Người Hậu Hiện Đại Đầu Tiên
Sự lừa dối ngay từ buổi ban đầu
Theo sách Khải Huyền, Sa-tan đã thành công trong việc lừa dối một phần ba các thiên sứ trên trời. Điều đó cho thấy phương pháp của hắn vô cùng tinh vi và đầy mưu mẹo. Nếu chúng ta hiểu được những phương pháp lừa dối mà Sa-tan đã dùng để dụ dỗ các thiên sứ trên trời và đánh lừa A-đam cùng Ê-va vào buổi đầu của lịch sử nhân loại, thì chúng ta cũng sẽ nhận ra những hình thức lừa dối ấy vào thời kỳ cuối cùng và đứng vững trong sự trung tín với Đức Chúa Trời.
Một câu trong Manuscript Releases, tập 10, trang 162, đã đặt ra ba điểm rất quan trọng. Thứ nhất, các thiên sứ đã bị Lu-xi-phe lừa dối bằng những phương pháp khéo léo xuyên tạc Đức Chúa Trời. Thứ hai, A-đam và Ê-va đã bị hắn lừa dối khi hắn tuyên bố rằng Đức Chúa Trời đang giấu họ một sự hiểu biết cao hơn có thể khiến họ trở nên như Đức Chúa Trời. Thứ ba, vậy thì hôm nay, con người chẳng phải cũng có nguy cơ bị lừa dối bằng chính những phương pháp ấy hay sao?
Nếu Sa-tan đã có thể lừa dối các thiên sứ trên trời và lừa dối A-đam cùng Ê-va, thì chắc chắn hắn cũng có thể lừa dối chúng ta bằng cùng những phương pháp đó. Vì vậy, chúng ta cần quay lại buổi đầu của lịch sử nhân loại để hiểu cách hắn sẽ tái sử dụng các phương pháp tương tự ở phần cuối của lịch sử.
Tình yêu, sự vâng lời và bài kiểm tra nơi cây biết điều thiện và điều ác
Khi tạo nên A-đam và Ê-va, Đức Chúa Trời đã bao phủ họ bằng mọi phước lành thuộc thể và thuộc linh: không khí trong lành, ánh nắng rực rỡ, cây cỏ xum xuê, nước ngọt, hoa thơm, trái ngon, bạn đồng hành, sự thông công với các thiên sứ, và cả sự tương giao mặt đối mặt với Đấng Tạo Hóa. Họ không hề kiếm được những điều ấy bằng công sức; tất cả là tặng phẩm nhưng không, là bằng chứng không thể chối cãi rằng Đức Chúa Trời yêu thương họ.
Tuy nhiên, tình yêu là một sự lựa chọn. Đức Chúa Trời không thể ép buộc con người yêu Ngài. Ngài đã không tạo dựng con người như một cỗ máy, mà ban cho họ khả năng đáp lại tình yêu của Ngài. A-đam và Ê-va phải lựa chọn đáp lại tình yêu ấy, và sự lựa chọn này gắn liền với sự vâng lời.
Công thức giao ước xuyên suốt lịch sử cứu chuộc — “Ta sẽ là Đức Chúa Trời của chúng, và chúng sẽ là dân ta” — thật ra đã bắt đầu ngay trong vườn Ê-đen. Đức Chúa Giê-su sau này phán cùng các môn đồ: “Nếu các ngươi yêu mến ta, thì giữ điều răn ta” (Giăng 14:15). Cũng như con cái bày tỏ lòng yêu cha mẹ qua sự vâng phục sẵn lòng, A-đam và Ê-va phải bày tỏ tình yêu của họ đối với Đức Chúa Trời bằng sự vâng lời sẵn lòng.
Để thử nghiệm tình yêu ấy, Đức Chúa Trời đặt giữa vườn một cái cây. Sáng Thế Ký 2:15–17 chép:
Giê-hô-va Đức Chúa Trời đem người ở vào cảnh vườn Ê-đen để trồng và giữ vườn. Rồi, Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán dạy rằng: Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn; nhưng về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn, chắc sẽ chết.
Mệnh lệnh của Đức Chúa Trời rõ ràng, đơn giản và dễ vâng theo: Ngài chỉ rõ cây nào không được ăn, không đòi hỏi điều bất khả thi, và họ có vô số cây khác để ăn. Để bày tỏ tình yêu, A-đam và Ê-va chỉ cần tin lời Đức Chúa Trời và vâng lời mà không cần lời giải thích nào.
Theo sách Confrontation, trang 12, cây cấm trông “hấp dẫn và đáng yêu như bất cứ cây nào khác trong vườn”. Cây ấy không khác biệt — không cao hơn, không to hơn, không lạ hơn. Đức Chúa Trời cũng không giải thích vì sao Ngài chọn riêng cây ấy. Trong Patriarchs and Prophets, trang 53, Ellen White viết rằng nếu A-đam và Ê-va cố tìm hiểu lý do, họ sẽ phơi bày mình trước những mưu chước của Sa-tan; họ phải bằng lòng với sự dạy dỗ mà Đức Chúa Trời thấy là đủ.
Một điểm rất quan trọng: chính Đức Chúa Trời định nghĩa thiện và ác. Tiêu chuẩn về phải và trái nằm bên ngoài A-đam và Ê-va, không phải bên trong. Đó là tiêu chuẩn khách quan, không chủ quan. Đức Chúa Trời là Đấng phân định, chứ không phải tấm lòng của con người.
Phương pháp thứ nhất: phép lạ giả mạo
Đức Chúa Trời đã cảnh báo A-đam và Ê-va rằng có một thiên sứ quyền năng đã sa ngã khỏi thiên đàng và sẽ tìm cách lừa dối họ. Vì vậy, Sa-tan không hiện ra trong dáng thiên sứ sáng láng — nếu làm thế, Ê-va đã đề phòng. Hắn chọn một con rắn, một phương tiện mà Ê-va không ngờ tới.
Sáng Thế Ký 3:1 chép: “Vả, trong các loài thú đồng mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã làm nên, có con rắn là giống quỉ quyệt hơn hết.” Một con rắn biết nói — đó là một phép lạ. Sa-tan đã nhập vào con rắn và sử dụng nó như một phương tiện. Ellen White viết trong Spirit of Prophecy, tập 1, trang 35, rằng Sa-tan đã nhập vào con rắn, đậu trên cây biết điều thiện và điều ác, và thong thả ăn trái cây.
Khi con rắn cất tiếng, Ê-va sửng sốt vì bà biết Đức Chúa Trời đã không ban cho rắn khả năng nói. Trong Patriarchs and Prophets, trang 53, có ghi lại rằng Ê-va đến gần cây ấy, thấy trái rất đẹp, và tự hỏi tại sao Đức Chúa Trời lại cấm họ. Bà đã thầm thì những thắc mắc của mình thành tiếng. Khi con rắn lặp lại đúng những suy nghĩ ấy bằng giọng du dương kèm những lời tâng bốc về vẻ đẹp của bà, Ê-va lầm tưởng rằng con rắn có khả năng đọc được tâm tư mình.
Thực ra, Sa-tan không hề đọc được tư tưởng. Ê-va đã vô tình thốt ra thành lời điều mình đang nghĩ, và hắn chỉ việc lặp lại để khiến bà tin rằng con rắn này khôn ngoan phi thường. Thay vì chạy trốn, bà nán lại đầy ngỡ ngàng. Sa-tan dùng phép cải trang và sự kín giấu — nếu một thiên sứ tiếp cận, Ê-va đã đề phòng; nhưng con rắn quyến rũ thì không hề khiến bà nghi ngờ.
Phương pháp thứ hai: xuyên tạc Lời Đức Chúa Trời
Sáng Thế Ký 3:1 ghi tiếp lời con rắn: “Mà chi! Đức Chúa Trời há có phán dặn các ngươi không được phép ăn trái các cây trong vườn sao?” Đó là một câu hỏi gài bẫy. Đức Chúa Trời không hề cấm họ ăn trái mọi cây trong vườn — Ngài chỉ cấm một cây duy nhất.
Vì sao Sa-tan lại trích dẫn sai lời Đức Chúa Trời, dù biết rõ Ê-va biết câu nói đúng? Bởi vì không có cách nào hữu hiệu hơn để khởi đầu một cuộc đối thoại bằng việc nói sai. Khuynh hướng tự nhiên của con người là lập tức đính chính. Sa-tan muốn Ê-va bước vào cuộc trò chuyện với hắn.
Và Ê-va đã đáp lại trong Sáng Thế Ký 3:2–3: “Chúng ta được ăn trái các cây trong vườn, song về phần trái của cây mọc giữa vườn, Đức Chúa Trời có phán rằng: Hai ngươi chẳng nên ăn đến và cũng chẳng nên đá-động đến, e khi hai ngươi phải chết chăng.” Bà thêm vào điều Đức Chúa Trời chưa từng phán: “cũng chẳng nên đá-động đến”. Trong Confrontation, trang 14, Ellen White nhận xét rằng Ê-va đã nói quá lời truyền của Đức Chúa Trời.
Nắm lấy điều đó, Sa-tan dường như đã hái một trái và đặt vào tay Ê-va, cho thấy rằng bà chạm vào nhưng không chết. Theo Patriarchs and Prophets, trang 54, hắn tuyên bố rằng chính nhờ ăn trái cây mà con rắn đã đạt được khả năng nói. Lập luận của hắn là: nếu một con rắn có thể học nói nhờ ăn trái này, thì còn con đường nào sẽ mở ra cho bà nếu bà cũng ăn?
Phương pháp thứ ba: lời nói dối nguy hiểm nhất
Khi Ê-va đã ở đúng nơi hắn muốn, Sa-tan tung ra lời dối trá nguy hại nhất. Sáng Thế Ký 3:4: “Hai ngươi chẳng chết đâu.” Trong tâm trí Ê-va lập tức xuất hiện điều mà các nhà tâm lý học gọi là cognitive dissonance — sự xung đột nhận thức. Đức Chúa Trời nói sẽ chết; con rắn nói sẽ không chết. Hàm ý ngấm ngầm là Đức Chúa Trời đã nói dối.
Sa-tan gieo những ý tưởng vào tâm trí chúng ta vì hắn biết chúng ta sẽ phản ứng thế nào với những ý tưởng ấy. Khi hắn nói “hai ngươi chẳng chết đâu”, hắn biết câu hỏi tiếp theo của Ê-va sẽ là: Vậy tại sao Đức Chúa Trời lại nói dối? Ngài có động cơ thầm kín gì?
Và Sa-tan trả lời ngay trong Sáng Thế Ký 3:5: “Vì Đức Chúa Trời biết rằng hễ ngày nào hai ngươi ăn trái cây đó, mắt mình mở ra, sẽ như Đức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác.” Hắn ngụ ý rằng Đức Chúa Trời muốn họ mù lòa. Hắn gợi rằng Đức Chúa Trời cất giấu một bí mật, có một mục đích đằng sau sự cấm đoán: chính Đức Chúa Trời đã từng ăn trái cây ấy và đoạt được quyền năng làm Đức Chúa Trời, rồi không muốn ai khác bằng vai với Ngài, nên dọa rằng sẽ chết để giữ độc quyền.
Trong Patriarchs and Prophets, trang 54, Ellen White viết rằng con rắn đã ám chỉ rằng Đức Chúa Trời ghen tị, không muốn họ được nâng lên ngang hàng với chính Ngài; rằng lời cảnh cáo về cái chết chỉ nhằm hăm dọa họ.
Nhưng còn một điểm quan trọng hơn nữa. Sa-tan nói Ê-va sẽ tự mình biết điều thiện và điều ác. Trước đó, chính Đức Chúa Trời, từ bên ngoài, định nghĩa thiện và ác. Giờ đây hắn nói: bà sẽ không cần một tiêu chuẩn bên ngoài; chính bà sẽ tự định nghĩa. Đó chính là chủ nghĩa hậu hiện đại trong vườn Ê-đen.
Hắn đã dùng cùng lập luận này với các thiên sứ trên trời. Trong Great Controversy, trang 499, ghi rằng Lu-xi-phe đã quả quyết các thiên sứ không cần ai kiểm soát, mà nên được để cho ý chí riêng của mình dẫn dắt — và sự khôn ngoan của họ sẽ luôn dẫn họ đúng đường. Hắn lên án các điều luật của Đức Chúa Trời như một sự hạn chế tự do và muốn xóa bỏ luật pháp.
Trong Patriarchs and Prophets, trang 37, hắn cũng gieo nghi ngờ rằng các thiên sứ — vì cao quý hơn — không cần đến luật pháp; sự khôn ngoan riêng của họ là đủ để hướng dẫn. Đó là chủ nghĩa hậu hiện đại trên thiên đàng: phủ nhận một tiêu chuẩn khách quan của thiện và ác, đặt tấm lòng con người lên ngôi tối cao.
Và Ê-va đã cắn câu hoàn toàn.
Phương pháp thứ tư: dựa vào bằng chứng của các giác quan
Sáng Thế Ký 3:6 chép: “Người nữ thấy trái của cây đó bộ ăn ngon, lại đẹp mắt và quí vì để mở trí khôn, bèn hái ăn.” Ê-va dựa vào chứng cớ của các giác quan: tai đã nghe lập luận của con rắn, mắt đã thấy trái đẹp, mũi đã ngửi mùi thơm, tay đã chạm, và lưỡi sẽ nếm.
Từ buổi đầu, cuộc xung đột là giữa Lời Đức Chúa Trời và lời Sa-tan. Vào thời kỳ cuối cùng cũng vậy. Đức Chúa Trời phán rõ rằng ngày thứ bảy là ngày Sa-bát của Đức Chúa Trời; không nơi nào trong Kinh Thánh nói đến Chủ Nhật. Qua giáo quyền La Mã, Sa-tan nói: không, là Chủ Nhật. Cuối cùng, mỗi người sẽ phải quyết định: vâng theo Lời Đức Chúa Trời, hay vâng theo truyền thống của loài người do Sa-tan dựng nên. Bài thử nghiệm cuối cùng không chỉ liên quan đến ngày, mà liên quan đến thẩm quyền: chúng ta sẽ vâng phục Đức Chúa Trời vì yêu Ngài, hay vâng phục Sa-tan vì bị ép buộc.
Phương pháp thứ năm: dùng người đã sa ngã để kéo người khác sa ngã
Khi đã chiến thắng được Ê-va, Sa-tan sử dụng chính bà để dẫn A-đam vào tội. Sáng Thế Ký 3:6 chép tiếp: “… cũng cho chồng đứng gần mình, chồng cũng ăn nữa.”
Tội lớn của A-đam là yêu Ê-va hơn yêu Đức Chúa Trời. Ê-va bị lừa dối, nhưng A-đam thì không thể chịu đựng ý nghĩ phải sống dù chỉ một khoảnh khắc thiếu vắng vợ mình. Ông yêu món quà hơn Đấng ban tặng. Trong Patriarchs and Prophets, trang 56–57, Ellen White viết rằng tình yêu, lòng biết ơn và sự trung thành đối với Đấng Tạo Hóa đều bị tình yêu dành cho Ê-va lấn át. Ông không nhận ra rằng Đấng đã từng dùng bụi đất tạo nên ông cũng có thể ban cho ông một bạn đồng hành khác. Ông quyết định cùng chia sẻ số phận với bà, và bắt đầu lý luận rằng có lẽ con rắn khôn ngoan đã nói đúng.
Đến thời kỳ cuối cùng, Sa-tan sẽ tiếp tục dùng người dẫn dắt người vào sự không vâng lời. Great Controversy, trang 595, viết rằng Sa-tan không ngừng tìm cách hướng sự chú ý vào con người thay cho Đức Chúa Trời; hắn dẫn dắt dân chúng nhìn vào các giám mục, mục sư, các giáo sư thần học làm những kẻ hướng dẫn của mình thay vì tra xem Kinh Thánh để tự mình học bổn phận. Bằng cách kiểm soát tâm trí của những lãnh đạo này, hắn có thể ảnh hưởng đến đám đông theo ý muốn.
Vì vậy, không ai có thể được tin cậy tuyệt đối, dù chúng ta yêu mến mục sư, giáo sư hay giám mục đến đâu. Mọi điều họ giảng phải được kiểm tra bằng Lời thánh của Đức Chúa Trời. Phao-lô đã khen người Bê-rê vì họ tra xét xem điều ông giảng có đúng hay không (Công Vụ Các Sứ Đồ 17:11). Nếu ngay cả sứ đồ Phao-lô còn được tra xét, thì các mục sư ngày nay cũng phải được tra xét.
Great Controversy, trang 598–599, cảnh báo rằng những lẽ thật rõ ràng nhất trong Kinh Thánh đã bị các học giả vùi vào nghi ngờ và bóng tối khi họ tự xưng có sự khôn ngoan lớn và dạy rằng Kinh Thánh có ý nghĩa huyền bí, thuộc linh ẩn giấu, không có trong ngôn từ được dùng. Những người ấy là giáo sư giả. Đức Chúa Giê-su từng phán cùng những người như vậy: “Các ngươi lầm, vì không hiểu Kinh Thánh, và cũng không hiểu quyền-phép Đức Chúa Trời” (Ma-thi-ơ 22:29). Ngôn ngữ Kinh Thánh phải được giải nghĩa theo nghĩa hiển nhiên, trừ khi có biểu tượng hay hình bóng được sử dụng.
Nếu một mục sư đứng giảng vào sáng Chủ Nhật rằng người vừa qua đời tuần này đang ở thiên đàng nhìn xuống, thì tín đồ phải nói: tôi yêu mến và kính trọng ông, nhưng Kinh Thánh dạy rằng “người sống biết mình sẽ chết, nhưng người chết chẳng biết chi hết” (Truyền Đạo 9:5). Nếu mục sư tuyên bố Chủ Nhật là ngày thờ phượng kỷ niệm sự phục sinh, thì tín đồ phải nói: từ Sáng Thế Ký đến Khải Huyền, Kinh Thánh dạy rằng ngày thứ bảy là ngày Sa-bát của Giê-hô-va Đức Chúa Trời.
Ê-va đã vi phạm tất cả mười điều răn về nguyên tắc
Về nguyên tắc, Ê-va đã vi phạm cả mười điều răn. Bà có muốn chiếm chỗ của Đức Chúa Trời không? Có. Bà có thần tượng hóa chính mình không? Có. Bà có lấy danh Đức Chúa Trời mà nói rằng Ngài đã phán điều Ngài chưa từng phán không? Có. Bà có sỉ nhục Đấng Tạo Hóa — nguyên tắc nằm sau ngày Sa-bát — không? Có. Bà có sỉ nhục Cha trên trời không? Có. Bà có đem sự chết vào thế gian khi cám dỗ A-đam không? Có. Bà có chọn một “người yêu” thuộc linh khác hơn Đức Chúa Trời không? Có. Bà có lấy của không thuộc về mình không? Có. Bà có làm chứng dối khi đặt lời lên môi miệng Đức Chúa Trời không? Có. Bà có tham lam không? Có.
Đó là lý do Gia-cơ nói rằng người nào phạm một điều răn thì mắc tội như đã phạm tất cả (Gia-cơ 2:10). Điều ấy cũng áp dụng cho ngày Sa-bát: nếu giữ chín điều răn nhưng giẫm đạp ngày Sa-bát thánh thứ bảy của Đức Chúa Trời, thì theo Kinh Thánh, người ấy mắc tội như đã phạm tất cả.
Sự bảo vệ duy nhất: Lời Đức Chúa Trời
Trong Great Controversy, Ellen White viết rằng chỉ những ai siêng năng tra xem Kinh Thánh và nhận lấy lòng yêu mến lẽ thật mới được che chở khỏi sự lừa dối quyền năng đang chiếm lấy thế gian. Bằng chứng của Kinh Thánh sẽ giúp họ phát hiện kẻ lừa dối trong sự ngụy trang của hắn.
Đáng lẽ Ê-va phải nói: “Lập luận của ngươi nghe có vẻ hợp lý, các giác quan của ta nói trái cây này tốt, ta cũng không biết rằng rắn có thể nói. Nhưng có một điều: Đức Chúa Trời đã phán đừng ăn, và chúng ta sống nhờ mọi lời ra từ miệng Đức Chúa Trời.”
Thời kỳ thử nghiệm sẽ đến với tất cả mọi người. Câu hỏi đặt ra là: dân của Đức Chúa Trời có được lập vững trên Lời Ngài đến mức không nhường bước trước bằng chứng của các giác quan hay không? Họ có bám lấy Kinh Thánh và chỉ Kinh Thánh trong cơn khủng hoảng ấy hay không? Sa-tan, nếu có thể, sẽ ngăn họ chuẩn bị đứng vững vào ngày đó; hắn sẽ sắp đặt mọi sự để chặn lối, ràng buộc họ bằng của cải đời này, đè trên vai họ những gánh nặng mệt mỏi, để lòng họ chất nặng những lo lắng đời này, và ngày thử thách ập đến trên họ như kẻ trộm.
Trong Patriarchs and Prophets, trang 55, có một câu mạnh mẽ: Ê-va thật sự đã tin lời Sa-tan, nhưng lòng tin ấy không cứu bà khỏi hình phạt của tội lỗi. Bà tin con rắn nhưng không tin Lời Đức Chúa Trời; chính điều đó dẫn bà sa ngã. Trong cuộc phán xét, con người sẽ không bị kết án vì đã trung thực tin một lời nói dối, nhưng vì đã không tin lẽ thật, đã bỏ qua cơ hội học biết lẽ thật. Phớt lờ lẽ thật sẽ dẫn đến hủy diệt; bất cứ điều gì mâu thuẫn với Lời Đức Chúa Trời, chúng ta có thể chắc chắn rằng nó đến từ Sa-tan.
Phải biết bản thật mới phát hiện được bản giả
Một lần ở Medellín, Colombia, khi đi mua hàng, tôi trả bằng một tờ 10.000 peso. Người thu ngân giơ tờ tiền lên ánh sáng, vò nhàu trong lòng bàn tay, đặt dưới đèn cực tím rồi báo cảnh sát rằng tôi đưa tờ tiền giả. Họ đưa tôi vào phòng sau và tra hỏi xem tôi lấy đâu ra thiết bị làm bạc giả. Khi biết tôi dạy thần học tại Đại học Cơ-đốc Phục Lâm, thái độ họ thay đổi. Một viên cảnh sát mang ra một tờ tiền thật và một tờ tiền giả, rồi chỉ cho tôi cách phân biệt: đường chỉ chạy bên trong, gương mặt được mã hóa rõ nét hay mờ nhòe, giấy có bật trở lại hình dạng ban đầu sau khi vò hay không, và những vòng tròn phát sáng dưới đèn cực tím.
Bài học rất rõ: không thể phát hiện được bản giả nếu không biết bản thật. Cũng vậy, chúng ta không thể phát hiện những bản sao giả của Sa-tan nếu không biết lẽ thật như đã chép trong Lời thánh của Đức Chúa Trời. Tiêu chuẩn để phát hiện bản giả nằm trong Kinh Thánh. Và thông thường, bản giả đến sau bản thật — không ai đi làm tờ tiền giả trước rồi chính phủ mới in tờ tiền thật.
Ngày thờ phượng thật mà Đức Chúa Trời đã thiết lập trước khi tội lỗi bước vào thế gian là ngày nào? Sáng Thế Ký 2 cho biết Đức Chúa Trời nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy, ban phước và biệt riêng ngày thứ bảy ra thánh. Như vậy, ngày thờ phượng thật được thiết lập từ buổi sáng tạo. Về sau, lẽ tự nhiên là Sa-tan dựng nên một bản sao giả: cũng là một ngày, cũng có 24 giờ, cũng được cho là tôn vinh Đức Chúa Trời. Khác biệt nằm ở chỗ Kinh Thánh chỉ ra rằng ngày Sa-bát thứ bảy là ngày thờ phượng thật, còn Chủ Nhật chỉ là bản sao đến sau.
Đứng vững trên Kinh Thánh và chỉ Kinh Thánh
Great Controversy, trang 593, ghi: “Sự lừa dối lớn cuối cùng sắp mở ra trước mắt chúng ta. Kẻ địch lại Đấng Christ sẽ thực hiện công việc kỳ diệu của hắn ngay trước mắt chúng ta. Bản giả sẽ giống bản thật đến nỗi không thể phân biệt được, ngoại trừ bằng Kinh Thánh.” Mọi tuyên bố và mọi phép lạ phải được thử nghiệm bằng chính Kinh Thánh.
Great Controversy, trang 595, tiếp tục: Đức Chúa Trời sẽ có một dân trên đất duy trì Kinh Thánh và chỉ Kinh Thánh làm tiêu chuẩn của mọi giáo lý và nền tảng của mọi cải cách. Không phải ý kiến của những người học rộng, không phải các kết luận của khoa học, không phải các tín điều hay nghị quyết của các hội đồng giáo hội — vốn đã đông đảo và bất nhất như chính các giáo phái mà chúng đại diện — không phải tiếng nói của đa số: không một điều nào trong số đó, hay tất cả gộp lại, được coi là bằng cớ ủng hộ hay chống lại bất kỳ điểm nào của đức tin tôn giáo. Trước khi chấp nhận một giáo lý hay một mệnh lệnh, chúng ta phải đòi hỏi một câu rõ ràng “Đức Giê-hô-va phán như vầy”.
Trong II Tê-sa-lô-ni-ca 2:10–12, Phao-lô viết về những kẻ sẽ hư mất ở thời kỳ cuối cùng: “… vì họ không nhận lãnh sự yêu thương của lẽ thật để được cứu rỗi. Ấy vì thế mà Đức Chúa Trời cho chúng nó mắc phải sự lầm lạc, là sự khiến chúng nó tin điều dối giả, hầu cho hết thảy những người không tin lẽ thật, song chuộng sự không công bình, đều bị phục dưới sự phán xét của Ngài.” Nếu một người không muốn theo lẽ thật, đến một lúc Đức Chúa Trời sẽ để cho họ tin điều dối giả mà họ đã chọn.
Nhưng Phao-lô tiếp: “… Đức Chúa Trời đã chọn anh em từ buổi ban đầu cho được sự cứu rỗi, bởi sự nên thánh của Thánh Linh, và bởi tin lẽ thật.” Vào ngày sau cùng, người được cứu là người đã quyết định sống theo lẽ thật như đã chép trong Lời thánh của Đức Chúa Trời. Người bị hư mất là người không nhận lấy lòng yêu mến lẽ thật.
Lẽ thật ở đâu? Đức Chúa Giê-su đã phán trong Giăng 17:17: “Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh; lời Cha tức là lẽ thật.” Lẽ thật ở trong Kinh Thánh.
Thật đáng lo khi nhiều người ngày nay sẵn sàng dựa vào điều mục sư, giám mục, hay giáo sư thần học của mình tin thay cho mình. Chúng ta sẽ không vào thiên đàng bằng cách bám vào vạt áo của một mục sư hay một nhà thần học. Mỗi người phải có mối quan hệ cá nhân với Đức Chúa Giê-su qua chính sách thánh của Ngài. Khi ấy, dù Sa-tan đến với mọi sự lừa dối ở thời kỳ cuối cùng, chúng ta vẫn đứng vững mà tuyên xưng: “Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời” (Ma-thi-ơ 4:4).