“Đức Chúa Trời Ở Cùng Chúng Ta”
“Người ta sẽ đặt tên Ngài là Em-ma-nu-ên,… Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta.” “Sự sáng của sự hiểu biết về vinh hiển Đức Chúa Trời” được tỏ ra “nơi mặt Đức Chúa Giê-su.” Từ những ngày đời đời, Chúa là Đức Chúa Giê-su vốn là một với Đức Chúa Cha; Ngài là “hình ảnh của Đức Chúa Trời,” hình ảnh của sự cao cả và uy nghi của Ngài, “sự chói sáng của vinh hiển Ngài.” Chính để bày tỏ vinh hiển ấy mà Ngài đã đến thế gian chúng ta. Ngài đến trái đất tối tăm vì tội lỗi nầy để tỏ ra sự sáng của tình yêu thương Đức Chúa Trời, — để làm “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta.” Bởi vậy đã có lời tiên tri về Ngài rằng, “Người ta sẽ đặt tên Ngài là Em-ma-nu-ên.” DA 19.1
Bằng việc đến ở cùng chúng ta, Đức Chúa Giê-su sẽ bày tỏ Đức Chúa Trời cho cả loài người lẫn các thiên sứ. Ngài là Lời của Đức Chúa Trời, — tư tưởng của Đức Chúa Trời được phát ra thành tiếng. Trong lời cầu nguyện cho các môn đồ, Ngài phán, “Con đã tỏ danh Cha cho họ,” — “hay thương xót và nhân từ, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và thành thật,” — “để tình yêu thương của Cha dành cho Con ở trong họ, và Con ở trong họ.” Nhưng sự mặc khải nầy không phải chỉ ban cho con cái Ngài sanh ra trên đất mà thôi. Thế gian nhỏ bé của chúng ta là cuốn sách bài học của cả vũ trụ. Mục đích kỳ diệu về ân điển của Đức Chúa Trời, sự mầu nhiệm của tình yêu cứu chuộc, là chủ đề mà “các thiên sứ ước ao xem thấu,” và sẽ là điều họ học hỏi suốt các thời đại vô cùng. Cả những người được cứu chuộc lẫn các tạo vật chưa hề sa ngã sẽ tìm thấy nơi thập tự giá của Đấng Christ kiến thức và bài ca của họ. Người ta sẽ thấy rằng vinh hiển chói rạng nơi mặt Đức Chúa Giê-su là vinh hiển của tình yêu hi sinh chính mình. Trong ánh sáng từ đồi Gô-gô-tha, người ta sẽ thấy rằng luật của tình yêu quên mình là luật của sự sống cho cả trái đất lẫn trời; rằng tình yêu “chẳng kiếm tư lợi” có nguồn cội nơi tấm lòng của Đức Chúa Trời; và rằng nơi Đấng nhu mì và khiêm nhường ấy được tỏ ra bản tánh của Đấng ngự trong sự sáng không ai có thể đến gần được. DA 19.2
Vào lúc ban đầu, Đức Chúa Trời được tỏ ra trong mọi công việc của sự sáng tạo. Chính Đấng Christ đã giương các tầng trời và đặt nền của trái đất. Chính tay Ngài đã treo các thế giới trong không gian và tạo nên các hoa của đồng nội. “Sức mạnh Ngài làm cho núi vững chắc.” “Biển thuộc về Ngài, vì chính Ngài đã làm nên nó.”
“Chúa dùng quyền năng mình lập các núi vững chắc, Vì Chúa được thắt lưng bằng sức lực;” (Thi-thiên 65:6)
“Biển thuộc về Ngài, vì chính Ngài đã làm nó; Còn đất khô, tay Ngài cũng đã nắn nên nó.” (Thi-thiên 95:5)
Chính Ngài đã làm cho trái đất đầy dẫy vẻ đẹp, và không khí đầy tiếng ca. Và trên muôn vật trong đất, trong không khí, và trên trời, Ngài đã ghi sứ điệp về tình yêu thương của Đức Chúa Cha. DA 20.1
Giờ đây tội lỗi đã làm hư hại công trình hoàn hảo của Đức Chúa Trời, nhưng nét chữ ấy vẫn còn. Ngay cả bây giờ mọi vật được tạo dựng đều rao truyền vinh hiển của sự tuyệt mỹ của Ngài. Chẳng có gì, ngoài tấm lòng ích kỷ của loài người, mà sống chỉ cho riêng mình. Chẳng có con chim nào rẽ không khí, chẳng con vật nào di chuyển trên mặt đất, mà lại không phục vụ một sự sống khác. Chẳng có chiếc lá nào trong rừng, hay ngọn cỏ thấp hèn nào, mà lại không có chức vụ của nó. Mỗi cây, mỗi bụi, mỗi lá đều tuôn đổ ra chất sống mà thiếu nó thì cả người lẫn vật đều không thể sống được; và đến lượt mình, người và vật lại phục vụ cho sự sống của cây, bụi và lá. Các hoa tỏa hương thơm và xòe nở vẻ đẹp của chúng để ban phước cho thế gian. Mặt trời tỏa sáng để làm vui hàng ngàn thế giới. Đại dương, vốn là nguồn của mọi suối và mạch nước của chúng ta, tiếp nhận các dòng nước từ mọi miền đất, nhưng nhận để rồi cho. Hơi nước bốc lên từ lòng nó rơi xuống thành mưa tưới nhuần trái đất, để đất có thể sanh sản và đâm chồi. DA 20.2
Các thiên sứ vinh hiển tìm thấy niềm vui của họ trong sự ban cho, — ban tình yêu thương và sự chăm sóc không mệt mỏi cho những linh hồn đã sa ngã và ô uế. Các tạo vật trên trời chinh phục tấm lòng của loài người; họ đem đến cho thế gian tối tăm nầy sự sáng từ các cung điện trên cao; bằng chức vụ dịu dàng và nhẫn nại, họ cảm động tâm linh con người, để đem những kẻ hư mất vào sự thông công với Đấng Christ, một sự thông công còn mật thiết hơn cả điều chính họ có thể biết được. DA 21.1
Nhưng từ bỏ mọi hình ảnh nhỏ bé hơn ấy, chúng ta chiêm ngưỡng Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Giê-su. Nhìn xem Đức Chúa Giê-su, chúng ta thấy rằng chính sự ban cho là vinh hiển của Đức Chúa Trời chúng ta. Đấng Christ phán, “Ta không tự mình làm điều gì”; “Cha hằng sống đã sai Ta đến, và Ta nhờ Cha mà sống.” “Ta chẳng tìm sự vinh hiển Ta,” nhưng vinh hiển của Đấng đã sai Ta. (Giăng 8:28; 6:57; 8:50; 7:18). Trong những lời nầy được trình bày nguyên tắc lớn lao vốn là luật của sự sống cho cả vũ trụ. Đấng Christ đã nhận mọi sự từ Đức Chúa Trời, nhưng Ngài nhận để rồi cho. Cũng vậy trong các cung điện trên trời, trong chức vụ của Ngài cho mọi tạo vật: qua Con yêu dấu, sự sống của Đức Chúa Cha tuôn chảy đến muôn loài; qua Con, sự sống ấy trở về, trong sự ngợi khen và phục vụ vui mừng, một dòng thủy triều của tình yêu, về với Nguồn lớn của muôn vật. Và như vậy, qua Đấng Christ, vòng tuần hoàn của sự ban phước được trọn vẹn, biểu thị bản tánh của Đấng Ban Cho vĩ đại, là luật của sự sống. DA 21.2
Chính trong thiên đàng luật nầy đã bị vi phạm. Tội lỗi bắt nguồn từ sự tìm kiếm tư lợi. Lu-xi-phe, chê-ru-bim che phủ, đã ao ước được làm đầu trên trời. Nó tìm cách giành quyền kiểm soát các tạo vật trên trời, để kéo họ lìa khỏi Đấng Tạo Hóa của họ, và chiếm lấy sự tôn kính của họ cho chính nó. Bởi vậy nó đã xuyên tạc Đức Chúa Trời, gán cho Ngài lòng ham muốn tự tôn cao mình. Nó tìm cách khoác lên Đấng Tạo Hóa đầy yêu thương những đặc tính gian ác của chính nó. Như vậy nó đã lừa dối các thiên sứ. Như vậy nó đã lừa dối loài người. Nó dẫn họ đến chỗ nghi ngờ lời của Đức Chúa Trời, và mất lòng tin nơi sự nhân từ của Ngài. Vì Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của sự công bình và uy nghi đáng kinh sợ, nên Sa-tan khiến họ nhìn Ngài như nghiêm khắc và không tha thứ. Như vậy nó kéo loài người tham gia cùng nó trong sự phản nghịch Đức Chúa Trời, và đêm tối của tai họa giáng xuống thế gian. DA 21.3
Trái đất tối tăm vì sự hiểu lầm về Đức Chúa Trời. Để những bóng tối u ám có thể được soi sáng, để thế gian có thể được đem trở về cùng Đức Chúa Trời, thì quyền lực lừa dối của Sa-tan phải bị phá vỡ. Điều nầy không thể thực hiện bằng vũ lực. Việc dùng vũ lực là trái với những nguyên tắc của chính phủ Đức Chúa Trời; Ngài chỉ mong muốn sự phục vụ của tình yêu thương; và tình yêu thương không thể bị ép buộc; nó không thể bị giành lấy bằng vũ lực hay quyền uy. Chỉ bởi tình yêu thương mà tình yêu thương được khơi dậy. Biết Đức Chúa Trời tức là yêu Ngài; bản tánh của Ngài phải được tỏ ra trong sự tương phản với bản tánh của Sa-tan. Công việc nầy chỉ có một Đấng trong cả vũ trụ mới có thể làm được. Chỉ Đấng biết chiều cao và chiều sâu của tình yêu thương Đức Chúa Trời mới có thể làm cho nó được tỏ ra. Trên đêm tối tăm của thế gian, Mặt Trời Công Bình phải mọc lên, “trong cánh Ngài có sự chữa lành.” Ma-la-chi 4:2. DA 22.1
Kế hoạch cứu chuộc chúng ta không phải là một ý nghĩ về sau, một kế hoạch được lập ra sau sự sa ngã của A-đam. Đó là sự mặc khải của “sự mầu nhiệm đã được giữ kín lặng lẽ từ đời đời.” Rô-ma 16:25, bản R.V. Đó là sự bày tỏ những nguyên tắc mà từ các thời đại đời đời vốn là nền tảng của ngôi Đức Chúa Trời. Từ ban đầu, Đức Chúa Trời và Đấng Christ đã biết về sự bội nghịch của Sa-tan, và về sự sa ngã của loài người qua quyền lực lừa dối của kẻ bội nghịch ấy. Đức Chúa Trời không định cho tội lỗi phải hiện hữu, nhưng Ngài đã thấy trước sự hiện hữu của nó, và đã chuẩn bị để đối phó với tình huống khẩn cấp khủng khiếp ấy. Tình yêu thương của Ngài đối với thế gian lớn lao đến nỗi Ngài đã lập giao ước ban Con một của Ngài, “hầu cho hễ ai tin Ngài thì chẳng hư mất mà được sự sống đời đời.” Giăng 3:16. DA 22.2
Lu-xi-phe đã nói, “Ta sẽ nhắc ngai ta lên trên các ngôi sao của Đức Chúa Trời;… ta sẽ làm ra mình bằng Đấng Rất Cao.” Ê-sai 14:13, 14. Nhưng Đấng Christ, “vốn có hình của Đức Chúa Trời, đã không coi sự bình đẳng với Đức Chúa Trời là điều phải nắm giữ, song chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ, trở nên giống như loài người.” Phi-líp 2:6, 7, bản R.V., chú thích bên lề. DA 22.3
Đây là một sự hi sinh tự nguyện. Đức Chúa Giê-su lẽ ra có thể ở lại bên Đức Chúa Cha. Ngài lẽ ra có thể giữ lấy vinh hiển của thiên đàng, và sự tôn kính của các thiên sứ. Nhưng Ngài đã chọn trao lại vương trượng vào tay Đức Chúa Cha, và bước xuống khỏi ngôi của vũ trụ, để Ngài có thể đem sự sáng đến cho những kẻ ở trong tối tăm, và đem sự sống đến cho những kẻ hư mất. DA 22.4
Gần hai ngàn năm trước, một giọng nói đầy ý nghĩa huyền nhiệm vang lên trên thiên đàng, từ ngôi của Đức Chúa Trời, “Nầy, tôi đến.” “Chúa chẳng muốn hi sinh, cũng chẳng muốn lễ vật, nhưng Chúa đã sắm sửa một thân thể cho tôi… Nầy, tôi đến (trong sách có chép về tôi) để làm theo ý muốn Chúa, hỡi Đức Chúa Trời.”
“Bởi vậy cho nên, Đấng Cơ-đốc khi vào thế gian, phán rằng: Chúa chẳng muốn hi sinh, cũng chẳng muốn lễ vật, Nhưng Chúa đã sắm sửa một thân thể cho tôi. Chúa chẳng nhậm của lễ thiêu, cũng chẳng nhậm của lễ chuộc tội. Tôi bèn nói: Hỡi Đức Chúa Trời, này tôi đến — Trong sách có chép về tôi — Tôi đến để làm theo ý muốn Chúa.” (Hê-bơ-rơ 10:5-7)
Trong những lời nầy, công bố sự hoàn thành của mục đích đã được giấu kín từ muôn đời. Đấng Christ sắp viếng thăm thế gian chúng ta, và trở nên xác thịt. Ngài phán, “Chúa đã sắm sửa một thân thể cho tôi.” Nếu Ngài hiện ra với vinh quang mà Ngài đã có với Đức Chúa Cha trước khi tạo dựng thế gian, thì chúng ta không thể chịu nổi ánh sáng từ sự hiện diện của Ngài. Để chúng ta có thể chiêm ngưỡng nó mà không bị tiêu diệt, sự biểu lộ vinh quang của Ngài đã được che phủ. Thần tánh của Ngài được che giấu bằng nhân tánh,—vinh quang vô hình trong hình thể con người hữu hình. DA 23.1
Mục đích lớn lao nầy đã được phác họa qua các hình bóng và biểu tượng. Bụi gai cháy, trong đó Đấng Christ hiện ra với Môi-se, đã bày tỏ Đức Chúa Trời. Biểu tượng được chọn để tiêu biểu cho Đấng Thần linh là một bụi cây thấp hèn, dường như không có gì hấp dẫn. Cây ấy chứa đựng Đấng Vô Hạn. Đức Chúa Trời đầy lòng thương xót đã che phủ vinh quang của Ngài trong một hình bóng hết sức khiêm hạ, để Môi-se có thể nhìn xem mà vẫn sống. Cũng vậy, qua trụ mây ban ngày và trụ lửa ban đêm, Đức Chúa Trời thông công với Y-sơ-ra-ên, bày tỏ cho loài người ý muốn của Ngài, và ban cho họ ân điển của Ngài. Vinh quang của Đức Chúa Trời được giảm bớt, và sự oai nghi của Ngài được che phủ, để cái nhìn yếu ớt của loài người hữu hạn có thể chiêm ngưỡng nó. Cũng vậy, Đấng Christ sẽ đến trong “thân thể hèn mạt chúng ta”
“Ngài sẽ biến hóa thân thể hèn mạt chúng ta ra giống như thân thể vinh hiển Ngài, y theo quyền phép Ngài có để phục muôn vật.” (Phi-líp 3:21)
“trở nên giống như loài người.” Trong mắt thế gian, Ngài chẳng có vẻ đẹp nào để họ ưa thích Ngài; thế nhưng Ngài là Đức Chúa Trời mặc lấy xác thịt, ánh sáng của trời và đất. Vinh quang của Ngài được che phủ, sự cao cả và oai nghi của Ngài được giấu kín, để Ngài có thể đến gần những con người buồn rầu, bị cám dỗ. DA 23.2
Đức Chúa Trời truyền lệnh cho Môi-se thay cho Y-sơ-ra-ên, “Họ sẽ làm cho ta một đền thánh; hầu cho ta ở giữa họ”
“Họ sẽ làm cho ta một đền thánh và ta sẽ ở giữa họ.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 25:8)
và Ngài ngự trong đền thánh, ở giữa dân Ngài. Suốt cuộc lưu lạc mệt nhọc của họ trong sa mạc, biểu tượng về sự hiện diện của Ngài luôn ở cùng họ. Cũng vậy, Đấng Christ đã dựng đền tạm của Ngài ở giữa trại quân loài người chúng ta. Ngài đã dựng lều của Ngài bên cạnh những lều trại của loài người, để Ngài có thể ở giữa chúng ta, và khiến chúng ta quen thuộc với thần tánh và sự sống thiêng liêng của Ngài. “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, và ở giữa chúng ta (chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha), đầy ơn và lẽ thật.”
“Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha.” (Giăng 1:14)
DA 23.3
Vì Đức Chúa Giê-su đã đến ở với chúng ta, nên chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời thấu hiểu những thử thách của chúng ta, và cảm thông với những nỗi đau buồn của chúng ta. Mỗi con trai và con gái của A-đam đều có thể hiểu rằng Đấng Tạo Hóa của chúng ta là bạn của tội nhân. Vì trong mỗi giáo lý về ân điển, mỗi lời hứa về sự vui mừng, mỗi việc làm yêu thương, mỗi sức hấp dẫn thiêng liêng được trình bày trong đời sống của Đấng Cứu Thế trên đất, chúng ta đều thấy “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta.” DA 24.1
Sa-tan tiêu biểu luật pháp yêu thương của Đức Chúa Trời như một luật pháp của sự ích kỷ. Hắn tuyên bố rằng chúng ta không thể nào vâng giữ các mệnh lệnh của luật pháp ấy. Sự sa ngã của tổ phụ chúng ta, với tất cả mọi tai họa do đó mà ra, hắn đổ trách nhiệm lên Đấng Tạo Hóa, dẫn dắt loài người nhìn Đức Chúa Trời như tác giả của tội lỗi, sự đau khổ, và sự chết. Đức Chúa Giê-su sẽ vạch trần sự lừa dối nầy. Là một người trong chúng ta, Ngài sẽ nêu một gương về sự vâng phục. Vì điều nầy mà Ngài đã mang lấy bản tánh của chúng ta, và trải qua những kinh nghiệm của chúng ta. “Ngài phải chịu làm giống như anh em mình trong mọi sự.”
“Nhân đó, Ngài phải chịu làm giống như anh em mình trong mọi sự, hầu cho đối với Đức Chúa Trời, trở nên thầy tế lễ thượng phẩm, hay thương xót và trung tín, đặng đền tội cho chúng dân.” (Hê-bơ-rơ 2:17)
Nếu chúng ta phải chịu đựng bất cứ điều gì mà Đức Chúa Giê-su không chịu đựng, thì về điểm đó Sa-tan sẽ tiêu biểu quyền năng của Đức Chúa Trời là không đủ cho chúng ta. Vì vậy, Đức Chúa Giê-su đã “bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta.”
“Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội.” (Hê-bơ-rơ 4:15)
Ngài đã chịu đựng mọi thử thách mà chúng ta phải gặp. Và Ngài đã không vận dụng cho chính mình một quyền năng nào mà không được ban tự do cho chúng ta. Là một con người, Ngài đã đối diện sự cám dỗ, và đắc thắng nhờ sức mạnh được ban cho từ Đức Chúa Trời. Ngài phán, “Hỡi Đức Chúa Trời tôi, tôi lấy làm vui mừng làm theo ý muốn Chúa, luật pháp Chúa ở trong lòng tôi.”
“Hỡi Đức Chúa Trời tôi, tôi lấy làm vui mừng làm theo ý muốn Chúa, Luật pháp Chúa ở trong lòng tôi.” (Thi-thiên 40:8)
Khi Ngài đi khắp nơi làm việc lành, và chữa lành mọi kẻ bị Sa-tan ức hiếp, Ngài đã làm cho loài người hiểu rõ bản tánh của luật pháp Đức Chúa Trời và bản chất sự phục vụ của Ngài. Đời sống của Ngài làm chứng rằng chúng ta cũng có thể vâng giữ luật pháp Đức Chúa Trời. DA 24.2
Bởi nhân tánh của Ngài, Đấng Christ chạm đến nhân loại; bởi thần tánh của Ngài, Ngài nắm lấy ngôi của Đức Chúa Trời. Là Con Người, Ngài nêu cho chúng ta một gương về sự vâng phục; là Con Đức Chúa Trời, Ngài ban cho chúng ta quyền năng để vâng phục. Chính Đấng Christ là Đấng từ bụi gai trên núi Hô-rếp đã phán cùng Môi-se rằng, “TA LÀ ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU… Ngươi hãy nói cho dân Y-sơ-ra-ên như vầy: Đấng TỰ HỮU đã sai ta đến cùng các ngươi.”
“Đức Chúa Trời phán rằng: Ta là Đấng tự hữu hằng hữu ; rồi Ngài lại rằng: Hãy nói cho dân Y-sơ-ra-ên như vầy: Đấng tự hữu đã sai ta đến cùng các ngươi.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 3:14)
Đó là lời cam kết về sự giải cứu của Y-sơ-ra-ên. Cũng vậy, khi Ngài đến “trong hình dạng loài người,” Ngài đã tuyên bố mình là Đấng TỰ HỮU. Con Trẻ tại Bết-lê-hem, Đấng Cứu Thế nhu mì và khiêm hạ, là Đức Chúa Trời “đã hiện ra trong xác thịt.”
“Mọi người đều cho sự mầu nhiệm của sự tin kính là lớn lắm: Đấng đã được tỏ ra trong xác thịt, Thì đã được Đức Thánh Linh xưng là công bình, Được thiên sứ trông thấy, Được giảng ra cho dân ngoại, Được thiên hạ tin cậy, Được cất lên trong sự vinh hiển.” (I Ti-mô-thê 3:16)
Và Ngài phán cùng chúng ta: “Ta LÀ người chăn hiền lành.” “Ta LÀ bánh hằng sống.” “Ta LÀ đường đi, lẽ thật, và sự sống.” “Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta.”
“Ta là người chăn hiền lành; người chăn hiền lành vì chiên mình phó sự sống mình.” (Giăng 10:11)
“Ta là bánh hằng sống từ trên trời xuống; nếu ai ăn bánh ấy, thì sẽ sống vô cùng; và bánh mà ta sẽ ban cho vì sự sống của thế gian tức là thịt ta.” (Giăng 6:51)
“Vậy Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha.” (Giăng 14:6)
“Đức Chúa Giê-su đến gần, phán cùng môn đồ như vầy: Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta.” (Ma-thi-ơ 28:18)
Ta LÀ sự bảo đảm cho mỗi lời hứa. Ta LÀ; đừng sợ hãi. “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” là sự bảo đảm cho sự giải cứu chúng ta khỏi tội lỗi, là sự bảo đảm cho quyền năng của chúng ta để vâng giữ luật pháp thiên đàng. DA 24.3
Khi hạ mình mang lấy nhân tánh, Đấng Christ đã bày tỏ một bản tánh trái ngược với bản tánh của Sa-tan. Nhưng Ngài còn bước xuống thấp hơn nữa trên con đường hạ mình. “Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự.”
“Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự.” (Phi-líp 2:8)
Như thầy tế lễ thượng phẩm cởi bỏ những áo lễ lộng lẫy của mình, và phục vụ trong bộ áo vải gai trắng của thầy tế lễ thường, thì Đấng Christ cũng lấy hình tôi tớ, và dâng của lễ, chính Ngài là thầy tế lễ, chính Ngài là sinh tế. “Người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương; bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an.”
“Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương, bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh.” (Ê-sai 53:5)
DA 25.1
Đấng Christ đã bị đối xử như chúng ta đáng phải chịu, để chúng ta có thể được đối xử như Ngài đáng được hưởng. Ngài đã bị kết án vì tội lỗi của chúng ta, là điều Ngài không có phần, để chúng ta có thể được xưng công bình bởi sự công bình của Ngài, là điều chúng ta không có phần. Ngài đã chịu sự chết vốn thuộc về chúng ta, để chúng ta có thể nhận lãnh sự sống vốn thuộc về Ngài. “Lằn roi người chúng ta được lành bịnh.” DA 25.2
Bởi sự sống và sự chết của Ngài, Đấng Christ đã đạt được nhiều hơn cả sự phục hồi từ sự đổ nát do tội lỗi gây ra. Mục đích của Sa-tan là gây nên sự phân rẽ đời đời giữa Đức Chúa Trời và loài người; nhưng trong Đấng Christ, chúng ta trở nên hiệp một với Đức Chúa Trời còn gần gũi hơn cả khi chúng ta chưa từng sa ngã. Khi mang lấy bản tánh của chúng ta, Đấng Cứu Thế đã ràng buộc mình với nhân loại bằng một mối dây không bao giờ bị cắt đứt. Suốt các thời đại đời đời, Ngài liên kết với chúng ta. “Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài.”
“Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.” (Giăng 3:16)
Ngài ban Con không chỉ để gánh lấy tội lỗi chúng ta, và chịu chết như sinh tế của chúng ta; Ngài đã ban Con cho dòng dõi sa ngã. Để bảo đảm cho chúng ta về ý chỉ bình an không hề thay đổi của Ngài, Đức Chúa Trời đã ban Con một của Ngài để trở nên một thành viên của gia đình nhân loại, mãi mãi giữ lấy nhân tánh của Ngài. Đó là lời cam kết rằng Đức Chúa Trời sẽ làm thành lời Ngài. “Có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài.” Đức Chúa Trời đã tiếp nhận nhân tánh trong thân vị Con Ngài, và đã đem nhân tánh ấy vào tận thiên đàng cao nhất. Chính “Con Người” là Đấng chia sẻ ngôi của vũ trụ. Chính “Con Người” mà danh Ngài sẽ được xưng là, “Đấng Lạ Lùng, Đấng Mưu Luận, Đức Chúa Trời Quyền Năng, Cha Đời Đời, Chúa Bình An.”
“Quyền cai trị và sự bình an của Ngài cứ thêm mãi không thôi, ở trên ngôi Đa-vít và trên nước Ngài, đặng làm cho nước bền vững, và lập lên trong sự chánh trực công bình, từ nay cho đến đời đời. Thật, lòng sốt sắng của Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ làm nên sự ấy!” (Ê-sai 9:6)
Đấng TỰ HỮU là Đấng Trung Bảo giữa Đức Chúa Trời và nhân loại, đặt tay Ngài trên cả hai. Đấng “thánh khiết, không tội, không ô uế, biệt khỏi kẻ có tội,” không hổ thẹn mà gọi chúng ta là anh em.
“Ấy đó thật là thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta có cần dùng, thánh khiết, không tội, không ô uế, biệt khỏi kẻ có tội, được cất lên cao hơn các từng trời:” (Hê-bơ-rơ 7:26)
“Vì Đấng làm nên thánh và kẻ được nên thánh, đều bởi một Cha mà ra. Cho nên Ngài không thẹn mà gọi những kẻ đó là anh em,” (Hê-bơ-rơ 2:11)
Trong Đấng Christ, gia đình dưới đất và gia đình trên trời được kết hợp với nhau. Đấng Christ được vinh hiển là anh em của chúng ta. Thiên đàng được chứa đựng trong nhân loại, và nhân loại được ấp ủ trong lòng của Tình Yêu Vô Hạn. DA 25.3
Về dân sự Ngài, Đức Chúa Trời phán rằng:
“Trong ngày đó, Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng nó sẽ giải cứu dân mình như là bầy chiên, như những đá của mũ triều thiên sẽ được cất lên trên đất. Sự nhân từ Ngài và sự tốt đẹp Ngài sẽ lớn là dường nào! Lúa miến sẽ làm cho những trai trẻ lớn lên, và rượu mới sẽ làm cho gái đồng trinh thạnh vượng.” (Xa-cha-ri 9:16,17)
Sự tôn cao những kẻ được cứu chuộc sẽ là một bằng chứng đời đời về lòng thương xót của Đức Chúa Trời.
“hầu cho về đời sau tỏ ra sự giàu có vô hạn của ân điển Ngài, mà Ngài bởi lòng nhân từ đã dùng ra cho chúng ta trong Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc.” (Ê-phê-sô 2:7)
“Ấy vậy, hiện nay sự khôn sáng mọi đường của Đức Chúa Trời cậy Hội Thánh mà bày tỏ ra cho những kẻ làm đầu và những kẻ cầm quyền trong các nơi trên trời, theo ý định đời đời của Ngài đã làm xong trong Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc, Chúa chúng ta,” (Ê-phê-sô 3:10,11)
DA 26.1
Qua công cuộc cứu chuộc của Đấng Christ, chính quyền của Đức Chúa Trời được biện minh. Đấng Toàn Năng được tỏ ra là Đức Chúa Trời của tình yêu thương. Những lời buộc tội của Sa-tan bị bác bỏ, và bản tánh của nó bị phơi bày. Sự phản loạn sẽ không bao giờ dấy lên nữa. Tội lỗi sẽ không bao giờ xâm nhập vào vũ trụ một lần nữa. Trải qua các thời đại đời đời, hết thảy đều được an toàn khỏi sự bội đạo. Bởi sự hy sinh chính mình của tình yêu thương, cư dân trên đất và trên trời được ràng buộc với Đấng Tạo Hóa của họ trong mối liên hiệp không thể tan rời. DA 26.2
Công cuộc cứu chuộc sẽ được hoàn tất. Tại nơi tội lỗi đã gia tăng, ân điển của Đức Chúa Trời lại càng dư dật hơn. Chính trái đất, cánh đồng mà Sa-tan tuyên bố là của nó, sẽ không những được chuộc lại mà còn được tôn cao. Thế giới nhỏ bé của chúng ta, dưới sự rủa sả của tội lỗi là vết nhơ tăm tối duy nhất trong công trình sáng tạo vinh hiển của Ngài, sẽ được tôn quý hơn hết thảy các thế giới khác trong vũ trụ của Đức Chúa Trời. Tại đây, nơi Con Đức Chúa Trời đã ngự trong nhân tánh; nơi Vua vinh hiển đã sống, chịu khổ và chịu chết, — tại đây, khi Ngài làm mới lại muôn vật, đền tạm của Đức Chúa Trời sẽ ở cùng loài người, “Ngài sẽ ở với chúng, chúng sẽ làm dân Ngài, chính Đức Chúa Trời sẽ ở với chúng, và làm Đức Chúa Trời của chúng.” Và trải qua các thời đại vô tận, khi những kẻ được cứu chuộc bước đi trong ánh sáng của Chúa, họ sẽ ngợi khen Ngài về Sự Ban Cho không xiết kể của Ngài, — DA 26.3
Em-ma-nu-ên, “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta.” DA 26.4