Tìm Hiểu Hội Chúa Mẹ Bài 7 / 7

40 Năm Mơ Mộng

Vì Sao “3 Năm + 37 Năm” Không Chứng Minh Ahn Sahng-hong Là Đấng Christ Tái Lâm

Hội Thánh Đức Chúa Trời Hiệp Hội Truyền Giáo Thế Giới (WMSCOG, Hội Chúa Mẹ) biến 40 năm trị vì của vua Đa-vít thành một thời hạn tiên tri dành cho Đấng Christ. Họ cho rằng Đức Chúa Giê-su chỉ thi hành ba năm, nên phải tái lâm trong xác thịt để hoàn tất 37 năm còn thiếu. Sau đó, vì Ahn Sahng-hong hoạt động từ năm 1948 đến năm 1985, họ kết luận ông chính là Đấng Christ tái lâm. Nhưng Kinh Thánh không hề thiết lập phép tính ấy. Nó chỉ xuất hiện khi người ta biến lịch sử thành lời tiên tri, đổi “trị vì” thành “giảng đạo”, đổi phép báp-têm thành lễ đăng quang và dùng tiểu sử Ahn Sahng-hong để quyết định bản văn phải có nghĩa gì.


Một phép tính có thể hoàn toàn chính xác về số học nhưng vẫn hoàn toàn vô nghĩa về mặt giải kinh.

Ví dụ:

40 - 3 = 37

Không ai phủ nhận kết quả toán học này. Nhưng để biến nó thành một lời tiên tri, người giải nghĩa phải chứng minh được rằng:

  1. 40 năm trị vì của Đa-vít là một thời hạn tiên tri;
  2. thời hạn đó áp dụng cho chức vụ trên đất của Đấng Christ;
  3. “trị vì” tương đương với “giảng Tin Lành”;
  4. đồng hồ tiên tri bắt đầu khi Đấng Christ chịu phép báp-têm;
  5. Đức Chúa Giê-su chỉ hoàn thành ba năm;
  6. phần còn lại phải được hoàn tất trong lần tái lâm;
  7. đồng hồ có thể ngừng gần hai nghìn năm rồi tiếp tục;
  8. Đấng Christ tái lâm phải xuất hiện trong một thân thể khác;
  9. người hoạt động đúng 37 năm vì thế phải là Đấng Christ.

Hội Chúa Mẹ không chứng minh chuỗi tiền đề này từ Kinh Thánh. Họ chỉ ghép chúng lại, rồi trình bày kết quả như thể đó là một lời tiên tri rõ ràng.

Năm phần đầu của loạt bài đã khảo sát sai lệch tín lý, phương pháp giải kinh, lai thế học, cơ chế thao túng tâm lýnhững thay đổi trong di sản Ahn Sahng-hong. Phần thứ sáu phân tích cách WMSCOG xây dựng “một Tin Lành khác”.

Bài thứ bảy tập trung vào một ví dụ cụ thể, nhưng đặc biệt quan trọng:

Giáo lý “ngai Đa-vít 40 năm” có thực sự tiên báo 37 năm hoạt động của Ahn Sahng-hong hay không?

1. Lập luận chính thức của WMSCOG

WMSCOG trình bày lập luận như sau:

  • Đa-vít được xức dầu và lên làm vua lúc 30 tuổi;
  • Đa-vít trị vì trị 40 năm;
  • Đức Chúa Giê-su chịu phép báp-têm và bắt đầu chức vụ lúc khoảng 30 tuổi;
  • Đức Chúa Giê-su chỉ thực hiện chức vụ công khai trong ba năm;
  • vì chưa hoàn thành đủ 40 năm nên Ngài phải tái lâm;
  • lần tái lâm, Ngài phải chịu phép báp-têm lúc 30 tuổi;
  • Ngài phải giảng Tin Lành thêm 37 năm;
  • Ahn Sahng-hong chịu phép báp-têm năm 1948, lúc 30 tuổi;
  • ông hoạt động 37 năm và qua đời năm 1985;
  • vì vậy ông là Đấng Christ tái lâm và là “Đa-vít thuộc linh”.

Trang chính thức của Hội viết rằng Đa-vít trở thành vua lúc 30 tuổi và trị vì 40 năm; Đức Chúa Giê-su cũng bắt đầu chức vụ lúc khoảng 30 tuổi nhưng chỉ thi hành ba năm. Từ đó, Hội kết luận Ngài phải trở lại, chịu phép báp-têm lúc 30 tuổi và giảng Tin Lành 37 năm để hoàn tất “lời tiên tri về ngai Đa-vít”. Sau đó bài viết xác định Ahn Sahng-hong là người đã hoàn thành 37 năm ấy từ 1948 đến 1985.

Có thể biểu diễn toàn bộ lập luận bằng công thức:

40 năm của Đa-vít = 3 năm của Giê-su + 37 năm của Ahn Sahng-hong

Thoạt nhìn, cấu trúc này có vẻ gọn gàng. Nó sử dụng những con số có thật, những nhân vật có thật và những sự kiện có thật.

Nhưng một chuỗi suy luận không trở thành đúng chỉ vì các con số của nó cộng lại vừa khít.

2. Dữ kiện lịch sử không tự động trở thành lời tiên tri

2 Sa-mu-ên 5:4–5 thuật lại rằng Đa-vít lên làm vua lúc 30 tuổi, trị vì tại Hếp-rôn trên Giu-đa bảy năm sáu tháng, rồi trị vì tại Giê-ru-sa-lem trên toàn Israel và Giu-đa 33 năm.

Đây trước hết là một bản tường thuật lịch sử.

Bản văn không nói:

  • 30 tuổi là tuổi bắt buộc của Đấng Mê-si khi bắt đầu chức vụ;
  • 40 năm là thời hạn chức vụ của Đấng Christ;
  • mỗi năm trị vì của Đa-vít tương ứng với một năm giảng đạo;
  • thời gian ấy sẽ được chia giữa hai lần hiện đến;
  • phần chưa hoàn thành sẽ tiếp tục trong một thân thể khác.

Muốn coi một dữ kiện lịch sử là lời tiên tri, cần có căn cứ từ chính Kinh Thánh.

Ví dụ, Tân Ước trực tiếp giải thích một số sự kiện Cựu Ước mang ý nghĩa hình bóng:

  • con rắn đồng được liên hệ với việc Con Người bị treo lên;
  • Giô-na ở trong bụng cá được liên hệ với sự chết và phục sinh của Đấng Christ;
  • chiên con Lễ Vượt Qua được liên hệ với Đấng Christ;
  • A-đam được gọi là hình bóng của Đấng phải đến.

Trong những trường hợp đó, mối liên hệ không được tạo ra chỉ vì một người giải nghĩa thấy hai sự kiện giống nhau. Chính Kinh Thánh thiết lập mối liên hệ.

Đối với phép tính 40 năm, WMSCOG không đưa ra câu Kinh Thánh nào nói:

“Số năm Đa-vít trị vì là số năm Đấng Christ phải giảng Tin Lành trên đất.”

Họ chỉ đặt 2 Sa-mu-ên 5 cạnh Lu-ca 3, nhận thấy cả Đa-vít và Đức Chúa Giê-su đều liên quan đến tuổi 30, rồi tự suy ra rằng 40 năm cũng phải được áp dụng.

Đó không phải là giải nghĩa bản văn.

Đó là suy diễn bằng sự tương đồng.

Nếu mọi chi tiết của Đa-vít đều là tiên tri

Nếu tuổi 30 và 40 năm của Đa-vít bắt buộc phải được Đấng Christ lặp lại, tại sao những chi tiết khác lại không?

  • Đa-vít cai trị tại Hếp-rôn bảy năm sáu tháng.
  • Sau đó ông chuyển đến Giê-ru-sa-lem.
  • Ban đầu ông chỉ cai trị nhà Giu-đa.
  • Sau đó ông mới cai trị toàn Israel.
  • Ông phải chiến đấu để chiếm thành Giê-ru-sa-lem.
  • Ông trải qua nhiều cuộc chiến tranh.
  • Ông chạy trốn khỏi con mình.
  • Ông kết thúc đời mình khi đã già.

Những chi tiết nào là tiên tri?

Những chi tiết nào chỉ là lịch sử?

Ai quyết định?

WMSCOG không cung cấp một nguyên tắc giải nghĩa khách quan. Họ chọn tuổi 30 và tổng số 40 vì hai con số đó có thể được ghép vào tiểu sử Ahn Sahng-hong.

Đây là chọn lọc dữ kiện sau khi đã biết kết quả.

3. Sai lầm tráo đổi giữa trị vì và giảng đạo

Đây là điểm đứt gãy rõ nhất của toàn bộ phép tính.

Kinh Thánh nói:

Đa-vít trị vì.

WMSCOG kết luận:

Đấng Christ phải giảng Tin Lành trong cùng một số năm.

Nhưng hai hoạt động này không đồng nghĩa.

trị vì ≠ giảng đạo

Một vị vua có thể trị vì trong khi:

  • ban luật;
  • xét xử;
  • tiến hành chiến tranh;
  • bổ nhiệm quan chức;
  • quản trị lãnh thổ;
  • bảo vệ thần dân.

Một nhà truyền giáo có thể:

  • giảng dạy;
  • kêu gọi ăn năn;
  • thành lập Hội Thánh;
  • đào tạo môn đồ;
  • cử hành nghi lễ.

Hai công việc có thể liên quan trong một hệ thống thần quyền, nhưng không thể tự động đồng nhất thời lượng của chúng.

WMSCOG nói rằng khi Đức Chúa Giê-su chịu phép báp-têm, Ngài được xức dầu thuộc linh và bắt đầu “trị vì” bằng cách giảng Tin Lành. Trang của Hội chuyển trực tiếp từ việc Đa-vít bắt đầu trị vì sang việc Đức Chúa Giê-su bắt đầu rao giảng.

Nhưng đây chính là điều phải được chứng minh.

Họ không thể chỉ đổi động từ rồi tiếp tục phép tính.

Muốn lập luận đứng vững, Hội cần đưa ra một câu Kinh Thánh tương đương với:

“Mỗi năm Đấng Christ giảng Tin Lành được tính là một năm Ngài ngồi trên ngai Đa-vít.”

Không có câu ấy.

Một phép tráo khái niệm

Chuỗi suy luận thực tế là:

Đa-vít trị vì 40 năm

được đổi thành:

Đấng Christ phải phục vụ 40 năm

rồi đổi tiếp thành:

Đấng Christ phải giảng đạo 40 năm trong xác thịt

Đến đây, ý nghĩa ban đầu của bản văn đã biến mất.

Một dữ kiện về vương quyền chính trị của vua Đa-vít đã trở thành một chiếc đồng hồ đo thời gian truyền giáo của hai cá nhân cách nhau gần hai nghìn năm.

4. Phép báp-têm có phải lễ đăng quang không?

WMSCOG đặt hai sự kiện song song:

Đa-vítĐức Chúa Giê-su
Lên ngôi lúc 30 tuổiChịu phép báp-têm khoảng 30 tuổi
Bắt đầu trị vìBắt đầu chức vụ
Trị vì 40 nămPhải giảng 40 năm

Nhưng việc hai người cùng khoảng 30 tuổi không chứng minh hai sự kiện có cùng ý nghĩa tiên tri.

Đa-vít được xức dầu làm vua và nhận quyền cai trị một dân tộc.

Đức Chúa Giê-su chịu phép báp-têm để bắt đầu chức vụ công khai. Lu-ca 3:23 nói Ngài khoảng 30 tuổi khi bắt đầu chức vụ; câu này không nói Ngài bắt đầu ngồi trên ngai Đa-vít tại thời điểm đó.

WMSCOG phải chứng minh ba mệnh đề:

  1. phép báp-têm của Đức Chúa Giê-su là lễ đăng quang;
  2. ngai Ngài nhận lúc ấy chính là ngai Đa-vít;
  3. thời gian trị vì trên ngai ấy được tính bằng số năm chức vụ công khai.

Không mệnh đề nào được bản văn Lu-ca 3 tuyên bố.

Tân Ước đặt trọng tâm ở sự phục sinh và tôn cao

Trong bài giảng tại Lễ Ngũ Tuần, Phi-e-rơ nói Đức Chúa Trời đã thề đặt một hậu tự của Đa-vít trên ngai. Sau đó ông giải thích lời hứa ấy trong mối liên hệ với:

  • sự phục sinh của Đấng Christ;
  • việc Đức Chúa Giê-su được tôn cao bên hữu Đức Chúa Trời;
  • việc Ngài được xác nhận là Chúa và Đấng Christ.

Trình tự trong Công vụ 2 là:

lời hứa cho Đa-vít → sự phục sinh → sự tôn cao → ngồi bên hữu Đức Chúa Trời

WMSCOG lại thay bằng:

phép báp-têm -> bắt đầu đồng hồ ngai Đa-vít

Nếu Hội cho rằng ngai Đa-vít bắt đầu tại phép báp-têm, họ phải giải thích vì sao Công vụ 2 liên hệ lời hứa về ngai với sự phục sinh và tôn cao, chứ không với phép báp-têm.

5. Ba năm rưỡi chức vụ chưa phải ba năm rưỡi trị vì

WMSCOG thường nói Đức Chúa Giê-su thi hành chức vụ trong ba năm.

Theo cách tính niên đại phổ biến trong Cơ-đốc giáo, chức vụ công khai của Ngài thường được ước tính khoảng ba năm hoặc ba năm rưỡi, dựa trên trình tự các kỳ Lễ Vượt Qua được ghi trong Phúc âm Giăng.

Nhưng tranh luận ba năm hay ba năm rưỡi vẫn chưa chạm đến vấn đề chính.

Vấn đề chính là:

Thời gian chức vụ công khai có phải thời gian ngồi trên ngai Đa-vít hay không?

Kể cả chấp nhận Ngài phục vụ đúng ba năm rưỡi, điều đó cũng không tạo ra một “phần thiếu” của ngai Đa-vít.

Trong ba năm rưỡi ấy, Đức Chúa Giê-su:

  • công bố Nước Đức Chúa Trời;
  • dạy dỗ dân chúng;
  • chữa bệnh;
  • tha tội;
  • kêu gọi môn đồ;
  • bày tỏ Đức Chúa Cha;
  • tiến đến thập tự giá.

Những công việc này thể hiện thẩm quyền của Đấng Mê-si. Nhưng WMSCOG vẫn phải chứng minh rằng số tháng của chức vụ ấy chính là số tháng được trừ khỏi 40 năm trị vì của Đa-vít.

Không thể lập luận:

Ngài là Vua, nên mọi ngày Ngài thi hành chức vụ đều là ngày thuộc “nhiệm kỳ 40 năm”.

Vì nếu dùng logic đó, tại sao thời gian sau khi Ngài phục sinh và thăng thiên lại không được tính?

Tại sao thời gian Ngài đang ngồi bên hữu Đức Chúa Trời không được tính?

Tại sao đồng hồ phải dừng khi Ngài về trời?

WMSCOG không giải thích.

Họ cần đồng hồ dừng lại, vì nếu vương quyền của Đức Chúa Giê-su tiếp tục sau sự thăng thiên thì 40 năm đã trôi qua từ thế kỷ thứ nhất. Không còn 37 năm nào dành cho Ahn Sahng-hong.

6. Ngai Đa-vít là ngai đời đời

Ê-sai 9:6–7 mô tả Đấng Mê-si cai trị trên ngai Đa-vít, với một nền cai trị không cùng.

Lu-ca 1:32–33 cũng tuyên bố:

  • Đức Chúa Trời sẽ ban cho Đức Chúa Giê-su ngai Đa-vít;
  • Ngài sẽ cai trị nhà Gia-cốp đời đời;
  • nước Ngài không bao giờ cùng.

Ngay chính bài viết của WMSCOG cũng trích các câu này và thừa nhận rằng Đấng Christ cai trị trên ngai Đa-vít đời đời.

Nhưng chỉ vài đoạn sau, Hội biến ngai đời đời ấy thành một nhiệm kỳ 40 năm:

ngai đời đời -> nhiệm kỳ 40 năm

Sau đó nhiệm kỳ này lại bị chia:

40 = 3 + 37

Đây là một mâu thuẫn khái niệm.

Đa-vít lịch sử trị vì trong thời gian hữu hạn vì ông là con người hữu hạn và phải chết.

Đấng Christ là Vua đời đời. Ngai của Ngài không kết thúc sau 40 năm.

Bốn mươi năm của Đa-vít có thể nằm trong bối cảnh hình bóng rộng hơn về vương quyền Mê-si. Nhưng không thể vì Đa-vít trị vì 40 năm mà kết luận Đấng Christ cũng chỉ có một “hạn mức” 40 năm để hoàn thành.

Đức Chúa Giê-su có để lại một nhiệm kỳ chưa hoàn tất không?

Lập luận của WMSCOG tạo ra một hình ảnh kỳ lạ:

  • Đức Chúa Giê-su bắt đầu nhiệm kỳ Đa-vít;
  • Ngài thực hiện được ba năm;
  • Ngài rời khỏi đất;
  • đồng hồ dừng lại;
  • ngai còn thiếu 37 năm;
  • gần hai nghìn năm sau, Ahn Sahng-hong tiếp tục phần còn lại;
  • khi Ahn qua đời, nhiệm kỳ 40 năm mới hoàn tất.

Nhưng Tân Ước không trình bày Đức Chúa Giê-su như một vị vua bỏ dở ngai mình.

Sau sự phục sinh, Ngài tuyên bố mọi quyền phép trên trời và dưới đất đã được giao cho Ngài.

Công vụ 2 công bố Ngài được tôn cao bên hữu Đức Chúa Trời.

Hê-bơ-rơ trình bày Ngài ngồi bên hữu Đức Chúa Trời sau khi hoàn tất công việc chuộc tội.

Khải Huyền trình bày Ngài là Chiên Con chiến thắng và là Vua của các vua.

Không có khoảng trống 37 năm.

Không có nhiệm kỳ dang dở.

Không có ngai đang chờ một người Hàn Quốc hoàn tất.

7. Đa-vít cai trị hai giai đoạn, Đấng Christ có một dân

2 Sa-mu-ên 5 không chỉ đưa ra tổng số năm. Bản văn ghi một cấu trúc rất cụ thể:

  1. Đa-vít cai trị Giu-đa tại Hếp-rôn trong bảy năm sáu tháng;
  2. sau đó cai trị toàn Israel và Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem trong 33 năm.

Nếu cấu trúc triều đại Đa-vít là một bản thiết kế tiên tri chi tiết, WMSCOG phải giải thích:

  • bảy năm sáu tháng đầu tượng trưng cho giai đoạn nào?
  • 33 năm sau tượng trưng cho giai đoạn nào?
  • Hếp-rôn tượng trưng cho điều gì?
  • Giê-ru-sa-lem tượng trưng cho điều gì?
  • nhà Giu-đa tương ứng với dân nào?
  • toàn Israel tương ứng với dân nào?
  • Đức Chúa Giê-su hoàn thành giai đoạn nào?
  • Ahn Sahng-hong hoàn thành giai đoạn nào?

Hội không làm điều đó.

Họ giữ lại:

  • tuổi 30;
  • tổng số 40.

Họ bỏ đi:

  • bảy năm sáu tháng;
  • 33 năm;
  • Hếp-rôn;
  • Giê-ru-sa-lem;
  • Giu-đa;
  • toàn Israel;
  • hai giai đoạn cai trị.

Đó là bằng chứng cho thấy họ không thực sự giải nghĩa mô hình triều đại Đa-vít.

Họ chỉ lấy hai con số cần thiết.

Một Vua, một dân

Các lời tiên tri về Đấng Mê-si theo hình ảnh Đa-vít nhấn mạnh sự hiệp nhất:

  • một người chăn;
  • một vua;
  • một dân;
  • một giao ước đời đời.

Ê-xê-chi-ên 37 nói “Đa-vít” sẽ làm vua trên họ, họ sẽ có một người chăn và người ấy sẽ làm vua đời đời.

Giăng 10 nói đến một bầy và một người chăn.

Ê-phê-sô 2 nói Đức Chúa Giê-su phá bỏ bức tường ngăn cách để tạo nên một người mới.

Lời hứa không hướng đến việc chia quyền trị vì giữa Đức Chúa Giê-su và một nhân vật khác.

WMSCOG có thể nói Ahn không phải một vua khác, nhưng là chính Đức Chúa Giê-su trở lại trong xác thịt. Tuy nhiên, đây lại là điều họ đang cố chứng minh.

Không thể giả định trước rằng Ahn là Đức Chúa Giê-su, rồi dùng giả định ấy để cứu phép tính vốn được dùng để chứng minh Ahn là Đức Chúa Giê-su.

Đó là lập luận vòng tròn.

8. Sáu tháng bị bỏ quên

2 Sa-mu-ên 5:4 tóm lược rằng Đa-vít trị vì 40 năm.

Nhưng câu kế tiếp ghi chi tiết:

7 năm 6 tháng + 33 năm = 40 năm 6 tháng

Dữ kiện chi tiết cho thấy tổng thời gian là khoảng 40 năm rưỡi, dù bản văn tóm lược là 40 năm.

Điều này không nhất thiết tạo ra mâu thuẫn trong Kinh Thánh. Các bản tường thuật cổ có thể dùng số tròn, cách tính năm đăng quang hoặc phương pháp ghi niên đại theo năm lịch.

Nhưng nó đặt WMSCOG vào một vấn đề phương pháp.

Họ sử dụng con số 40 như một giá trị tiên tri chính xác để thực hiện phép trừ:

40 - 3 = 37

Nếu con số chỉ là một số tròn lịch sử, họ không có quyền biến nó thành một chiếc đồng hồ tiên tri chính xác đến từng năm.

Nếu phải sử dụng số liệu chi tiết, phép tính sẽ là:

40,5 - 3 = 37,5

Nếu dùng khoảng ba năm rưỡi cho chức vụ của Đức Chúa Giê-su:

40,5 - 3,5 = 37

Kết quả 37 vẫn có thể xuất hiện, nhưng theo một phép tính hoàn toàn khác với phép tính chính thức của Hội.

Điều đáng chú ý là WMSCOG thường trình bày:

40 - 3 = 37

Họ làm tròn thời gian của Đa-vít xuống khoảng sáu tháng.

Họ cũng làm tròn chức vụ của Đức Chúa Giê-su xuống khoảng sáu tháng.

Hai lần làm tròn ngược chiều tình cờ giữ lại con số 37.

Điểm này không đủ để tự nó bác bỏ toàn bộ giáo lý. Nhưng nó cho thấy sự thiếu chặt chẽ:

Khi một con số được tuyên bố là dấu hiệu nhận diện Đấng Christ tái lâm, người ta không thể vừa dùng số tròn khi thuận lợi, vừa bỏ qua số liệu chi tiết khi bất lợi.

Sai lầm lớn hơn vẫn không phải sáu tháng.

Sai lầm lớn hơn là giả định rằng có một phép trừ cần được thực hiện ngay từ đầu.

9. Ai cho phép chia 40 năm thành hai lần hiện đến?

Giả sử tạm chấp nhận rằng 40 năm của Đa-vít là một lời tiên tri.

WMSCOG vẫn phải chứng minh rằng thời kỳ đó được chia như sau:

lần đến thứ nhất + lần đến thứ hai = 40 năm

Kinh Thánh nói ở đâu?

Không có câu nào.

Không có lời tiên tri nào nói:

  • Đấng Christ sẽ bắt đầu 40 năm;
  • dừng lại sau ba năm;
  • trở về trời;
  • chờ gần hai nghìn năm;
  • trở lại trong một thân thể khác;
  • tiếp tục 37 năm còn lại.

Hê-bơ-rơ 9:28 nói Đấng Christ sẽ hiện ra lần thứ hai để đem sự cứu rỗi cho những người chờ đợi Ngài. WMSCOG trích câu này ngay trước khi kết luận Ngài phải chịu phép báp-têm và giảng thêm 37 năm.

Nhưng Hê-bơ-rơ 9:28 không nói:

  • tái lâm bằng một sự sinh ra khác;
  • mang một danh tính dân sự mới;
  • chịu phép báp-têm;
  • bắt đầu chức vụ lúc 30 tuổi;
  • giảng đạo 37 năm;
  • chết một lần nữa.

Hội lấy một câu chứng minh rằng Đấng Christ sẽ tái lâm, rồi gắn vào đó toàn bộ nội dung không có trong câu.

Đây là một dạng ghép câu:

  1. một câu nói Đa-vít trị vì 40 năm;
  2. một câu nói Đức Chúa Giê-su bắt đầu chức vụ lúc khoảng 30;
  3. một câu nói Đấng Christ sẽ hiện ra lần thứ hai;
  4. tiểu sử Ahn Sahng-hong có 37 năm;
  5. kết luận tất cả tạo thành một lời tiên tri thống nhất.

Nhưng việc đặt nhiều câu Kinh Thánh cạnh nhau không chứng minh chúng đang cùng nói về một phép tính.

10. Một lời tiên tri được dựng từ tiểu sử Ahn Sahng-hong

Một lời tiên tri thực sự phải có khả năng chỉ ra kết quả trước khi biết người cần được chứng minh.

Hãy thử đọc các câu Kinh Thánh mà không biết Ahn Sahng-hong là ai.

Từ 2 Sa-mu-ên 5, Lu-ca 3, Hê-bơ-rơ 9 và Công vụ 2, một độc giả có thể tự nhiên suy ra được những điều sau không?

  • Đấng Christ tái lâm sẽ sinh tại Hàn Quốc;
  • chịu phép báp-têm năm 1948;
  • mang tên Ahn Sahng-hong;
  • hoạt động đến năm 1985;
  • qua đời sau 37 năm;
  • lập một phong trào sau này tuyên bố một phụ nữ là Đức Chúa Trời Mẹ.

Không thể.

Phép tính chỉ trở nên “rõ ràng” sau khi người ta đã biết:

  • Ahn sinh năm nào;
  • ông chịu phép báp-têm năm nào;
  • ông mất năm nào;
  • khoảng cách giữa hai mốc là 37 năm.

Sau đó, người ta quay lại Kinh Thánh để tìm một con số 37.

Quy trình thực tế là:

tiểu sử Ahn -> cần con số 37 -> 40 - 3 -> ngai Đa-vít

Nhưng Hội trình bày theo chiều ngược lại:

lời tiên tri ngai Đa-vít → 37 năm → Ahn

Đây là lời tiên tri hồi tố.

Lập luận vòng tròn

Cấu trúc chứng minh của Hội có thể được tóm tắt:

  1. Ahn là Đấng Christ vì ông hoàn thành lời tiên tri 37 năm.
  2. Biết lời tiên tri nói về 37 năm vì Ahn hoạt động 37 năm.
  3. Biết 40 năm phải chia thành 3 và 37 vì Ahn là Đấng Christ tái lâm.
  4. Biết Ahn là Đấng Christ tái lâm vì 40 năm được chia thành 3 và 37.

Kết luận được đặt sẵn trong tiền đề.

11. Đi trước các lời biện hộ

11.1. “Không phải mọi chi tiết của Đa-vít đều phải ứng nghiệm”

Đúng. Một hình bóng không đòi hỏi mọi chi tiết đều phải lặp lại.

Nhưng chính vì vậy, WMSCOG phải đưa ra tiêu chí xác định:

  • tại sao tuổi 30 có tính tiên tri;
  • tại sao 40 năm có tính tiên tri;
  • tại sao bảy năm sáu tháng không có;
  • tại sao 33 năm không có;
  • tại sao hai địa điểm cai trị không có;
  • tại sao hai nhóm dân không có.

Không thể trả lời:

Vì tuổi 30 và 40 năm đã ứng nghiệm nơi Ahn.

Đó chính là dùng Ahn để quyết định bản văn có nghĩa gì.

11.2. “Ngai Đa-vít là thuộc linh, nên giảng đạo chính là trị vì”

Một khái niệm thuộc linh vẫn cần được định nghĩa bằng Kinh Thánh.

Gọi ngai là “thuộc linh” không cho phép tùy ý thay đổi:

  • trị vì thành giảng đạo;
  • đăng quang thành báp-têm;
  • đời đời thành 40 năm;
  • một Vua thành hai giai đoạn nhân thân;
  • một sự tái lâm vinh hiển thành một đời sống bình thường rồi qua đời.

Từ “thuộc linh” không phải giấy phép để bỏ qua nghĩa của bản văn.

11.3. “Đức Chúa Giê-su bắt đầu trị vì khi chịu phép báp-têm”

Hãy đưa ra câu Kinh Thánh nói điều đó.

Lu-ca 3 chỉ nói Ngài bắt đầu chức vụ lúc khoảng 30 tuổi.

Công vụ 2 lại liên hệ lời hứa ngai Đa-vít với sự phục sinh và tôn cao của Ngài.

Nếu Hội chọn phép báp-têm làm điểm bắt đầu, họ phải giải thích cơ sở giải kinh của lựa chọn ấy.

11.4. “Đức Chúa Giê-su và Ahn là cùng một Đấng Christ”

Đây không phải câu trả lời; đây là kết luận đang được tranh luận.

Trước hết Hội phải chứng minh từ Kinh Thánh rằng:

  • Đấng Christ tái lâm sẽ mang một thân thể nhân loại mới;
  • chịu phép báp-têm;
  • hoạt động bí mật trong nhiều thập niên;
  • chết thêm một lần;
  • để lại một tổ chức xác nhận Ngài sau đó.

Không thể dùng danh tính Ahn để giải thích lời tiên tri rồi dùng lời tiên tri đã được định hình bởi danh tính Ahn để chứng minh Ahn.

11.5. “Bốn mươi năm chỉ là tổng số tượng trưng”

Nếu chỉ là số tượng trưng, tại sao nó lại được dùng để tính chính xác 37 năm?

Một con số không thể đồng thời:

  • đủ tượng trưng để bỏ qua sáu tháng;
  • nhưng đủ chính xác để nhận diện Đấng Christ tái lâm.

11.6. “Ahn đã phục hồi giao ước mới, nên ông chính là Đa-vít”

Đây là một chuỗi giáo lý khác, không chứng minh phép tính 40 năm.

Ngay cả khi một người dạy Lễ Vượt Qua, Sa-bát hoặc các kỳ lễ, điều đó không tự động khiến người ấy trở thành Đức Chúa Trời.

Một người có thể:

  • phát hiện một giáo lý;
  • khôi phục một nghi thức;
  • lập một phong trào;
  • giải thích một giao ước;

mà vẫn chỉ là một giáo sư tôn giáo.

Danh tính Đấng Christ không thể được xác lập bằng cách ghép một hoạt động tôn giáo với một phép tính không có nền tảng văn bản.

12. Các câu hỏi kiểm tra lập luận

Khi một thành viên WMSCOG trình bày giáo lý “ngai Đa-vít 40 năm”, không cần tranh luận lan man. Chỉ cần yêu cầu họ chứng minh từng mắt xích.

Câu hỏi 1

Câu Kinh Thánh nào nói 40 năm trị vì của Đa-vít là thời hạn tiên tri dành cho chức vụ trên đất của Đấng Christ?

Câu hỏi 2

Câu Kinh Thánh nào định nghĩa “trị vì” là “giảng Tin Lành”?

Câu hỏi 3

Câu Kinh Thánh nào nói phép báp-têm của Đức Chúa Giê-su là lúc Ngài bắt đầu ngồi trên ngai Đa-vít?

Câu hỏi 4

Nếu Công vụ 2 liên hệ ngai Đa-vít với sự phục sinh và tôn cao, tại sao đồng hồ lại bắt đầu từ phép báp-têm?

Câu hỏi 5

Tại sao thời gian Đức Chúa Giê-su ngồi bên hữu Đức Chúa Trời không được tính vào thời gian trị vì?

Câu hỏi 6

Câu Kinh Thánh nào nói đồng hồ 40 năm dừng gần hai nghìn năm rồi tiếp tục trong lần tái lâm?

Câu hỏi 7

Câu Kinh Thánh nào nói Đấng Christ tái lâm phải chịu phép báp-têm lúc 30 tuổi?

Câu hỏi 8

Câu Kinh Thánh nào nói Đấng Christ tái lâm phải giảng chính xác 37 năm?

Câu hỏi 9

Nếu chi tiết triều đại Đa-vít là tiên tri, bảy năm sáu tháng tại Hếp-rôn và 33 năm tại Giê-ru-sa-lem ứng nghiệm thế nào?

Câu hỏi 10

Tại sao ngai được Lu-ca 1 gọi là đời đời lại bị giới hạn thành nhiệm kỳ 40 năm?

Câu hỏi 11

Có thể suy ra Ahn Sahng-hong chỉ từ Kinh Thánh mà không biết trước tiểu sử của ông hay không?

Câu hỏi 12

Phép tính chứng minh Ahn, hay tiểu sử Ahn được dùng để tạo ra phép tính?

Nếu người trình bày không thể chứng minh một mắt xích, toàn bộ chuỗi phía sau mắt xích ấy mất nền tảng.

13. Kết luận

Sai lầm của giáo lý “ngai Đa-vít 40 năm” không chỉ nằm ở một con số.

Nó nằm trong cả phương pháp:

  1. biến một dữ kiện lịch sử thành lời tiên tri mà không có bản văn xác nhận;
  2. chọn tuổi 30 và tổng số 40 nhưng bỏ qua các chi tiết khác;
  3. đổi “trị vì” thành “giảng đạo”;
  4. đổi phép báp-têm thành lễ đăng quang;
  5. coi chức vụ công khai là thời gian ngồi trên ngai Đa-vít;
  6. bỏ qua sự phục sinh, thăng thiên và quyền trị vì hiện tại của Đức Chúa Giê-su;
  7. biến ngai đời đời thành nhiệm kỳ 40 năm;
  8. chia nhiệm kỳ ấy giữa hai lần hiện đến mà không có lời tiên tri nào cho phép;
  9. dừng đồng hồ gần hai nghìn năm rồi tự ý khởi động lại;
  10. dùng chính 37 năm trong tiểu sử Ahn để quyết định Kinh Thánh phải nói về 37 năm.

Giáo lý này không được khám phá từ Kinh Thánh.

Nó được dựng quanh Ahn Sahng-hong.

Họ không dùng cuộc đời Đa-vít để tiên báo Ahn Sahng-hong. Họ dùng cuộc đời Ahn Sahng-hong để viết lại ý nghĩa cuộc đời Đa-vít.

Đức Chúa Giê-su không để lại một ngai dang dở.

Ngài không hoàn thành ba năm rồi giao lại 37 năm cho một người khác.

Ngài là hậu tự Đa-vít đã sống lại, được tôn cao và ngồi bên hữu Đức Chúa Trời. Lời hứa không phải rằng Ngài sẽ trị vì vài chục năm, nhưng rằng Ngài sẽ trị vì đời đời và nước Ngài không bao giờ cùng.

Một phép toán được thiết kế vừa khít với tiểu sử một người không thể biến người ấy thành Đấng Christ.

Và một tổ chức không thể biến lịch sử thành lời tiên tri chỉ bằng cách đặt hai con số cạnh nhau.

14. Tóm tắt dành cho người đọc nhanh

WMSCOG lập luận:

40 năm Đa-vít − 3 năm Giê-su = 37 năm Ahn

Lập luận này thất bại vì:

  • 40 năm của Đa-vít là dữ kiện lịch sử, chưa được chứng minh là thời hạn tiên tri;
  • Kinh Thánh nói Đa-vít trị vì, không nói Đấng Christ phải giảng đạo cùng số năm;
  • phép báp-têm không được Kinh Thánh gọi là lễ đăng quang trên ngai Đa-vít;
  • chức vụ ba hoặc ba năm rưỡi của Đức Chúa Giê-su không được chứng minh là thời gian trị vì;
  • Công vụ 2 liên hệ ngai Đa-vít với sự phục sinh và tôn cao của Đức Chúa Giê-su;
  • ngai Đa-vít của Đấng Christ là đời đời, không phải nhiệm kỳ 40 năm;
  • Kinh Thánh không chia 40 năm giữa hai lần hiện đến;
  • Kinh Thánh không nói Đấng Christ tái lâm phải chịu báp-têm lúc 30 tuổi và giảng 37 năm;
  • cấu trúc bảy năm sáu tháng cộng 33 năm bị Hội bỏ qua;
  • tiểu sử Ahn được dùng để dựng ra “lời tiên tri” vốn được tuyên bố là bằng chứng cho chính ông.

Kết luận:

Phép tính 3 + 37 không phải một lời tiên tri về Ahn Sahng-hong. Nó là một phép giải nghĩa hồi tố được thiết kế để vừa với tiểu sử của ông.