Một Tên Trộm và Một Mụ Đồng Bóng
Lời hứa của Đức Chúa Giê-su với tên trộm trên thập tự
Khi Đức Chúa Giê-su bị đóng đinh, hai tên tội phạm cũng bị đóng đinh cùng với Ngài, một bên hữu và một bên tả. Lu-ca 23:32–33 ghi lại sự kiện này. Lúc đầu, cả hai tên tội phạm đều chế nhạo và sỉ vả Đức Chúa Giê-su, nhưng sau đó một người trong họ đột nhiên ăn năn, quở trách kẻ đồng phạm và xin Đức Chúa Giê-su nhớ đến mình khi Ngài vào trong nước Ngài.
Lu-ca 23:39–43 thuật lại lời cầu xin: “Lạy Chúa, khi Ngài đến trong nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi!” Đức Chúa Giê-su đã đáp lời theo cách đem lại cho tên trộm một niềm hy vọng lớn lao. Theo bản dịch New King James, câu trả lời được dịch là: “Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong Pa-ra-đi.”
Câu hỏi quan trọng đặt ra là: Đức Chúa Giê-su có hứa rằng tên trộm sẽ ở cùng Ngài trong Pa-ra-đi ngay chính ngày hôm đó hay không?
Vấn đề về vị trí của dấu phẩy
Để trả lời câu hỏi trên, cần hiểu rằng các bản chép tay Tân Ước không có dấu chấm câu. Điều này rất quan trọng, bởi vì có cuộc tranh luận về vị trí đặt dấu phẩy trong Lu-ca 23:43.
Có hai khả năng đặt dấu phẩy. Cách thứ nhất là đặt dấu phẩy sau chữ “ngươi”: “Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay ngươi sẽ được ở với ta trong Pa-ra-đi.” Đây là cách hầu hết các bản dịch hiện nay đã chọn. Tuy nhiên, câu này cũng có thể được dịch một cách hợp lệ bằng cách đặt dấu phẩy sau chữ “hôm nay”: “Quả thật, ta nói cùng ngươi hôm nay, ngươi sẽ được ở với ta trong Pa-ra-đi.”
Vậy dấu phẩy nên đặt ở đâu? Điều đó phụ thuộc vào quan niệm về điều xảy ra khi một người chết. Chúng ta không thể chỉ dựa vào một câu duy nhất để xây dựng một giáo lý về tình trạng người chết, mà phải xem xét toàn bộ chứng cứ Kinh Thánh.
Pa-ra-đi nằm ở đâu?
Theo Kinh Thánh, có ba tầng trời. Trong 2 Cô-rinh-tô 12:2–4, sứ đồ Phao-lô nói về một người được cất lên đến tầng trời thứ ba, và ông cho biết Pa-ra-đi nằm ở tầng trời thứ ba.
Tầng trời thứ nhất là bầu khí quyển, nơi chim chóc bay lượn. Sáng Thế Ký 1:8 chép: “Đức Chúa Trời gọi khoảng không là trời.” Tầng trời thứ hai là vũ trụ các vì sao, ở ngoài bầu khí quyển. Trong Sáng Thế Ký 15:5, Đức Chúa Trời đem Áp-ra-ham ra ngoài ban đêm và bảo ông ngước mắt nhìn các ngôi sao. Tầng trời thứ ba là nơi Đức Chúa Trời ngự, là nơi có Pa-ra-đi.
Khải Huyền 2:7 cho biết cây sự sống ở giữa Pa-ra-đi của Đức Chúa Trời. Khải Huyền 22:1–2 mô tả một sông nước sự sống chảy ra từ ngôi của Đức Chúa Trời và Chiên Con, và hai bên bờ sông có cây sự sống. Khải Huyền 22:14 khẳng định cây sự sống ở trong các cổng thành Giê-ru-sa-lem mới.
Kết luận là không thể tránh khỏi: Pa-ra-đi nằm trong thành Giê-ru-sa-lem mới ở tầng trời thứ ba, là nơi có ngôi của Đức Chúa Trời và cây sự sống.
Đức Chúa Giê-su đã đi đâu khi Ngài chết?
Trong thời kỳ giữa hai giao ước, người Do Thái đã phát triển một truyền thống ngoài Kinh Thánh, cho rằng Pa-ra-đi là một nơi trung gian, nơi linh hồn của những người công chính trong Cựu Ước cư trú trước khi vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Nhiều người Tin Lành ngày nay cũng đã chấp nhận quan điểm này. Tuy nhiên, Kinh Thánh dạy rằng Pa-ra-đi nằm trong thành Giê-ru-sa-lem mới.
Vậy khi Đức Chúa Giê-su chết, Ngài có lên tầng trời thứ ba, đến Giê-ru-sa-lem mới hay không? Trong Công Vụ Các Sứ Đồ 2:25–27, Phi-e-rơ rao giảng vào ngày Lễ Ngũ Tuần và trích dẫn Thi Thiên 16. Bản New King James chép: “Vì Chúa sẽ chẳng để linh hồn tôi nơi âm phủ.” Nhưng bản NIV — vốn là bản dịch của Tin Lành chứ không phải của Cơ-đốc Phục Lâm — dịch rõ hơn: “Chúa sẽ chẳng bỏ tôi nơi mồ mả, cũng chẳng để Đấng Thánh của Chúa thấy sự hư nát.”
Ở đây có một sự song hành đồng nghĩa: “Đấng Thánh” song hành với “tôi”, và “mồ mả” song hành với “sự hư nát”. Khi Đức Chúa Giê-su chết, Ngài đi vào mồ mả, và trong mồ mả thân thể Ngài không thấy sự hư nát. Từ Hy Lạp hadēs tương đương với từ Hê-bơ-rơ sheol, đều có nghĩa là mồ mả.
Đức Chúa Giê-su chưa vào nước Ngài vào ngày Thứ Sáu
Tên trộm xin Đức Chúa Giê-su nhớ đến mình khi Ngài vào trong nước mình. Đức Chúa Giê-su chết vào Thứ Sáu, theo Ma-thi-ơ 27:46–50, vào giờ thứ chín, tức ba giờ chiều. Câu hỏi là: Đức Chúa Giê-su có vào nước Ngài ngay ngày Thứ Sáu hôm đó hay không?
Đức Chúa Giê-su không thể vào nước Ngài trước khi Ngài bẻ gãy xiềng xích của sự chết, sống lại từ mồ mả và thăng thiên ngồi bên hữu Đức Chúa Cha. Giăng 20:1 cho biết Ngài sống lại vào sáng ngày thứ nhất trong tuần lễ, tức Chủ Nhật.
Điều then chốt được tỏ ra trong Giăng 20:17. Sáng Chủ Nhật, khi Ma-ri Ma-đơ-len gặp Đức Chúa Giê-su sau khi Ngài sống lại, Ngài phán: “Chớ rờ đến ta; vì ta chưa lên cùng Cha. Nhưng hãy đi đến cùng anh em ta, nói rằng ta lên cùng Cha ta và Cha các ngươi.” Như vậy, ngay sáng Chủ Nhật — sau khi đã sống lại — Đức Chúa Giê-su vẫn nói rằng Ngài chưa lên cùng Cha. Nếu Ngài chưa lên cùng Cha vào sáng Chủ Nhật, thì lại càng không thể đã ở Pa-ra-đi vào ngày Thứ Sáu khi Ngài chết.
Ý nghĩa của chữ “rờ” trong Giăng 20:17
Một số bản dịch cho rằng cụm “chớ rờ đến ta” thực ra có nghĩa là “chớ bám lấy ta”. Tuy nhiên, từ Hy Lạp haptō xuất hiện 36 lần trong Tân Ước, và bản NIV dịch là “rờ” (touch) trong 35 lần, chỉ duy nhất một lần ở câu này dịch là “bám lấy” (cling).
Ma-thi-ơ 8:3 chép Đức Chúa Giê-su rờ một người phung và người ấy được lành — Ngài đâu có “bám lấy” người phung. Một người đàn bà rờ trôn áo Ngài và được chữa lành; nếu bà bám lấy thì Ngài đã không hỏi “Ai rờ đến ta?” Lu-ca 6:19, Lu-ca 18:15 và Ma-thi-ơ 20:34 đều dùng cùng một từ với nghĩa “rờ”.
Vậy bản dịch đúng phải là: “Chớ rờ đến ta, vì ta chưa lên cùng Cha.” Thì của động từ ở đây là thì hiện tại tiếp diễn, ngôi thứ nhất, lối trực thuyết, thể chủ động — “Ta đang lên cùng Cha” — chỉ một hành động sắp xảy ra ngay lúc đó, không phải bốn mươi ngày sau.
Chuyến lên trời ngắn vào sáng Phục Sinh
Vào sáng ngày Phục Sinh, Đức Chúa Giê-su đã thực hiện một chuyến lên trời ngắn để gặp Đức Chúa Cha, hầu nhận từ chính miệng Cha rằng sinh tế của Ngài đã được chấp nhận, và để nhận lấy mọi quyền phép trên trời và dưới đất.
Điều này giúp giải thích Ma-thi-ơ 28:18, khi Đức Chúa Giê-su phán trước khi thăng thiên bốn mươi ngày sau sự sống lại: “Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta.” Bản dịch chính xác hơn của thì động từ là “đã được giao cho ta” — tức quyền phép đã được giao trước thời điểm đó. Quyền phép ấy được giao khi Ngài đến cùng Cha vào sáng Phục Sinh.
Chuyến đi này tương ứng với lễ dâng trái đầu mùa trong Cựu Ước. Theo 1 Cô-rinh-tô 15, Đức Chúa Giê-su sống lại như trái đầu mùa và trình diện chính mình trước Đức Chúa Cha tại lối vào đền thánh trên trời, vào đúng giờ đã định.
Vị trí đúng của dấu phẩy
Phục Truyền Luật Lệ Ký 30:18 cho ta một cấu trúc tương tự với câu nói của Đức Chúa Giê-su trên thập tự. Đức Chúa Trời phán cùng dân Y-sơ-ra-ên: “Ngày nay, ta tỏ cùng các ngươi rằng các ngươi hẳn sẽ bị diệt-vong.” Cụm “ngày nay” gắn với động từ phát ngôn “tỏ”, chứ không phải với hành động xảy ra trong ngày đó.
Dựa trên toàn bộ chứng cứ Kinh Thánh, dấu phẩy trong Lu-ca 23:43 cần được đặt như sau: “Quả thật, ta nói cùng ngươi hôm nay, ngươi sẽ được ở với ta trong Pa-ra-đi.” Hôm nay — khi mọi sự dường như đã mất, khi đang treo trên thập tự — Đức Chúa Giê-su đã ban cho tên trộm lời hứa rằng vào ngày phục sinh của những người công chính, người ấy sẽ được vào Giê-ru-sa-lem mới ở tầng trời thứ ba, nơi có ngôi của Đức Chúa Trời và cây sự sống.
Câu chuyện vua Sau-lơ và mụ đồng bóng tại Ên-đô-rơ
Vua Sau-lơ dành phần lớn thời gian truy đuổi Đa-vít, kẻ mà ông xem là thù nghịch, và gần như bỏ bê việc trị nước. Điều này khiến dân Phi-li-tin chiếm thế thượng phong trên quân đội Y-sơ-ra-ên. 1 Sa-mu-ên 28:5 cho biết khi Sau-lơ thấy quân Phi-li-tin, ông sợ hãi và lòng ông run rẩy lắm.
Có nhiều lý do cho thấy người hiện ra trước mụ đồng bóng tại Ên-đô-rơ không phải là Sa-mu-ên thật.
Thứ nhất, Sau-lơ đã cầu vấn Đức Giê-hô-va theo những phương cách thông thường. 1 Sa-mu-ên 28:6 cho biết ông cầu vấn qua chiêm bao, qua u-rim, qua các tiên tri, nhưng Đức Giê-hô-va không đáp lời. Vì sao Đức Chúa Trời lại trả lời qua một phương cách Ngài đã cấm, sau khi đã không trả lời qua những phương cách Ngài chấp nhận?
Thứ hai, Kinh Thánh dạy rằng người chết chẳng biết chi hết. Truyền Đạo 9:5–6 chép: “Kẻ sống biết mình sẽ chết; nhưng kẻ chết chẳng biết chi hết.” Linh hồn của Sa-mu-ên không thể đến nói chuyện với Sau-lơ.
Thứ ba, Đức Chúa Trời đã cấm rõ ràng việc cầu vấn đồng bóng. Lê-vi Ký 20:27 phán: “Người nam hay nữ nào hoặc cầu vong hoặc chiêm bao thì hẳn phải bị xử tử.” Lê-vi Ký 19:31 cũng cấm như vậy.
Thứ tư, chính mụ đồng bóng nhận biết điều mình làm là trái luật. 1 Sa-mu-ên 28:9 ghi lại lời bà nói với Sau-lơ rằng vua đã trừ diệt các đồng bóng khỏi xứ. Sau-lơ phải cải trang và đi ban đêm — dấu hiệu cho thấy ông biết hành động của mình là sai trái.
Những bằng cớ thêm rằng đó không phải là Sa-mu-ên
Thứ năm, Kinh Thánh nói rằng Sa-mu-ên đi lên chứ không đi xuống. Nếu Sa-mu-ên là người công chính, hẳn ông phải từ trên xuống, chứ không phải từ dưới đất đi lên. Sau-lơ nói: “Hãy mời Sa-mu-ên lên cho ta.”
Thứ sáu, mụ đồng bóng gọi Sa-mu-ên là “một vị thần”. Bản King James dùng chữ gods, là từ elohim — cùng từ được dùng trong Sáng Thế Ký 1:1 chỉ về Đức Chúa Trời. Đây chính là lời nói dối Sa-tan đã nói trong vườn Ê-đen: “Hai ngươi chẳng chết đâu… các ngươi sẽ giống như Đức Chúa Trời.” (Sáng Thế Ký 3:4–5)
Thứ bảy, Sau-lơ sấp mình thờ lạy trước kẻ mạo danh. Nếu đó thật là Sa-mu-ên, hẳn ông đã bảo Sau-lơ đứng dậy, như Phi-e-rơ đã làm với Cọt-nây, và như thiên sứ đã làm với sứ đồ Giăng tại đảo Bát-mô. 1 Sa-mu-ên 28:14 chỉ chép rằng Sau-lơ tưởng đó là Sa-mu-ên, không phải khẳng định đó là Sa-mu-ên.
Thứ tám, kẻ mạo danh tuyên bố rằng Sau-lơ và các con trai sẽ ở cùng nó vào ngày hôm sau. Theo lời này, người công chính và kẻ ác đều đi cùng một nơi — điều hoàn toàn trái với lời dạy của Kinh Thánh.
Thứ chín, Hê-bơ-rơ 11 liệt kê Sa-mu-ên trong danh sách những anh hùng đức tin của Cựu Ước. Hê-bơ-rơ 11:35 chép rằng họ đang chờ đợi “một sự sống lại tốt hơn”. Sa-mu-ên không ở trên trời; ông đang an nghỉ trong mồ mả, chờ đợi sự phục sinh.
Cuối cùng, 1 Sử Ký 10:13–14 — phân đoạn song song — khẳng định rằng Sau-lơ đã chết vì đã cầu vấn đồng bóng “và không cầu vấn Đức Giê-hô-va”. Như vậy, Đức Giê-hô-va đã không sai Sa-mu-ên đến nói chuyện với Sau-lơ.
Sa-tan giả mạo người chết
Ải-len Hoài (Ellen White) đã viết trong sách Conflict and Courage trang 172 rằng khi Sau-lơ cầu vấn Sa-mu-ên, Đức Giê-hô-va đã không khiến Sa-mu-ên hiện đến với Sau-lơ. Sa-tan không được phép quấy nhiễu sự an nghỉ của Sa-mu-ên trong mồ mả. Đức Chúa Trời không ban cho Sa-tan quyền làm cho người chết sống lại. Nhưng các thiên sứ của Sa-tan có thể mang hình dạng của những người thân đã qua đời, nói năng và hành động giống như họ, để qua những người “bạn đã chết” giả mạo này, Sa-tan có thể tiến hành công việc lừa dối của mình hữu hiệu hơn.
Kinh Thánh cho biết Sa-tan sẽ dùng thuyết hồn linh vào thời cuối cùng để lừa dối hầu hết cả thế giới. Trong sách The Great Controversy trang 552, Hoài viết rằng Sa-tan có quyền đem hiện ra trước mặt loài người dáng vẻ của những bạn hữu đã qua đời. Sự giả mạo là hoàn hảo — vẻ ngoài quen thuộc, lời nói, giọng điệu đều được tái tạo với độ chính xác lạ lùng. Nhiều người được an ủi với sự bảo đảm rằng những người thân yêu của họ đang hưởng phước trên thiên đàng, và không ngờ vực gì, họ lắng nghe các tà linh dụ dỗ và các giáo lý của ma quỉ.
Sa-tan có thể tiên đoán điều gì?
Làm thế nào kẻ mạo danh Sa-mu-ên biết rằng Sau-lơ và các con trai sẽ chết trong trận chiến ngay ngày hôm sau? Ma quỉ không biết tương lai. Nhưng trong sách Patriarchs and Prophets trang 687, Hoài giải thích rằng Sa-tan, qua kinh nghiệm tích lũy trong nhiều thế đại, có thể suy luận từ nguyên nhân đến kết quả, và thường tiên đoán với một mức độ chính xác về một số biến cố tương lai trong đời sống con người.
Sa-tan có ý định giết Sau-lơ và các con trai vào ngày hôm sau, và Đức Chúa Trời cho phép điều đó xảy ra vì Sau-lơ đã bán linh hồn mình cho ma quỉ. Khi điều đó ứng nghiệm, người ta nói: “Người nói chuyện với Sau-lơ chắc hẳn là Sa-mu-ên, vì lời tiên tri đã được ứng nghiệm.” Nhưng thật ra, Sa-tan chỉ đang tỏ bày điều nó định làm.
Một ví dụ thời nay là Jeane Dixon, một “tiên tri” nổi tiếng. Trong một bài báo trên tạp chí Parade ngày 13 tháng 5 năm 1956, bà ta đã tiên đoán rằng cuộc bầu cử năm 1960 sẽ do một đảng viên Đảng Dân Chủ thắng cử, và người đó sẽ bị ám sát hoặc chết trong nhiệm sở. John F. Kennedy đắc cử năm 1960 và bị ám sát tháng 11 năm 1963. Người ta nói Jeane Dixon là một tiên tri thật. Nhưng thật ra Sa-tan đã tỏ bày cho bà điều nó định làm với người được bầu làm tổng thống.
Sống bằng lời Kinh Thánh
Sa-tan dùng các thiên sứ giả, các nhà ngoại cảm, các nhà chiêm tinh, người xem quả cầu pha lê, người xem chỉ tay, các đồng cốt, các Đức Mẹ Đồng Trinh giả mạo, và những hồn ma giả của các thánh đã qua đời, vì nó biết các phương cách này hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của nó. Khi một người tin rằng người chết chưa thật sự chết, người ấy sẽ bị Sa-tan lừa dối.
Giả sử một phụ nữ giả dạng làm mẹ tôi hiện ra với tôi, với cùng giọng nói, cùng diện mạo, biết những điều chỉ có mẹ tôi mới biết, và nói: “Con yêu, mẹ rất vui được gặp con.” Tôi phải đáp thế nào? Tôi phải nói: Kinh Thánh dạy rằng kẻ sống biết mình sẽ chết, nhưng kẻ chết chẳng biết chi hết. Bà không phải là mẹ tôi. Bà có thể trông giống mẹ tôi, nói giống mẹ tôi, biết những điều chỉ mẹ tôi biết, nhưng bà không phải là mẹ tôi — vì tôi sống bởi mọi lời ra từ miệng Đức Chúa Trời, và Kinh Thánh dạy rằng kẻ chết chẳng biết chi hết.
Ê-sai 8:19–20 phán: “Khi có ai bảo các ngươi: Hãy cầu hỏi đồng bóng và thầy bói, là kẻ nói rúc rích, líu lo, thì hãy đáp rằng: Một dân tộc há chẳng nên cầu hỏi Đức Chúa Trời mình sao?… Hãy theo luật pháp và lời chứng! Nếu dân chẳng nói như vậy, chắc sẽ chẳng có rạng đông cho nó.