Bài 11 / 18

Sự Sống Lại và Sự Sống

11 The Resurrection and the Life - Pastor Stephen Bohr - State of the Dead

Niềm hy vọng giữa cơn đại dịch

Đại dịch của những năm 2019, 2020 và 2021 đã đảo lộn cuộc sống của vô số người. Hàng trăm ngàn người tại Hoa Kỳ và hàng triệu người trên toàn thế giới đã qua đời. Nhiều thân nhân không thể đến dự tang lễ của người mình yêu thương, và có những người chết thậm chí không còn ai đứng ra nhận xác.

Mất đi ông bà, cha mẹ, con cái, anh chị em, bạn bè là một nỗi đau khó nguôi ngoai. Bên cạnh đó, không ít người dù chưa nhiễm bệnh vẫn sống trong nỗi sợ hãi triền miên trước viễn cảnh có thể nhiễm bệnh bất cứ lúc nào. Khi con người đối diện với sự hữu hạn của chính mình, Kinh Thánh đem đến niềm hy vọng — và Giăng 11 chính là một câu chuyện đem lại sự an ủi cho những ai đang đau khổ trong thời đại của chúng ta.


Bối cảnh câu chuyện tại Bê-tha-ni

Khi câu chuyện mở ra, Đức Chúa Giê-su đang ở vùng bên kia sông Giô-đanh, nơi Giăng Báp-tít từng làm phép báp-têm. Địa điểm này cách Bê-tha-ni — nơi La-xa-rơ và hai chị em sống — khoảng 24 cây số, một quãng đường mất gần trọn một ngày để đi từ nơi này đến nơi kia.

Đức Chúa Giê-su rất quý mến mái nhà của Ma-ri, Ma-thê và La-xa-rơ, vì nơi đó là chốn nghỉ ngơi tránh xa sự thù ghét cay đắng và những âm mưu của các kẻ thù. Tại đó, Ngài có thể an nghỉ giữa những con người thật lòng yêu mến Ngài. Kinh Thánh chép rõ rằng Đức Chúa Giê-su yêu thương La-xa-rơ, Ma-ri và Ma-thê.

Trong suốt chức vụ của mình, Đức Chúa Giê-su nương nhờ vào lòng tốt của người khác để có chỗ ăn chỗ nghỉ. Khi Giu-đa ngỏ lời theo Ngài, Đức Chúa Giê-su đáp rằng con cáo có hang, chim trời có ổ, song Con người không có chỗ gối đầu. Câu chuyện vì thế triển khai trên hai địa điểm: vùng Bê-tha-ba-ra nơi Đức Chúa Giê-su đang giảng dạy, và Bê-tha-ni nơi La-xa-rơ lâm bệnh.

Giăng 11:1–3 cho biết La-xa-rơ ngã bệnh nặng, và hai chị em sai người đến báo tin với Đức Chúa Giê-su:

“Lạy Chúa, kìa kẻ Chúa yêu mắc bệnh.”

Thời ấy không có điện thoại, internet hay điện tín, nên một sứ giả phải đi gần trọn một ngày đường mới đến nơi.


Sự trì hoãn khó hiểu của Đức Chúa Giê-su

Khi nghe tin La-xa-rơ đau nặng, Đức Chúa Giê-su lại tỏ thái độ dường như thờ ơ. Phản ứng ấy khiến các môn đồ ngạc nhiên, vì họ biết rõ Ngài yêu thương La-xa-rơ. Sách Desire of Ages trang 526 nhận xét rằng khi Đấng Christ nghe tin, các môn đồ tưởng Ngài tiếp nhận một cách lạnh nhạt, không hề bộc lộ nỗi buồn họ chờ đợi.

Giăng 11:4–6 cho biết Đức Chúa Giê-su tuyên bố bệnh này không đến nỗi chết, mà là vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, để Con của Ngài được tôn vinh — nói cách khác, để mọi người nhận biết Ngài là Đấng Mê-si-a, Con của Đức Chúa Trời hằng sống. Dù vậy, Ngài còn ở lại thêm hai ngày nơi đang giảng đạo. Trong hai ngày đó, theo Desire of Ages trang 526, Đấng Christ dường như đã gạt sứ điệp khỏi tâm trí, vì Ngài không nói một lời nào về La-xa-rơ.

Đến ngày thứ ba, Đức Chúa Giê-su mới bảo các môn đồ trở lại xứ Giu-đê. Các môn đồ kinh ngạc, vì những chương ngay trước đó cho thấy lòng căm ghét đối với Ngài tại Giu-đê đang lên đến đỉnh điểm. Trong Giăng 8:59, khi Ngài tuyên bố “Trước khi có Áp-ra-ham, đã có Ta” — tự xưng là Đức Chúa Trời toàn năng, hằng có từ trước, ngang hàng với Cha — họ đã lượm đá để ném Ngài. Đến Giăng 10:30, khi Ngài nói “Ta với Cha là một”, họ lại lượm đá lần nữa. Vì vậy các môn đồ thưa: “Lạy Thầy, người Giu-đa vừa tìm cách ném đá Thầy, Thầy còn trở lại đó sao?”


“Trong một ngày há chẳng phải có mười hai giờ sao?”

Đức Chúa Giê-su đáp lại bằng một câu nói thoạt nghe có vẻ lạc đề:

“Trong một ngày há chẳng phải có mười hai giờ sao?”

Để hiểu lời này, cần biết rằng trước khi Đấng Christ xuống thế, mọi hành động trong cuộc đời Ngài đã được sắp đặt trên thiên đàng. Desire of Ages trang 147 cho biết câu “Giờ Ta chưa đến” chỉ về sự kiện rằng mọi việc Đấng Christ làm trên đất đều ứng nghiệm chương trình đã có từ những ngày đời đời. Trước khi Ngài đến thế gian, chương trình ấy đã được mở ra trước mặt Ngài, hoàn hảo trong mọi chi tiết; nhưng khi đi giữa loài người, Ngài được Cha hướng dẫn từng bước.

Đức Chúa Giê-su ví toàn bộ chức vụ ba năm rưỡi của Ngài như một ngày có mười hai giờ. Giờ thứ nhất là khi Ngài bắt đầu chức vụ; giờ thứ mười hai là khi Ngài chịu chết trên thập tự giá. Trong Giăng 9:4, Ngài phán phải làm việc của Đấng đã sai Ngài đang khi còn ban ngày, vì đêm đến không ai làm việc được. Nhiều lần Ngài tuyên bố “giờ Ta chưa đến”. Giăng 7:30 và Giăng 8:20 đều cho biết kẻ thù của Ngài không thể đặt tay bắt Ngài, vì giờ Ngài chưa đến.

Mãi đến tối thứ Năm trên đường đến vườn Ghết-sê-ma-nê, trong lời cầu nguyện thượng tế ở Giăng 17:1, Ngài mới đổi giọng:

“Cha ơi, giờ đã đến; xin làm vinh hiển Con, hầu cho Con cũng làm vinh hiển Cha.”

Giờ thứ mười hai đã đến. Desire of Ages trang 526 ghi lại lời Ngài: mười hai giờ ban ngày của Ta chưa kết thúc; Ta đã bước vào phần cuối cùng của ngày Ta, nhưng bao lâu phần ấy còn lại, Ta vẫn an toàn. Lúc bấy giờ Ngài chỉ còn sáu tháng chức vụ, nhưng Desire of Ages trang 527–528 cho biết khi nào thời gian được phân định vẫn còn, Ngài có sự gìn giữ của các thiên sứ, và ngay cả tại Giu-đê nơi các thầy thông giáo đang lập mưu giết Ngài, không một sự hại nào có thể xảy đến.

Ngài nói tiếp rằng ai đi ban ngày thì không vấp, vì thấy ánh sáng của thế gian này; còn ai đi ban đêm thì vấp, vì không có sự sáng trong người. Desire of Ages trang 527 giải thích: ai làm theo ý Đức Chúa Trời, đi trong con đường Đức Chúa Trời đã vạch ra, thì không thể vấp ngã; nhưng ai đi trong con đường tự mình chọn lấy, nơi Đức Chúa Trời không sai phái, sẽ vấp ngã, vì với người ấy ngày đã hóa thành đêm.


Sự chết chỉ là giấc ngủ

Đức Chúa Giê-su nói với các môn đồ rằng La-xa-rơ đang ngủ, và Ngài sẽ đi đánh thức người. Các môn đồ tưởng Ngài nói về giấc ngủ thường, nên đáp rằng nếu La-xa-rơ ngủ thì sẽ khoẻ lại. Bấy giờ Đức Chúa Giê-su mới nói thẳng: “La-xa-rơ chết rồi.”

Kinh Thánh hơn năm mươi lần ví sự chết với giấc ngủ. Khi một người ngủ, họ không ý thức điều gì đang xảy ra chung quanh; cũng vậy, khi một người chết, họ hoàn toàn không hay biết gì về thế giới này. Họ không sống trong một cõi nào khác, linh hồn họ không lên hưởng phước lạc nơi thiên đàng — họ đang ngủ.

Đa-ni-ên 12:2 chép rằng nhiều kẻ ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy, kẻ thì được sự sống đời đời, kẻ thì bị hổ nhuốc và khinh khi đời đời. Khi Đức Chúa Giê-su làm con gái Giai-ru sống lại, Ngài cũng gọi sự chết của em là giấc ngủ; đám đông cười nhạo Ngài, dù chính họ là người Do Thái và đáng lẽ phải biết Kinh Thánh dùng giấc ngủ làm uyển ngữ cho sự chết — như được chép trong Lu-ca 8:52–53.

Lu-ca cũng dùng cách diễn đạt này trong Công Vụ Các Sứ Đồ 7:59–60. Khi Ê-tiên bị ném đá, ông kêu cầu Đức Chúa Giê-su tiếp lấy linh hồn mình, rồi quỳ xuống xin Chúa đừng đổ tội này cho họ; nói xong, ông “ngủ”. Ê-tiên đã ngủ từ giây phút ấy và sẽ thức dậy khi Đức Chúa Giê-su trở lại.

Sứ đồ Phao-lô viết trong 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:15–17 rằng chúng ta là kẻ sống còn ở lại cho đến khi Chúa đến sẽ chẳng đi trước những kẻ đã ngủ. Vì sẽ có tiếng kêu lớn, tiếng của thiên sứ trưởng và tiếng kèn của Đức Chúa Trời, rồi những kẻ chết trong Đấng Christ sẽ sống lại trước hết — nghĩa là họ sẽ được đánh thức khỏi giấc ngủ; sau đó những kẻ còn sống được cất lên với họ trong đám mây để gặp Chúa giữa không trung. Khi Đức Chúa Giê-su nói La-xa-rơ đang ngủ, Ngài có ý sẽ đi đánh thức ông — nghĩa là làm ông sống lại từ kẻ chết.

Ngài còn nói thêm một điều khiến các môn đồ bối rối: “Ta vì các ngươi mà mừng vì Ta không có mặt tại đó” — để qua đó họ tin rằng Ngài là Đấng Mê-si-a được hứa ban. Desire of Ages trang 528 giải thích: nếu Đấng Christ có mặt trong phòng người bệnh, La-xa-rơ đã không chết, vì Sa-tan không có quyền lực gì trên ông trước mặt Đấng ban sự sống. Vì vậy Đấng Christ đã giữ khoảng cách, để kẻ thù được phép thi triển quyền lực, hầu Ngài đẩy lui nó như một kẻ thù bại trận.


“Ta là sự sống lại và sự sống”

Khi Đức Chúa Giê-su đến, La-xa-rơ đã ở trong mộ bốn ngày. Bốn ngày ấy gồm: một ngày sứ giả đi báo tin, hai ngày Đức Chúa Giê-su nán lại nơi đang giảng dạy, và một ngày Ngài cùng môn đồ đi đến Bê-tha-ni.

Ma-thê chạy ra đón và thưa rằng nếu Chúa có mặt nơi đây, anh nàng đã không chết; rồi nàng nói thêm rằng dầu vậy, nàng biết bất cứ điều gì Ngài xin cùng Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời cũng sẽ ban cho. Đức Chúa Giê-su đáp:

“Anh ngươi sẽ sống lại.”

Ma-thê thưa nàng biết rằng anh nàng sẽ sống lại trong sự sống lại nơi ngày sau rốt — nhưng nàng không hề ngờ rằng chính Đức Chúa Giê-su là Đấng sẽ làm cho các thánh đồ sống lại trong ngày Chúa tái lâm. Bấy giờ Ngài phán những lời sấm sét:

“Ta là sự sống lại và sự sống. Kẻ nào tin Ta, dẫu chết cũng sẽ sống; còn ai sống mà tin Ta, thì sẽ chẳng hề chết. Ngươi tin điều đó chăng?”

Ma-thê thưa: “Lạy Chúa, vâng, tôi tin Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời.” Nhưng nàng có thật sự hiểu hết ý nghĩa lời tuyên xưng của mình không? Không hẳn. Phi-e-rơ cũng từng thốt ra y nguyên lời tuyên xưng ấy trong Ma-thi-ơ 16, vậy mà ngay sau đó ông bị Chúa quở trách: “Hỡi quỷ Sa-tan, hãy lui ra đằng sau Ta” — vì Sa-tan đang dùng Phi-e-rơ để cố ngăn Ngài đi đến thập tự giá.

Ma-ri sau đó cũng ra gặp Ngài và sấp mình dưới chân Ngài, cũng nói y một câu: nếu Chúa có mặt, anh nàng đã không chết. Cả hai chị em đều tin rằng Đức Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a, là Con Đức Chúa Trời hằng sống — nhưng phải đến khi La-xa-rơ sống lại, họ mới hiểu trọn vẹn rằng Ngài chính là Đấng sẽ làm kẻ chết sống lại trong ngày Ngài tái lâm.


Tiếng kêu lớn trước cửa mộ

Khi Đức Chúa Giê-su thấy Ma-ri và đoàn người khóc, Ngài đau xót trong lòng và bối rối. Ngài không buồn vì La-xa-rơ chết — Ngài biết mình sắp gọi ông sống lại. Ngài khóc vì thấy nỗi đau của Ma-ri và Ma-thê, và vì kinh ngạc trước sự vô tín của những người có mặt. Desire of Ages trang 533 cho biết Đấng Christ không khóc cho La-xa-rơ, vì Ngài sắp gọi ông ra khỏi mộ; Ngài khóc vì biết nhiều người đang than khóc La-xa-rơ chẳng bao lâu sẽ lập mưu giết chính Đấng là sự sống lại và sự sống. Nơi nhiều người, điều bề ngoài tỏ ra là nỗi buồn thật chỉ là sự giả vờ.

Khi đến mộ, Ngài truyền lăn hòn đá đi. Ma-thê hoảng sợ, thưa rằng đã có mùi, vì anh nàng chết bốn ngày rồi — nàng vẫn không hiểu Ngài đến để làm gì. Đức Chúa Giê-su đáp: “Ta há chẳng từng nói với ngươi rằng nếu ngươi tin thì sẽ thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời sao?”

Desire of Ages trang 533–534 giải thích vì sao Ngài chờ đến bốn ngày: khi Ngài làm con gái Giai-ru sống lại ngay sau khi em chết, người Pha-ri-si tuyên bố rằng em không thật sự chết, vì chính Ngài đã nói em chỉ ngủ. Họ tìm cách làm cho người ta tin rằng Đấng Christ không thể chữa lành bệnh, rằng có sự gian lận trong các phép lạ của Ngài. Nhưng trong trường hợp này, không ai có thể chối rằng La-xa-rơ đã chết, vì ông đã ở trong mộ bốn ngày.

Trước khi gọi La-xa-rơ ra khỏi mộ, Ngài ngước mắt lên trời và thưa cùng Cha:

“Cha ôi, Con cảm tạ Cha vì đã nhậm lời Con. Con biết rõ Cha hằng nhậm lời Con; nhưng Con nói vậy là vì cớ đoàn dân đứng chung quanh, để họ tin rằng chính Cha đã sai Con đến.”

Ngài cầu nguyện không phải vì cần nài xin, mà để cho mọi người biết rằng Ngài không hành động độc lập với Cha. Desire of Ages trang 536 cho biết trong mọi việc Ngài làm, Đấng Christ luôn cộng tác với Cha; chính bởi đức tin và sự cầu nguyện mà Ngài làm các phép lạ.

Rồi Ngài cất tiếng kêu lớn:

“Hỡi La-xa-rơ, hãy ra!”

Người chết bước ra, tay chân buộc bằng vải liệm và mặt phủ một cái khăn. Đức Chúa Giê-su bảo cởi cho ông và để ông đi. Hãy lưu ý: Ngài không nói “La-xa-rơ, hãy xuống đây” như thể La-xa-rơ đang ở trên thiên đàng. Ngài nói “hãy ra” — vì La-xa-rơ ở trong mộ, không phải trên thiên đàng. Sẽ thật tàn nhẫn nếu Ngài kéo La-xa-rơ trở lại từ thiên đàng nếu thật ông đang ở đó. Desire of Ages trang 536 mô tả La-xa-rơ đứng trước mặt mọi người không phải như một người gầy mòn vì bệnh tật, chân tay run rẩy, mà như một người đang trong độ sung sức của tuổi tráng niên; mắt ông sáng ngời sự thông minh và lòng yêu mến đối với Đấng Cứu Chuộc; ông sấp mình thờ phượng dưới chân Đức Chúa Giê-su.


Ẩn dụ về người giàu và La-xa-rơ

Vào cuối năm thứ ba của chức vụ, ít hơn một tháng trước khi gọi La-xa-rơ ra khỏi mộ, Đức Chúa Giê-su đã kể ẩn dụ về người giàu và La-xa-rơ. Đây là ẩn dụ duy nhất Ngài dùng đến tên riêng của một nhân vật. Ngài nhắm ẩn dụ này đặc biệt vào người Pha-ri-si — những người tin vào sự bất tử của linh hồn. Lu-ca 16:14 cho biết người Pha-ri-si vốn ham tiền, đã nghe những điều ấy và chê cười Ngài.

Trong ẩn dụ, La-xa-rơ tượng trưng cho dân ngoại, còn người giàu đại diện cho dân tộc Do Thái. Khi chết, vị thế hai bên đảo ngược điều mà người Do Thái tưởng: La-xa-rơ ở trong lòng Áp-ra-ham, còn người giàu ở trong lửa địa ngục. Người giàu xin Áp-ra-ham sai La-xa-rơ về nhà cha mình để cảnh báo năm anh em, kẻo họ cũng sa vào nơi khổ hình. Áp-ra-ham đáp rằng họ đã có Môi-se và các đấng tiên tri — tức là có Kinh Thánh — hãy nghe lời các đấng ấy.

Người giàu nài thêm: “Thưa cha Áp-ra-ham, không phải vậy đâu; nhưng nếu có kẻ chết sống lại đến cùng họ, thì họ sẽ ăn năn.” Hãy chú ý cách diễn đạt: người giàu nói “từ kẻ chết đi đến” — ông tin rằng linh hồn người chết có thể đến nói chuyện với người sống, đúng theo niềm tin về sự bất tử của linh hồn. Nhưng Áp-ra-ham đáp:

“Nếu họ không nghe Môi-se và các đấng tiên tri, thì dẫu có ai từ kẻ chết sống lại, họ cũng chẳng tin vậy.”

Áp-ra-ham không nói “đi đến” mà nói “sống lại từ kẻ chết” — chỉ về sự sống lại. Cùng từ ngữ ấy được dùng trong Giăng 6:39, 40, 44 và 54, nơi Đức Chúa Giê-su nhiều lần phán rằng Ngài sẽ làm cho người tin sống lại trong ngày sau rốt. Nói cách khác, người giàu tin vào sự bất tử của linh hồn; còn Áp-ra-ham xác nhận rằng người chết ở trong mộ cho đến ngày sống lại.


Khi ẩn dụ ứng nghiệm theo từng chữ

Khoảng một tháng sau khi kể ẩn dụ ấy, Đức Chúa Giê-su làm sống lại một người mang chính tên La-xa-rơ. Mục đích là để khi thấy phép lạ này, dân chúng tin rằng Ngài là Con của Đức Chúa Trời, là Đấng Mê-si-a được hứa ban. Điều ấy đã không xảy ra với mọi người. Đúng như ẩn dụ đã báo trước, dù có một người tên La-xa-rơ sống lại từ kẻ chết, nhiều kẻ vẫn không tin.

Giăng 11:46 chép rằng có những người đến thuật lại cho người Pha-ri-si những việc Đức Chúa Giê-su đã làm. Các thầy tế lễ thượng phẩm và người Pha-ri-si nhóm tòa công luận lại và nói: nếu cứ để Người làm vậy, mọi người sẽ tin Người, rồi người Rô-ma sẽ đến cất lấy cả nơi này lẫn dân ta. Cai-phe, thầy tế lễ thượng phẩm năm ấy, nói rằng thà một người chết thay cho dân còn hơn cả nước phải hư mất; lời ấy không phải tự ông nghĩ ra, nhưng vì làm thầy tế lễ thượng phẩm năm đó, ông đã nói tiên tri rằng Đức Chúa Giê-su sẽ chết thay cho dân tộc, và không phải chỉ cho dân tộc đó thôi mà còn để nhóm con cái Đức Chúa Trời tản lạc lại làm một. Từ ngày ấy, họ bắt đầu mưu tính giết Ngài.

Chưa hết, họ còn lập mưu giết cả La-xa-rơ. Giăng 12:9–11 cho biết một đoàn dân đông đến không chỉ vì Đức Chúa Giê-su, mà còn để xem La-xa-rơ — người đã được Ngài làm sống lại từ kẻ chết. Các thầy tế lễ thượng phẩm bèn định giết luôn cả La-xa-rơ, vì bởi cớ ông mà nhiều người Do Thái lìa khỏi họ và tin Đức Chúa Giê-su. Lý do rõ ràng: La-xa-rơ là một chứng nhân sống. Ông đi khắp nơi làm chứng rằng mình đã chết và Đức Chúa Giê-su đã làm mình sống lại — và nếu vậy, Ngài chắc chắn phải là Đấng Mê-si-a, là Con Đức Chúa Trời.


Kinh Thánh, quyền năng Đức Chúa Trời, và niềm an ủi

Đức Chúa Giê-su từng quở trách các nhà lãnh đạo tôn giáo rằng họ không biết Kinh Thánh, cũng không biết quyền năng của Đức Chúa Trời. Trong Giăng 5:39–40, Ngài phán cùng người Do Thái:

“Các ngươi dò xem Kinh Thánh, vì tưởng bởi đó được sự sống đời đời; ấy là Kinh Thánh làm chứng về Ta vậy. Các ngươi không muốn đến cùng Ta để được sự sống.”

Các câu 45–47 nói thêm rằng có một đấng kiện họ trước mặt Cha, đó là Môi-se — đấng họ trông cậy. Nếu họ tin Môi-se, họ ắt cũng tin Đức Chúa Giê-su, vì Môi-se đã viết về Ngài; bằng họ không tin lời Môi-se, sao có thể tin lời Ngài được? Đây cũng chính là nguyên tắc trong Giăng 11 và trong ẩn dụ về người giàu và La-xa-rơ: ai không tin Kinh Thánh thì cũng sẽ chẳng tin dù có người tên La-xa-rơ sống lại từ kẻ chết.

Lu-ca 24:25–27 ghi lại cuộc gặp giữa Đức Chúa Giê-su và hai môn đồ trên đường đến Em-ma-út. Ngài phán: “Hỡi những kẻ dại dột, có lòng chậm tin lời các đấng tiên tri nói! Đấng Christ chẳng phải đã chịu thương khó thể ấy mới được vào sự vinh hiển mình sao?” Rồi Ngài bắt đầu từ Môi-se và hết thảy các đấng tiên tri, cắt nghĩa cho hai người mọi lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh. Lẽ ra họ phải tin nơi Ngài chỉ trên cơ sở Kinh Thánh; nhưng Ngài đã ban thêm một bằng chứng nữa, là việc làm sống lại một người đã chết bốn ngày — vậy mà họ vẫn không tin Kinh Thánh, cũng không tin quyền năng của Đức Chúa Trời.

Tại phòng cao, Ngài lại phán cùng các môn đồ rằng mọi sự đã chép về Ngài trong luật pháp Môi-se, các sách tiên tri và các Thi Thiên đều phải được ứng nghiệm; rồi Ngài mở trí cho họ hiểu Kinh Thánh.

Vậy chúng ta được an ủi với một thực tại vững chắc: Đức Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a, là Con của Đức Chúa Trời, là Đấng có quyền làm cho kẻ chết sống lại. Nếu chúng ta qua đời — nếu chúng ta ngủ — và chúng ta ở trong Đấng Christ, chúng ta không có lý do gì phải lo sợ. Đấng đã gọi La-xa-rơ ra khỏi mộ sau bốn ngày có quyền gọi ra khỏi mồ mả tất cả những ai ở trong Đức Chúa Giê-su.

Đại dịch là một thảm họa khủng khiếp, nhưng điều quan trọng là tin nơi Đấng Christ, tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa và làm Chúa của đời mình. Và nếu chúng ta được đặt vào nơi an nghỉ — nếu chúng ta đi vào giấc ngủ — Ngài sẽ làm chúng ta sống lại từ kẻ chết.