Cái tên ấy sẽ là bản án tử hình của thể chế đó; vì hệ thống của lễ và sinh tế đang trở nên cũ kỹ; hình bóng đã gần đạt đến thực thể, cái bóng đã gần đến hình thật. DA 52.2
Sự hiện diện của Đức Chúa Trời (Shekinah) đã rời khỏi đền thánh, nhưng nơi Hài Nhi thành Bết-lê-hem ẩn giấu vinh quang mà trước đó các thiên sứ phải cúi mình. Hài nhi vô tri này chính là dòng dõi đã được hứa, mà bàn thờ đầu tiên tại cửa vườn Ê-đen đã chỉ về. Đây là Si-lô, Đấng ban sự bình an. Chính Ngài đã tự xưng cùng Môi-se là Đấng TỰ HỮU HẰNG HỮU. Chính Ngài đã ở trong trụ mây và trụ lửa dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên. Đây là Đấng mà các nhà tiên kiến đã từ lâu báo trước. Ngài là sự Ao Ước của muôn dân, Cội Rễ và Hậu Tự của Đa-vít, và là Ngôi Sao Mai sáng chói. Danh của hài nhi nhỏ bé yếu ớt ấy, được ghi vào sổ Y-sơ-ra-ên, tuyên bố Ngài là anh em của chúng ta, chính là niềm hy vọng của nhân loại sa ngã. Đứa trẻ mà tiền chuộc đã được trả thay chính là Đấng sẽ trả giá chuộc cho tội lỗi của cả thế gian. Ngài là “thầy tế lễ thượng phẩm cai trị nhà Đức Chúa Trời” thật, là đầu của “chức tế lễ không hề đổi thay,” là Đấng cầu thay nơi “bên hữu Đấng Tôn Nghiêm ở trong nơi rất cao.”
“lại vì chúng ta có một thầy tế lễ lớn đã lập lên cai trị nhà Đức Chúa Trời,” (Hê-bơ-rơ 10:21)
“Nhưng Ngài, vì hằng có đời đời, nên giữ lấy chức tế lễ không hề đổi thay.” (Hê-bơ-rơ 7:24)
“Con là sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bổn thể Ngài, lấy lời có quyền phép Ngài nâng đỡ muôn vật; sau khi Con làm xong sự sạch tội, bèn ngồi bên hữu Đấng tôn nghiêm ở trong nơi rất cao,” (Hê-bơ-rơ 1:3)
DA 52.3
Những điều thuộc linh phải được nhận biết theo cách thuộc linh. Trong đền thờ, Con Đức Chúa Trời được dâng hiến cho công việc mà Ngài đã đến để làm. Thầy tế lễ nhìn Ngài như nhìn bất kỳ đứa trẻ nào khác. Nhưng dù ông chẳng thấy cũng chẳng cảm nhận điều gì khác thường, hành động của Đức Chúa Trời trong việc ban Con Ngài cho thế gian đã được công nhận. Dịp này không trôi qua mà không có sự nhận biết nào về Đấng Christ. “Vả, trong thành Giê-ru-sa-lem có một người công bình đạo đức, tên là Si-mê-ôn, trông đợi sự yên ủi dân Y-sơ-ra-ên, và Đức Thánh Linh ngự trên người. Đức Thánh Linh đã bảo trước cho người biết mình sẽ không chết trước khi thấy Đấng Christ của Chúa.” DA 55.1
Khi Si-mê-ôn bước vào đền thờ, ông thấy một gia đình đang dâng con trai đầu lòng của họ trước thầy tế lễ. Dáng vẻ của họ cho thấy sự nghèo khó; nhưng Si-mê-ôn hiểu được lời cảnh báo của Đức Thánh Linh, và ông được cảm động sâu xa rằng hài nhi đang được dâng cho Chúa chính là sự yên ủi của dân Y-sơ-ra-ên, Đấng mà ông hằng khao khát được thấy. Đối với thầy tế lễ kinh ngạc, Si-mê-ôn trông như một người đang được vui mừng khôn xiết. Đứa trẻ vừa được trao lại cho Ma-ri, ông bồng lấy nó trong tay và dâng lên Đức Chúa Trời, trong khi một niềm vui mà ông chưa hề cảm nhận trước đây tràn ngập tâm hồn ông. Khi ông nâng Đấng Cứu Thế hài nhi lên hướng về thiên đàng, ông nói: “Lạy Chúa, bây giờ xin Chúa cho tôi tớ Chúa được qua đời bình an, theo như lời Ngài; vì con mắt tôi đã thấy sự cứu vớt của Ngài, mà Ngài đã sắm sửa đặng làm ánh sáng trước mặt muôn dân, soi khắp thiên hạ, và làm vinh hiển cho dân Y-sơ-ra-ên là dân Ngài.” DA 55.2
Thần linh tiên tri ngự trên người của Đức Chúa Trời này, và trong khi Giô-sép và Ma-ri đứng đó, kinh ngạc về những lời ông nói, ông đã ban phước cho họ, và nói cùng Ma-ri rằng:
“Si-mê-ôn bèn chúc phước cho hai vợ chồng, nói với Ma-ri, mẹ con trẻ rằng: Đây, con trẻ này đã định làm một cớ cho nhiều người trong Y-sơ-ra-ên vấp ngã hoặc dấy lên, và định làm một dấu gây nên sự cãi trả; còn phần ngươi, có một thanh gươm sẽ đâm thấu qua lòng ngươi. Ấy vậy tư tưởng trong lòng nhiều người sẽ được bày tỏ.” (Lu-ca 2:34-35)
DA 55.3
An-ne, một nữ tiên tri, cũng đến và xác nhận lời chứng của Si-mê-ôn về Đấng Christ. Khi Si-mê-ôn nói, gương mặt bà rạng ngời với sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, và bà dâng lên những lời cảm tạ chân thành rằng bà đã được phép nhìn thấy Đấng Christ là Chúa. DA 55.4
Những người thờ phượng khiêm nhường này đã không nghiên cứu các lời tiên tri một cách vô ích. Nhưng những kẻ giữ địa vị làm những người cai trị và các thầy tế lễ trong Y-sơ-ra-ên, dù họ cũng có trước mặt những lời tiên tri quý báu, lại không bước đi trong đường lối của Chúa, và mắt họ không mở ra để nhìn thấy Ánh Sáng của sự sống. DA 55.5
Ngày nay vẫn còn như vậy. Những sự kiện mà cả thiên đàng đang tập trung chú ý lại không được nhận biết, ngay cả sự xảy ra của chúng cũng không được lưu ý, bởi các nhà lãnh đạo tôn giáo và những người thờ phượng trong nhà Đức Chúa Trời. Loài người thừa nhận Đấng Christ trong lịch sử, trong khi họ quay lưng khỏi Đấng Christ hằng sống. Đấng Christ trong lời Ngài kêu gọi sự hy sinh, trong những người nghèo khổ và đau đớn đang nài xin sự cứu giúp, trong chính nghĩa công bình liên quan đến sự nghèo khó, vất vả và sỉ nhục, ngày nay cũng chẳng được tiếp nhận dễ dàng hơn so với một ngàn tám trăm năm trước. DA 56.1
Ma-ri suy ngẫm về lời tiên tri rộng lớn và sâu xa của Si-mê-ôn. Khi nhìn vào hài nhi trong vòng tay mình, và nhớ lại những lời mà những người chăn chiên thành Bết-lê-hem đã nói, lòng bà tràn đầy niềm vui biết ơn và hy vọng tươi sáng. Những lời của Si-mê-ôn gợi lên trong tâm trí bà những lời tiên tri của Ê-sai:
“Có một chồi sẽ nứt lên từ gốc Y-sai, một nhánh từ rễ nó sẽ ra trái. Thần của Đức Giê-hô-va sẽ ngự trên Ngài, tức là thần khôn ngoan và thông sáng, thần mưu toan và mạnh sức, thần hiểu biết và kính sợ Đức Giê-hô-va. Ngài lấy sự kính sợ Đức Giê-hô-va làm vui; chẳng phán xét theo mắt mình thấy, và chẳng cứ sự tai nghe mà đoán định. Nhưng Ngài sẽ dùng sự công bình xét đoán kẻ nghèo, và xử lẽ ngay thẳng cho kẻ nhu mì trên đất. Ngài sẽ đánh thế gian bằng cái gậy của miệng mình, và lấy hơi thở nơi môi mà giết kẻ ác. Sự công bình sẽ làm dây thắt lưng của Ngài, sự thành tín sẽ làm dây ràng hông.” (Ê-sai 11:1-5)
“Chúa đã làm cho dân này thêm nhiều; và thêm sự vui cho họ. Mọi người đều vui mừng trước mặt Chúa, như vui mừng trong ngày mùa gặt, như người ta reo vui trong lúc chia của cướp. Vì Chúa đã bẻ cái ách họ mang, cái roi đánh trên vai họ, cái gậy của kẻ hà hiếp, như trong ngày của Ma-đi-an. Cả giày dép của kẻ đánh giặc trong khi giao chiến, cùng cả áo xống vấy máu, đều dùng để đốt và làm đồ chụm lửa. Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ lùng, là Đấng Mưu luận, là Đức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Đời đời, là Chúa Bình an. Quyền cai trị và sự bình an của Ngài cứ thêm mãi không thôi, ở trên ngôi Đa-vít và trên nước Ngài, đặng làm cho nước bền vững, và lập lên trong sự chánh trực công bình, từ nay cho đến đời đời. Thật, lòng sốt sắng của Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ làm nên sự ấy!” (Ê-sai 9:2-6)
DA 56.2
Tuy nhiên Ma-ri không hiểu sứ mạng của Đấng Christ. Si-mê-ôn đã nói tiên tri về Ngài như một ánh sáng để soi sáng cho dân ngoại, cũng như là sự vinh hiển cho Y-sơ-ra-ên. Vì vậy các thiên sứ đã loan báo sự ra đời của Đấng Cứu Thế như tin mừng cho muôn dân. Đức Chúa Trời đang tìm cách sửa lại quan niệm hẹp hòi của người Do Thái về công việc của Đấng Mê-si. Ngài muốn loài người nhìn thấy Ngài, không chỉ là đấng giải cứu Y-sơ-ra-ên, mà là Đấng Cứu Chuộc thế gian. Nhưng phải qua nhiều năm trước khi ngay cả mẹ của Đức Chúa Giê-su mới hiểu được sứ mạng của Ngài. DA 56.3
Ma-ri trông mong sự trị vì của Đấng Mê-si trên ngôi Đa-vít, nhưng bà không thấy phép báp-têm của sự thống khổ mà bởi đó sự trị vì ấy phải đạt được. Qua Si-mê-ôn được tỏ ra rằng Đấng Mê-si sẽ không có lối đi thông suốt qua thế gian. Trong lời nói cùng Ma-ri: “Một thanh gươm sẽ đâm thấu qua chính linh hồn ngươi,” Đức Chúa Trời trong lòng thương xót dịu dàng của Ngài cho mẹ của Đức Chúa Giê-su một sự ám chỉ về nỗi thống khổ mà vì cớ Ngài bà đã bắt đầu phải gánh chịu. DA 56.4
“Nầy,” Si-mê-ôn đã nói, “con trẻ nầy đã định làm một cớ cho nhiều người trong Y-sơ-ra-ên vấp ngã hoặc dấy lên, và định làm một dấu hiệu sẽ bị người ta chống đối.” Những kẻ muốn dấy lên thì phải vấp ngã. Chúng ta phải vấp ngã trên Vầng Đá và bị tan vỡ trước khi có thể được nâng lên trong Đấng Christ. Cái tôi phải bị truất ngôi, sự kiêu ngạo phải bị hạ xuống, nếu chúng ta muốn biết sự vinh hiển của vương quốc thuộc linh. Người Do Thái không chịu nhận lấy vinh dự đạt được qua sự hạ mình. Vì vậy họ không chịu tiếp nhận Đấng Cứu Chuộc mình. Ngài là một dấu hiệu bị người ta chống đối. DA 56.5
“Hầu cho ý tưởng trong lòng nhiều người được bày tỏ.” Trong ánh sáng của đời sống Đấng Cứu Thế, tấm lòng của mọi loài, từ Đấng Tạo Hóa cho đến chúa của sự tối tăm, đều được bày tỏ. Sa-tan đã miêu tả Đức Chúa Trời như là ích kỷ và áp bức, như đòi hỏi tất cả mà chẳng ban cho gì, như đòi hỏi loài thọ tạo phục vụ vì sự vinh hiển của chính Ngài, mà chẳng hy sinh điều gì vì ích lợi của chúng. Nhưng món quà là Đấng Christ bày tỏ tấm lòng của Đức Chúa Cha. Nó làm chứng rằng những ý tưởng của Đức Chúa Trời đối với chúng ta là “ý tưởng bình an, chớ chẳng phải tai họa.” Giê-rê-mi 29:11. Nó tuyên bố rằng trong khi sự thù ghét của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi mạnh như sự chết, thì tình yêu thương của Ngài đối với tội nhân còn mạnh hơn sự chết. Vì đã đảm nhận sự cứu chuộc chúng ta, Ngài sẽ không tiếc điều gì, dù quý báu đến đâu, miễn là cần thiết cho sự hoàn thành công việc của Ngài. Không một lẽ thật nào cần thiết cho sự cứu rỗi chúng ta bị giấu đi, không một phép lạ của lòng thương xót nào bị bỏ qua, không một tác nhân thiêng liêng nào bị bỏ không dùng. Ơn này chồng chất lên ơn kia, món quà này chồng chất lên món quà nọ. Toàn bộ kho tàng của thiên đàng đều mở ra cho những kẻ Ngài tìm cách cứu vớt. Sau khi đã thâu nhóm sự giàu có của vũ trụ, và mở ra các nguồn lực của quyền năng vô hạn, Ngài giao tất cả vào tay Đấng Christ, và phán rằng: Tất cả những điều này là dành cho loài người. Hãy dùng những món quà này để thuyết phục họ rằng không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của Ta trên đất hay trên trời. Hạnh phúc lớn nhất của họ sẽ được tìm thấy trong việc yêu mến Ta. DA 57.1
Tại thập tự giá Gô-gô-tha, tình yêu thương và sự ích kỷ đứng đối diện nhau. Đây là sự biểu lộ tột đỉnh của chúng. Đấng Christ đã sống chỉ để an ủi và ban phước, và trong việc đưa Ngài đến sự chết, Sa-tan đã biểu lộ sự cay độc của lòng thù ghét hắn đối với Đức Chúa Trời. Hắn đã làm rõ rằng mục đích thật sự của cuộc nổi loạn của hắn là truất ngôi Đức Chúa Trời, và tiêu diệt Đấng mà qua Ngài tình yêu thương của Đức Chúa Trời được tỏ ra. DA 57.2
Bởi đời sống và sự chết của Đấng Christ, những ý tưởng của loài người cũng được phơi bày. Từ máng cỏ đến thập tự giá, đời sống của Đức Chúa Giê-su là một lời kêu gọi đến sự từ bỏ chính mình, và đến sự đồng dự phần trong nỗi thống khổ. Nó vạch trần những mục đích của loài người. Đức Chúa Giê-su đến với lẽ thật của thiên đàng, và tất cả những ai lắng nghe tiếng của Đức Thánh Linh đều được kéo đến với Ngài. Những kẻ thờ phượng cái tôi thuộc về vương quốc của Sa-tan. Trong thái độ của họ đối với Đấng Christ, mọi người sẽ tỏ ra mình đứng về phía nào. Và như vậy mỗi người tự xét đoán chính mình. DA 57.3
Trong ngày phán xét cuối cùng, mỗi linh hồn hư mất sẽ hiểu được bản chất của sự khước từ lẽ thật của chính mình. Thập tự giá sẽ được trình bày, và ý nghĩa thật của nó sẽ được mọi tâm trí từng bị tội lỗi làm mù quáng nhìn thấy. Trước khải tượng về Gô-gô-tha với Nạn Nhân huyền nhiệm của nó, các tội nhân sẽ đứng bị kết án. Mọi lời bào chữa dối trá sẽ bị quét sạch. Sự bội đạo của loài người sẽ hiện ra trong bản chất gớm ghiếc của nó. Loài người sẽ thấy sự lựa chọn của họ là gì. Mỗi câu hỏi về lẽ thật và sai lầm trong cuộc tranh chấp lâu dài bấy giờ sẽ được làm sáng tỏ. Trong sự phán xét của vũ trụ, Đức Chúa Trời sẽ đứng vô tội về sự tồn tại hay sự tiếp diễn của điều ác. Sẽ được chứng minh rằng các sắc lệnh thiêng liêng không hề tiếp tay cho tội lỗi. Không có khiếm khuyết nào trong chính phủ của Đức Chúa Trời, không có cớ nào để bất mãn. Khi những ý tưởng của mọi tấm lòng được bày tỏ, cả những kẻ trung thành lẫn những kẻ phản nghịch sẽ hiệp nhau tuyên bố rằng:
“Chúng hát bài ca Môi-se, là tôi tớ Đức Chúa Trời, và bài ca Chiên Con, mà rằng: Hỡi Chúa là Đức Chúa Trời Toàn năng, công việc Chúa lớn lao và lạ lùng thay! Hỡi Vua của muôn đời, đường lối Ngài là công bình và chân thật! Lạy Chúa, ai là kẻ không kính sợ và không ngợi khen danh Ngài? Vì một mình Ngài là thánh, mọi dân tộc sẽ đến thờ lạy trước mặt Ngài, vì các sự đoán xét Ngài đã được tỏ ra.” (Khải-huyền 15:3,4)
DA 58.1