“Kỳ Hạn Đã Được Trọn”

“Nhưng khi kỳ hạn đã được trọn, Đức Chúa Trời bèn sai Con Ngài… để chuộc những kẻ ở dưới luật pháp, và cho chúng ta được làm con nuôi Ngài.” Ga-la-ti 4:4, 5. DA 31.1

Sự giáng sinh của Đấng Cứu Thế đã được báo trước trong vườn Ê-đen. Khi A-đam và Ê-va lần đầu tiên nghe lời hứa, họ trông đợi nó sẽ được ứng nghiệm nhanh chóng. Họ vui mừng chào đón con trai đầu lòng, hi vọng rằng con sẽ là Đấng Giải Cứu. Nhưng sự ứng nghiệm của lời hứa cứ chậm trễ. Những người đầu tiên nhận được lời hứa đã qua đời mà chưa thấy được điều đó. Từ thời của Hê-nóc, lời hứa được lặp lại qua các tổ phụ và các tiên tri, giữ cho niềm hi vọng về sự xuất hiện của Ngài luôn sống động, vậy mà Ngài vẫn chưa đến. Lời tiên tri của Đa-ni-ên đã tỏ ra thời điểm Ngài giáng lâm, nhưng không phải ai cũng giải nghĩa đúng sứ điệp ấy. Hết thế kỷ này đến thế kỷ khác trôi qua; tiếng nói của các tiên tri đã im bặt. Bàn tay của kẻ áp bức đè nặng trên Y-sơ-ra-ên, và nhiều người sẵn sàng kêu lên rằng, “Những ngày kéo dài ra, và mọi sự hiện thấy chẳng ứng nghiệm.” Ê-xê-chi-ên 12:22. DA 31.2

Nhưng như các vì sao trong quỹ đạo bao la đã định sẵn của chúng, các mục đích của Đức Chúa Trời chẳng vội vàng cũng chẳng chậm trễ. Qua các biểu tượng của sự tối tăm dày đặc và lò lửa bốc khói, Đức Chúa Trời đã tỏ cho Áp-ra-ham biết sự nô lệ của Y-sơ-ra-ên tại Ê-díp-tô, và đã phán rằng thời gian họ lưu lạc sẽ là bốn trăm năm. Ngài phán, “Về sau, chúng nó sẽ ra khỏi với của cải rất nhiều.” Sáng-thế Ký 15:14. Chống lại lời ấy, mọi quyền lực của đế quốc kiêu hãnh của Pha-ra-ôn đều chiến đấu trong vô vọng. Vào chính “ngày đó” đã được ấn định trong lời hứa thiêng liêng, “thì các quân đội của Đức Giê-hô-va ra khỏi xứ Ê-díp-tô.” Xuất Ê-díp-tô Ký 12:41. Cũng vậy, trong hội nghị trên thiên đàng, giờ giáng sinh của Đấng Christ đã được định sẵn. Khi chiếc đồng hồ lớn của thời gian chỉ đến giờ ấy, Đức Chúa Giê-su đã được sinh ra tại Bết-lê-hem. DA 32.1

“Khi kỳ hạn đã được trọn, Đức Chúa Trời bèn sai Con Ngài.” Đấng Quan Phòng đã điều khiển những biến chuyển của các dân tộc, cùng dòng chảy của những thôi thúc và ảnh hưởng của loài người, cho đến khi thế gian chín muồi cho sự giáng lâm của Đấng Giải Cứu. Các dân tộc được hiệp nhất dưới một chính quyền. Một ngôn ngữ được nói rộng rãi, và khắp nơi đều công nhận đó là ngôn ngữ của văn chương. Từ mọi xứ, những người Do Thái tản lạc tụ họp về Giê-ru-sa-lem để dự các kỳ lễ hằng năm. Khi họ trở về nơi cư ngụ, họ có thể truyền bá khắp thế giới tin tức về sự giáng sinh của Đấng Mê-si. DA 32.2

Vào thời điểm này, các hệ thống ngoại giáo đang mất dần ảnh hưởng trên dân chúng. Loài người đã chán ngán những lễ hội phô trương và những chuyện hoang đường. Họ khao khát một tôn giáo có thể làm thỏa lòng. Trong khi ánh sáng của lẽ thật dường như đã rời khỏi loài người, vẫn có những linh hồn đang tìm kiếm ánh sáng, và lòng đầy bối rối cùng sầu khổ. Họ khao khát sự hiểu biết về Đức Chúa Trời hằng sống, khao khát một sự bảo đảm nào đó về một sự sống bên kia nấm mồ. DA 32.3

Khi người Do Thái đã lìa bỏ Đức Chúa Trời, đức tin đã trở nên lu mờ, và niềm hi vọng gần như đã thôi soi sáng tương lai. Những lời của các tiên tri không được thấu hiểu. Đối với quần chúng, sự chết là một điều bí ẩn đáng sợ; bên kia là sự không chắc chắn và tối tăm. Không chỉ là tiếng than khóc của các bà mẹ tại Bết-lê-hem, mà là tiếng kêu từ tận đáy lòng của nhân loại, đã vọng đến vị tiên tri qua bao thế kỷ — tiếng nói nghe thấy tại Ra-ma, “than thở, khóc lóc, và đau đớn lắm; ấy là Ra-chên khóc các con mình, mà không chịu yên ủi, vì chúng nó không còn nữa.” Ma-thi-ơ 2:18. Trong “xứ và bóng của sự chết,” loài người ngồi không được an ủi. Với đôi mắt mong mỏi, họ trông đợi sự giáng lâm của Đấng Giải Cứu, khi sự tối tăm sẽ bị xua tan, và sự bí ẩn của tương lai sẽ được tỏ bày. DA 32.4

Ngoài dân tộc Do Thái, có những người đã báo trước sự xuất hiện của một Đấng Dạy Dỗ thiêng liêng. Những người này đang tìm kiếm lẽ thật, và Thần Linh Cảm Thúc đã được ban cho họ. Lần lượt từng người một, như những vì sao trên bầu trời tối tăm, những vị thầy như thế đã xuất hiện. Những lời tiên tri của họ đã thắp lên niềm hi vọng trong lòng hàng ngàn người thuộc thế giới dân ngoại. DA 33.1

Suốt hàng trăm năm, Kinh Thánh đã được dịch sang tiếng Hy Lạp, là ngôn ngữ bấy giờ được nói rộng rãi khắp Đế quốc La-mã. Người Do Thái bị tản lạc khắp nơi, và phần nào dân ngoại cũng chia sẻ sự trông mong về sự giáng sinh của Đấng Mê-si. Trong số những kẻ mà người Do Thái gọi là dân ngoại, có những người hiểu biết về các lời tiên tri trong Kinh Thánh liên quan đến Đấng Mê-si rõ hơn cả những vị thầy trong Y-sơ-ra-ên. Có một số người trông mong sự giáng lâm của Ngài như một Đấng giải cứu khỏi tội lỗi. Các triết gia cố gắng nghiên cứu sự bí ẩn của định chế Hê-bơ-rơ. Nhưng sự cố chấp của người Do Thái đã ngăn trở sự lan tỏa của ánh sáng. Quyết tâm duy trì sự cách biệt giữa họ với các dân tộc khác, họ không muốn truyền đạt sự hiểu biết mà họ vẫn còn nắm giữ về nghi lễ biểu tượng. Đấng Giải Nghĩa thật phải đến. Đấng mà tất cả các hình bóng này tượng trưng phải giải thích ý nghĩa của chúng. DA 33.2

Qua thiên nhiên, qua các hình bóng và biểu tượng, qua các tổ phụ và các tiên tri, Đức Chúa Trời đã phán với thế gian. Những bài học phải được ban cho nhân loại bằng ngôn ngữ của nhân loại. Đấng Truyền Sứ của giao ước phải lên tiếng. Tiếng Ngài phải được nghe trong chính đền thờ của Ngài. Đấng Christ phải đến để phán những lời cần được hiểu rõ ràng và minh bạch. Ngài, là Đấng sáng tạo ra lẽ thật, phải tách lẽ thật ra khỏi trấu của những lời nói loài người, là điều đã khiến lẽ thật trở nên vô hiệu. Các nguyên tắc về chính quyền của Đức Chúa Trời và kế hoạch cứu chuộc phải được xác định rõ ràng. Những bài học của Cựu Ước phải được trình bày đầy đủ trước loài người. DA 34.1

Trong vòng người Do Thái vẫn còn những linh hồn kiên định, là dòng dõi của dòng giống thánh khiết, qua đó sự hiểu biết về Đức Chúa Trời đã được gìn giữ. Những người này vẫn trông đợi niềm hi vọng của lời hứa đã ban cho các tổ phụ. Họ làm vững mạnh đức tin của mình bằng cách suy gẫm lời bảo đảm đã ban qua Môi-se, “Chúa là Đức Chúa Trời các ngươi sẽ dấy lên trong anh em các ngươi một Đấng tiên tri như ta; các ngươi phải nghe theo mọi điều Ngài sẽ phán dặn.” Công-vụ 3:22. Lại nữa, họ đọc thấy thể nào Chúa sẽ xức dầu cho Đấng “đặng giảng tin lành cho kẻ khiêm nhường,” “đặng rịt những kẻ vỡ lòng, đặng rao cho kẻ phu tù được tự do,” và rao ra “năm ban ơn của Đức Giê-hô-va.” Ê-sai 61:1, 2. Họ đọc thấy thể nào Ngài sẽ “lập sự công bình trên đất,” thể nào các cù lao sẽ “trông đợi luật pháp Ngài,” thể nào dân ngoại sẽ đến cùng ánh sáng Ngài, và các vua đến cùng sự chói sáng đã mọc lên trên Ngài. Ê-sai 42:4; 60:3. DA 34.2

Những lời trối trăng của Gia-cốp khiến họ tràn đầy hi vọng: “Cây phủ việt chẳng hề dời khỏi Giu-đa, kẻ lập pháp không dứt khỏi giữa chân nó, cho đến chừng Đấng Si-lô hiện tới.” Sáng-thế Ký 49:10. Quyền lực suy tàn của Y-sơ-ra-ên làm chứng rằng sự giáng sinh của Đấng Mê-si đã gần kề. Lời tiên tri của Đa-ni-ên đã vẽ ra sự vinh hiển trong vương quyền của Ngài trên một đế quốc sẽ kế tục mọi vương quốc trần gian; và, vị tiên tri phán, “Nó sẽ đứng đời đời.” Đa-ni-ên 2:44. Trong khi ít người hiểu được bản chất sứ mạng của Đấng Christ, vẫn có một sự trông mong rộng khắp về một vị hoàng tử quyền năng sẽ thiết lập vương quốc của mình trong Y-sơ-ra-ên, và sẽ đến như một đấng giải cứu cho các dân tộc. DA 34.3

Kỳ hạn đã được trọn. Nhân loại, ngày càng sa đọa qua bao đời phạm tội, kêu xin sự giáng lâm của Đấng Cứu Chuộc. Sa-tan đã ra sức làm cho vực thẳm giữa đất và trời trở nên sâu thẳm và không thể vượt qua. Bằng những lời dối trá của mình, nó đã khiến loài người mạnh dạn hơn trong tội lỗi. Mục đích của nó là làm cho sự nhịn nhục của Đức Chúa Trời cạn kiệt, và dập tắt tình yêu thương của Ngài đối với loài người, để Ngài bỏ mặc thế gian cho quyền cai trị của Sa-tan. DA 34.4

Sa-tan tìm cách ngăn không cho loài người biết về Đức Chúa Trời, để hướng sự chú ý của họ khỏi đền thờ của Đức Chúa Trời, và để thiết lập vương quốc riêng của nó. Cuộc tranh giành quyền tối thượng của nó dường như gần như hoàn toàn thành công. Quả thật trong mỗi thế hệ Đức Chúa Trời đều có những công cụ của Ngài. Ngay cả giữa dân ngoại cũng có những người mà qua họ Đấng Christ đang hành động để nâng dân chúng lên khỏi tội lỗi và sự sa đọa của họ. Nhưng những người này bị khinh dể và ghét bỏ. Nhiều người trong số họ đã chịu một cái chết tàn bạo. Bóng tối mà Sa-tan đã phủ trên thế gian ngày càng trở nên dày đặc hơn. DA 35.1

Qua ngoại giáo, suốt bao đời Sa-tan đã quay loài người lìa khỏi Đức Chúa Trời; nhưng nó đã giành được chiến thắng lớn trong việc làm sai lệch đức tin của Y-sơ-ra-ên. Bằng cách suy gẫm và thờ phượng những quan niệm của riêng mình, dân ngoại đã mất đi sự hiểu biết về Đức Chúa Trời, và ngày càng trở nên bại hoại hơn. Y-sơ-ra-ên cũng vậy. Nguyên tắc cho rằng con người có thể tự cứu mình bằng công đức riêng của mình nằm ở nền tảng của mỗi tôn giáo ngoại giáo; giờ đây nó đã trở thành nguyên tắc của tôn giáo Do Thái. Sa-tan đã gieo trồng nguyên tắc này. Bất cứ nơi nào nó được nắm giữ, loài người chẳng có rào cản nào chống lại tội lỗi. DA 35.2

Sứ điệp cứu rỗi được truyền đạt đến loài người thông qua những công cụ của con người. Nhưng người Do Thái đã tìm cách độc quyền lẽ thật vốn là sự sống đời đời. Họ đã tích trữ ma-na hằng sống, và nó đã trở nên hư thối. Tôn giáo mà họ cố giữ riêng cho mình đã trở thành một sự xúc phạm. Họ đã cướp đoạt vinh hiển của Đức Chúa Trời, và lừa gạt thế gian bằng một bản tin lành giả mạo. Họ đã từ chối dâng mình cho Đức Chúa Trời vì sự cứu rỗi của thế gian, và họ đã trở thành công cụ của Sa-tan để hủy diệt thế gian. DA 36.1

Dân tộc mà Đức Chúa Trời đã kêu gọi để làm trụ và nền của lẽ thật đã trở thành những kẻ đại diện cho Sa-tan. Họ đang làm công việc mà nó muốn họ làm, đi theo một con đường xuyên tạc bản tánh của Đức Chúa Trời, và khiến thế gian nhìn Ngài như một bạo chúa. Chính các thầy tế lễ phục vụ trong đền thờ đã đánh mất ý nghĩa của công việc họ thực hiện. Họ đã ngừng nhìn vượt qua biểu tượng để thấy điều mà nó tượng trưng. Khi dâng các của lễ hy sinh, họ như những diễn viên trong một vở kịch. Các nghi lễ mà chính Đức Chúa Trời đã thiết lập lại trở thành phương tiện làm mù lòa tâm trí và làm chai cứng tấm lòng. Đức Chúa Trời không thể làm gì hơn cho con người qua những kênh này nữa. Toàn bộ hệ thống phải bị quét sạch. DA 36.2

Sự lừa dối của tội lỗi đã lên đến tột đỉnh. Tất cả những công cụ làm bại hoại linh hồn con người đã được đưa vào hoạt động. Con Đức Chúa Trời, khi nhìn xuống thế gian, đã thấy sự đau khổ và khốn cùng. Với lòng thương xót, Ngài thấy con người đã trở thành nạn nhân của sự tàn ác của Sa-tan như thế nào. Ngài nhìn với lòng trắc ẩn những kẻ đang bị bại hoại, bị giết hại, và bị hư mất. Họ đã chọn một kẻ cai trị xiềng xích họ vào cỗ xe của hắn như những tù binh. Bị mê hoặc và lừa dối, họ tiến bước trong một đoàn diễu hành u ám hướng về sự hủy diệt đời đời—đến cái chết không còn hy vọng sự sống, hướng về đêm tối không bao giờ có buổi sáng đến. Những công cụ của Sa-tan đã nhập vào con người. Thân thể của loài người, vốn được tạo nên để làm nơi ngự của Đức Chúa Trời, đã trở thành chỗ ở của các quỷ. Các giác quan, các dây thần kinh, các dục vọng, các cơ quan của con người, đều bị các thế lực siêu nhiên điều khiển trong việc thỏa mãn những dục vọng hèn hạ nhất. Chính dấu ấn của ma quỷ đã in trên gương mặt loài người. Khuôn mặt con người phản ánh nét biểu hiện của những đạo binh ác mà chúng bị ám nhập. Đó là cảnh tượng mà Đấng Cứu Chuộc của thế gian nhìn thấy. Thật là một cảnh tượng cho Đấng Thanh Khiết Vô Cùng phải chứng kiến! DA 36.3

Tội lỗi đã trở thành một ngành khoa học, và sự đồi bại được tôn lên thành một phần của tôn giáo. Sự phản nghịch đã đâm rễ sâu vào lòng người, và sự thù nghịch của con người chống lại thiên đàng dữ dội nhất. Trước cả vũ trụ đã chứng minh rằng, ngoài Đức Chúa Trời ra, nhân loại không thể được nâng lên. Một yếu tố mới của sự sống và quyền năng phải được ban cho bởi Đấng đã tạo dựng thế gian. DA 37.1

Với sự quan tâm sâu sắc, các thế giới chưa sa ngã đã theo dõi để xem Đức Giê-hô-va trỗi dậy, và quét sạch cư dân của trái đất. Và nếu Đức Chúa Trời làm điều này, Sa-tan đã sẵn sàng thực hiện kế hoạch của hắn để bảo đảm cho mình lòng trung thành của các thiên thể. Hắn đã tuyên bố rằng những nguyên tắc trong sự cai trị của Đức Chúa Trời khiến cho sự tha thứ là điều không thể được. Nếu thế gian bị hủy diệt, hắn sẽ tuyên bố rằng những lời buộc tội của hắn đã được chứng minh là đúng. Hắn đã sẵn sàng đổ lỗi cho Đức Chúa Trời, và truyền bá sự phản nghịch của hắn đến các thế giới ở trên. Nhưng thay vì hủy diệt thế gian, Đức Chúa Trời đã sai Con Ngài đến để cứu nó. Dù sự bại hoại và sự chống nghịch có thể được thấy ở mọi nơi trong miền đất xa lạ này, một con đường cứu vãn đã được dự liệu. Ngay vào lúc khủng hoảng, khi Sa-tan dường như sắp toàn thắng, Con Đức Chúa Trời đã đến với sứ mạng của ân điển thiêng liêng. Qua mọi thời đại, qua mọi giờ phút, tình yêu thương của Đức Chúa Trời đã được bày tỏ đối với loài người sa ngã. Bất kể sự ngoan cố của con người, những dấu hiệu của lòng thương xót đã liên tục được biểu lộ. Và khi kỳ hạn đã trọn, Đấng Thần Linh đã được tôn vinh bằng việc đổ xuống thế gian một dòng ân điển chữa lành sẽ không bao giờ bị ngăn trở hay rút lại cho đến khi kế hoạch cứu rỗi được hoàn thành. DA 37.2

Sa-tan đang hân hoan vì hắn đã thành công trong việc làm bại hoại hình ảnh của Đức Chúa Trời trong nhân loại. Bấy giờ Đức Chúa Giê-su đã đến để phục hồi trong con người hình ảnh của Đấng Tạo Hóa. Không ai ngoài Đấng Christ có thể tạo dựng lại bản tánh đã bị tội lỗi hủy hoại. Ngài đã đến để trừ đuổi những quỷ đã điều khiển ý chí. Ngài đã đến để nâng chúng ta lên khỏi bụi đất, để uốn nắn lại bản tánh đã bị hư hỏng theo khuôn mẫu bản tánh thiêng liêng của Ngài, và làm cho nó trở nên xinh đẹp với vinh hiển của chính Ngài. DA 37.3