Bài 19 / 19

Phúc Âm Giăng — Chương 21

19. The Gospel of John: Chapter 21 | The Unknown God | Pastor Dale Leamon

Lời mở đầu: Đến với chương cuối của Phúc Âm Giăng

Chào mừng quý vị trở lại với loạt bài nghiên cứu Phúc Âm Giăng — về vị Đức Chúa Trời mà thế gian chưa biết. Sau bốn mươi năm hầu việc trong Hội Thánh và hiện đang phục vụ với tư cách tuyên úy tại hai bệnh viện nhỏ ở Trung tâm Thung lũng California, tôi càng ngày càng nhận biết và yêu mến Đức Chúa Trời nhiều hơn, và rất vui được chia sẻ những điều quý báu này.

Nếu quý vị đã đồng hành qua các chương sách Phúc Âm này, hẳn quý vị cũng đang vui mừng vì sự mặc khải về Đức Chúa Trời mà chúng ta tìm thấy trong từng lời. Nhưng để học và hiểu rõ ràng, để tiếp nhận lẽ thật vào lòng, chúng ta cần ơn từ trên cao. Xin Đức Chúa Cha, là Đấng dẫn chúng con vào lẽ thật, ban Đức Thánh Linh để chúng con được nghe và ôm lấy Lời Ngài. Trong danh Đức Chúa Giê-su, A-men.


Mục đích của Phúc Âm: Một nền tảng vững vàng cho đức tin

Trước khi bước vào chương cuối, chúng ta cần lưu ý mấy câu cuối của chương 20. Sứ đồ Giăng viết:

“Đức Chúa Giê-su đã làm nhiều phép lạ khác trước mặt môn đồ, không chép trong sách này. Nhưng các việc này đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Giê-su là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống.” (Giăng 20:30–31)

Giăng không hề có ý liệt kê đầy đủ mọi việc Đức Chúa Giê-su đã làm. Ông chọn ra những sự kiện lịch sử mà chính ông đã chứng kiến tận mắt, đã từng dự phần, để người đọc có một nền tảng vững chắc cho đức tin. Đây là câu chuyện đời sống của Đức Chúa Giê-su: không chỉ là một nhân vật lịch sử, nhưng là Đấng Christ — Đấng được xức dầu, Vua thật của chúng ta, Con Đức Chúa Trời.

Giăng muốn người đọc thấy rõ Ngài là một Đấng Thần Tánh, và bởi tin Ngài mà bước vào mối tương giao với chính Sự Sống. “Trong danh Ngài” — nghĩa là biết bản tánh thật của Ngài, biết lẽ thật về Ngài.


Lần hiện ra thứ ba bên bờ biển Ti-bê-ri-át

Sau hai lần đã hiện ra cùng các môn đồ sau khi sống lại, Đức Chúa Giê-su lại tỏ mình ra lần thứ ba bên bờ biển Ti-bê-ri-át — tức là biển Ga-li-lê. Phi-e-rơ nói: “Tôi đi đánh cá đây.” Lúc này biến cố Lễ Ngũ Tuần và sự đổ Đức Thánh Linh chưa xảy ra; các môn đồ chưa được trang bị đầy đủ để trở thành các giáo sĩ đi khắp thế gian khai sinh Hội Thánh Cơ-đốc. Họ đang ở giữa một khoảng giao thời.

Phi-e-rơ vốn là người nóng nảy, không ngồi yên được. Có lẽ đã lâu ông không đánh cá, và đó là việc giúp ông khuây khỏa trong khi chờ chỉ thị tiếp theo. Các môn đồ khác cùng đi theo. Họ xuống thuyền ngay đêm ấy, nhưng suốt đêm chẳng bắt được gì — gợi nhớ một kinh nghiệm tương tự khi xưa Đức Chúa Giê-su gọi họ trở thành tay đánh lưới người.

Khi trời rạng sáng, Đức Chúa Giê-su đứng trên bờ, nhưng các môn đồ không nhận ra Ngài. Hình dáng của Ngài sau khi sống lại có lẽ đã có phần khác — có lẽ vinh hiển hơn nhiều. Kinh Thánh Cựu Ước cho biết khi giáng sinh, hình dung Ngài không có gì đặc biệt cuốn hút từ bề ngoài; điều khiến người ta được lôi kéo đến với Ngài là tấm lòng, là bản tánh, là lời nói của Ngài. Nhưng sau khi sống lại, tôi tin rằng diện mạo của Ngài đã trở nên rất đẹp đẽ, vì mọi sự trên thiên đàng đều đẹp đẽ và đáng yêu.


“Hỡi các con, có gì ăn không?” — Đức Chúa Trời vẫn là người Bạn

Đức Chúa Giê-su gọi với từ trên bờ:

“Hỡi các con, không có chi ăn hết sao?” (Giăng 21:5)

Câu hỏi đơn sơ ấy nói lên điều gì về Đức Chúa Trời? Sau khi sống lại, sau khi được phục hồi vinh hiển trên trời, sau khi các thiên sứ đã đón Ngài trở lại, sau khi Đức Chúa Cha đã tiếp Ngài về ngôi mình — Ngài vẫn là một người Bạn. Ngài vẫn là Đấng nhớ rằng chúng ta đói và cần một bữa sáng. Ngài vẫn là Đấng có thể chỉ đơn giản ở cùng chúng ta, bước vào đời sống chúng ta, không vội vàng thay đổi gì cả, không hối thúc cải đổi tập quán của chúng ta. Ngài chỉ ở cùng chúng ta — đó chính là Đức Chúa Trời mà chúng ta dễ dàng yêu mến.

Khi họ thưa “không”, Ngài bảo: “Hãy thả lưới bên hữu thuyền, thì các ngươi sẽ được.” Họ thả lưới, và không thể kéo lên nổi vì cá nhiều quá. Bấy giờ môn đồ mà Đức Chúa Giê-su yêu — Giăng vẫn không tự xưng tên mình mà chỉ gọi là “môn đồ Ngài yêu” — nói với Phi-e-rơ: “Ấy là Chúa!” Còn ai khác có thể gọi cá vào lưới như vậy?

Phi-e-rơ liền choàng áo lại — vì ông đã cởi gần như chỉ còn đồ lót — và nhảy ùm xuống biển bơi vào bờ, không thể chờ thuyền cập bến. Bờ biển Ga-li-lê là vùng đá lởm chởm; ai từng đến đó đều biết. Khi đến nơi, Đức Chúa Giê-su đã có sẵn lửa than, đã hâm sẵn bữa sáng, và bây giờ thêm cá tươi để đủ cho mọi người.


Một trăm năm mươi ba con cá lớn — Đức Chúa Trời quan tâm đến mọi điều nhỏ nhặt

Họ kéo lưới lên bờ, đầy những cá lớn, một trăm năm mươi ba con. Tôi không rõ con số ấy có ý nghĩa biểu tượng gì không, nhưng đó quả là rất nhiều cá lớn. Và điều kỳ diệu là lưới không hề bị rách dù chứa bấy nhiêu. Đức Chúa Giê-su không muốn để mất một con nào.

Ở đây chúng ta lại thấy nhiều điều đẹp đẽ về Đức Chúa Trời. Ngài biết những con cá ấy có giá trị; Ngài là một Đức Chúa Trời rất thực tế. Ngài biết các môn đồ có thể bán những gì còn dư để có thêm tiền sinh hoạt. Ngài quan tâm đến những điều mà chúng ta quan tâm.

Nếu có khi nào quý vị ngần ngại không dám cầu nguyện về một việc, vì nghĩ “điều này nhỏ quá, không xứng đáng để Chúa bận tâm” — xin hãy biết rằng mọi điều trong đời sống quý vị đều đáng được Ngài chú ý. Nếu nó ảnh hưởng đến quý vị, làm quý vị bận lòng, làm thay đổi điều gì trong đời sống quý vị, thì nó cũng chạm đến Ngài. Ngài quan tâm đến điều quý vị quan tâm, vì Ngài quan tâm đến chính quý vị.

Ngài bảo: “Hãy lại mà ăn.” Không một môn đồ nào dám hỏi Ngài là ai, vì họ biết ấy là Chúa — qua bản tánh, qua quyền năng phép lạ, qua cách Ngài nói, cách Ngài hiện diện. Ngài cầm bánh phân phát, rồi cũng cầm cá phân phát — đúng những cử chỉ thân quen mà các môn đồ đã quen thuộc suốt ba năm theo Ngài.


Đức Chúa Trời đến với chúng ta theo cách của chúng ta

Điều tôi muốn nói về Đức Chúa Giê-su, về Đức Chúa Trời, là: Ngài không có ý làm chúng ta choáng ngợp bởi vinh hiển, oai nghi, hay vĩ đại của Ngài. Tất cả những điều ấy đều là điều tự nhiên đối với Ngài — Ngài sống trong thế giới của ánh sáng, là cội nguồn của mọi ánh sáng. Nhưng Ngài không muốn chúng ta bị áp đảo. Ngài sẽ chuẩn bị chúng ta để có thể tồn tại trong môi trường ấy; còn từ nay đến đó, Ngài đến với chúng ta theo điều kiện của chúng ta, tương giao với chúng ta trong thế giới này, ở chính nơi chúng ta đang ở.

Làm tuyên úy, tôi thường được hỏi người ta: “Đức Chúa Trời có khi nào nói với ông/bà không?” Một số người sau hồi suy nghĩ — có khi họ đã từng có những kinh nghiệm như vậy nhưng sợ kể với ai — sẽ thưa: “Có. Tôi nghe những ý nghĩ trong đầu mà tôi biết là đến từ Ngài, và Ngài dẫn tôi đến chỗ tốt hơn trong đời sống.” Đó là điều tuyệt diệu. Ngài đến và làm việc với chúng ta tại nơi chúng ta đang đứng.

Ở Mỹ chúng ta sống tương đối sung túc; nhưng tôi đã đi Phi Châu, Ấn Độ, và nhiều nơi khác, nơi người ta sống khiêm hạ hơn nhiều. Ngài cũng có mặt ở đó, sống cùng họ trong cách ấy. Vì Đức Chúa Trời tôn trọng con người, quý chuộng con người, và quan tâm đến những điều bé nhỏ trong đời sống của họ.

Em-ma-nu-ên — Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta. Ngài không hổ thẹn vì chúng ta, không lúng túng vì chúng ta. Ngài không bị đẩy lui bởi sự thấp hèn, sự dơ bẩn, sự gãy đổ, sự thô lậu, sự tan rữa của thân xác đang già đi của chúng ta. Ngài quý trọng chúng ta. Chúng ta không hề ghê tởm trong mắt Ngài — dầu nếu hôm nay chúng ta bước vào sân thiên đàng đúng như mình đang là, chắc hẳn chúng ta sẽ thấy lạc lõng. Ngài thấy trong chúng ta hình ảnh của chính Ngài, thấy chúng ta có khả năng cảm nhận tâm tình Ngài, tiếp nhận tư tưởng Ngài, và mang lấy tấm lòng Ngài. Ngài đã dựng nên chúng ta như những bình chứa cho chính Ngài.

Đôi khi cầu nguyện cho người bệnh, tôi chỉ thưa: “Lạy Chúa, xin tỏ chính Ngài cho người này, và bày tỏ cho người ấy biết mình quan trọng dường nào đối với Ngài.” Vì tôi tin rằng nếu chỉ cần biết được vị Đức Chúa Trời chưa được biết này, chúng ta sẽ không bao giờ muốn xa Ngài nữa, không bao giờ muốn buông lỏng đức tin một giây phút nào. Lời cầu nguyện hằng ngày của tôi là: “Lạy Chúa, con không thể chịu nổi nếu thiếu vắng Ngài, dù chỉ mười phút không cảm nhận được sự ấm áp, yêu thương, dịu dàng của Ngài bên trong và bên cạnh con.”


Sự phục hồi Phi-e-rơ: “Ngươi yêu Ta hơn những kẻ này chăng?”

Giăng ghi rằng đó là lần thứ ba Đức Chúa Giê-su tỏ mình ra cho các môn đồ kể từ khi Ngài từ kẻ chết sống lại. Sau bữa ăn, Ngài làm một việc rất nhân từ: phục hồi Phi-e-rơ. Hai chương trước, Phi-e-rơ đã chối Chúa ba lần. Bây giờ Đức Chúa Giê-su nói với ông trước mặt các môn đồ khác, vì ở đây cần một sự khiêm nhường, vì Phi-e-rơ vốn hay tự đề cao mình.

“Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu Ta hơn những kẻ này chăng?” (Giăng 21:15)

Phi-e-rơ vẫn luôn tự nhận là môn đồ nồng nhiệt nhất, trung thành nhất. Bây giờ Đức Chúa Giê-su hỏi: ngươi có thật sự yêu Ta hơn những người khác chăng? Phi-e-rơ thưa: “Lạy Chúa, phải, Chúa biết rằng tôi yêu Chúa.” Ông vẫn chưa hoàn toàn buông bỏ tính tự cao và tinh thần tranh đua của mình. Nhưng bản tánh Đức Chúa Trời không có sự ganh đua — đó là một khía cạnh đáng buồn của văn hóa chúng ta, không đến từ phía Đức Chúa Trời.

Ngài phán: “Hãy chăn những chiên con Ta.” Phi-e-rơ hẳn đã thầm nghĩ: “Vậy là ổn rồi, sự phản bội đã qua.”

Nhưng Đức Chúa Giê-su lại hỏi lần thứ hai: “Si-môn, ngươi yêu Ta chăng?” Ông lại thưa như cũ. Ngài lại phán: “Hãy chăn chiên Ta.” Ngài đang giao một công việc: nếu ngươi thật sự yêu Ta, thì ngươi sẽ có một đời sống quên mình để chăm sóc những kẻ khác đang tìm biết Ta.

Hãy nhớ lại Giăng chương 10: “Ta là người chăn hiền lành, ta vì chiên mình mà phó sự sống.” Bây giờ Ngài đang nói với Phi-e-rơ: hãy cùng Ta làm người chăn — và điều ấy hàm ý nhiều điều, như chúng ta sẽ thấy.


“Lạy Chúa, Chúa biết hết mọi việc”

Lần thứ ba, Đức Chúa Giê-su hỏi: “Si-môn, ngươi yêu Ta chăng?” Phi-e-rơ đau lòng. Ông nhớ lại ba lần đã chối Chúa: không, tôi không biết người ấy; không, tôi không phải môn đồ của ông ta; không, các ngươi đâu có thấy tôi ở đó. Ông đang đau đớn.

Đó chính là cách Đức Chúa Trời chúng ta đối xử — dịu dàng, không lên án, không chỉ trích, không quăng tội lỗi vào mặt chúng ta. Ngài chỉ nhẹ nhàng hỏi: ngươi có chắc là yêu Ta không? Ngươi có yêu chính bản thể thật của Ta — đó có phải là điều ngươi muốn trở thành — hay ngươi yêu quyền lực, uy danh, vinh hiển, sự sống đời đời? Ngươi có yêu Ta đúng như Ta là, và muốn noi theo Ta như vậy không?

Phi-e-rơ đau vì biết rằng mình chưa đến được nơi đó. Ông đã quá giống người Pha-ri-si, quá giống những người Do Thái mong đợi một Đấng Mê-si-a quyền lực, đắc thắng, oai hùng — chứ không phải vị Đức Chúa Trời khiêm nhường này.

Ông buông bỏ mọi tuyên bố mạnh mẽ về bản thân và thưa: “Lạy Chúa, Chúa biết hết mọi việc; Chúa biết rằng tôi yêu Chúa.” Ngài là Đấng duy nhất đọc được lòng tôi; chẳng có gì giấu được Ngài. Bấy giờ Đức Chúa Giê-su phán: “Hãy chăn chiên Ta.” Bây giờ ngươi đã biết Ta thật sự là Đấng nào, ngươi có thể dẫn dắt chiên Ta.

Phi-e-rơ biết mình đã được tha thứ trọn vẹn, được phục hồi trọn vẹn, được giao chỗ đứng trong Hội Thánh mà Đức Chúa Giê-su đang dựng nên. Ông vẫn chưa toàn thiện, vẫn còn phải lớn lên trong ân điển như tất cả chúng ta. Nhưng còn Giăng, người môn đồ khiêm tốn của Đức Chúa Giê-su, lẽ ra có thể tự hỏi: “Sao Chúa không bảo con chăm sóc chiên?” Thật ra, Giăng sống lâu hơn Phi-e-rơ và sau cùng đã trở thành lãnh đạo Hội Thánh, qua đời rất nhiều năm sau Phi-e-rơ.


Lời tiên báo về cái chết của Phi-e-rơ và bản tánh hy sinh của Đức Chúa Trời

Đức Chúa Giê-su nói với Phi-e-rơ:

“Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, khi ngươi còn trẻ, ngươi tự mình thắt lưng lấy, muốn đi đâu thì đi; nhưng khi ngươi già, ngươi sẽ giơ bàn tay ra, người khác thắt lưng cho và dẫn ngươi đi đến nơi mình không muốn.” (Giăng 21:18)

Giăng giải thích Ngài nói về cách Phi-e-rơ sẽ phó sự sống mình. Đây là lẽ thật, các bạn ơi: nếu chúng ta thấy Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời hy sinh sự sống, thì Ngài cũng phán: ai yêu sự sống mình thì sẽ mất; nếu chúng ta khao khát mọi thứ của đời này — “tôi phải sống, tôi phải là chính tôi, tôi phải được thỏa mãn bản thân” — thì sẽ chẳng nắm được điều đó. Còn ai phó sự sống mình thì sẽ nhận lại được dư dật.

Ngài đang tỏ chính Ngài ra: Ta không bám víu sự sống Ta — Ta phó nó. Ta không bám víu địa vị quyền uy — Ta hạ xuống ngang hàng các con. Ta không bám víu quyền lực trên các con — Ta hạ xuống để phục vụ. Ta lắng nghe các con; tiếng nói của các con quan trọng đối với Ta như bất cứ tạo vật nào của Ta. Dù trong đời các con đã làm được điều gì lớn lao hay tương đối chẳng có gì, lời cầu nguyện của các con cũng quan trọng với Ta như của bất kỳ ai khác. Các con quý trọng đối với Ta y như mọi người, và đủ tư cách để dẫn dắt chiên Ta, dạy chiên Ta, nuôi chiên Ta — khi các con hiểu Ta đúng như Ta là.


Phi-e-rơ tử đạo: chịu đóng đinh ngược

Phi-e-rơ đang học bài học khó ấy. Bây giờ Đức Chúa Giê-su tiên báo cái chết của ông. Giăng viết Phúc Âm này một thời gian khá lâu sau khi Phi-e-rơ đã qua đời. Phi-e-rơ chịu đóng đinh tại Rô-ma. Theo truyền thống Hội Thánh — không phải chính Kinh Thánh chép, nhưng cũng không trái Kinh Thánh — đến lúc ấy Phi-e-rơ đã trở nên khiêm nhường đến nỗi xin được đóng đinh ngược. Ông nói: “Tôi không xứng đáng dự phần biểu tượng ấy của Cơ-đốc Giáo theo cùng một cách như Chúa tôi. Hãy đóng đinh tôi ngược đầu xuống — tôi không muốn ai thờ phượng tôi hay nghĩ tôi ngang hàng với Đức Chúa Giê-su, dù trong sự khiêm nhường, dù trong cái chết của tôi.” Người ta đã chấp nhận lời ông.

Tôi không biết tư thế ấy ảnh hưởng thế nào đến tốc độ ông qua đời, nhưng chắc chắn ông đã chịu rất nhiều đau đớn.

Nhưng Đức Chúa Giê-su từng hỏi các môn đồ: các ngươi có sẵn sàng thật sự bước theo Ta, đi trong dấu chân Ta, uống chén Ta sắp uống chăng? Có lẽ các ngươi sẽ uống — và đó là vinh dự lớn nhất, đặc ân lớn nhất, vinh hiển lớn nhất từng có thể được ban cho: được giống như Đức Chúa Giê-su, theo đúng nghĩa đen không yêu sự sống mình cho đến chết, như Kinh Thánh chép. Đó là bản tánh của Đức Chúa Trời mà chúng ta phụng sự.

Không phải chúng ta cứ đi tìm chỗ này chỗ kia để vứt bỏ mạng sống mình. Nhưng nếu chúng ta đi đến chỗ hy sinh ấy, chúng ta biết ơn vì đó chính là bản tánh Đức Chúa Trời, và biết rằng sự sống và vinh hiển chắc chắn sẽ tiếp nối sau sự khiêm hạ trọn vẹn của chúng ta.


“Cả thế gian cũng không chứa hết” — Bốn sách Tin Lành đủ cho chúng ta biết Ngài

Giăng đã quá yêu mến Đức Chúa Giê-su đến nỗi khi kết thúc Phúc Âm tuyệt vời này, ông viết:

“Lại còn nhiều việc nữa mà Đức Chúa Giê-su đã làm; ví bằng người ta cứ từng việc mà chép hết, thì ta tưởng rằng cả thế gian cũng không thể chứa hết các sách người ta chép vậy.” (Giăng 21:25)

Giăng ước có thêm hàng trăm sách nữa. Tôi cũng ước như vậy. Nhưng Đức Chúa Trời đã định cho chúng ta bốn sách về cuộc đời Đức Chúa Giê-su, và chừng đó là đủ cho chúng ta biết bản tánh Ngài. Các sách còn lại của Kinh Thánh cũng chỉ đến bản tánh Đức Chúa Trời, nhưng phải được hiểu trong ánh sáng câu chuyện về chính Đức Chúa Giê-su. Nhiều nhân vật khác trong Kinh Thánh đã sống đời tin kính, nhưng không một ai tin kính như Đức Chúa Giê-su. Chúng ta phải nhìn bản tánh Đức Chúa Trời qua đời sống Đức Chúa Giê-su, để rồi từ đó phán đoán mọi sự cách đúng đắn.

Vì câu chuyện về Đức Chúa Giê-su chính là sự mặc khải lẽ thật về Đức Chúa Trời thật, vị Đức Chúa Trời chưa được biết đến. Hãy nắm lấy lẽ thật ấy và để nó trở thành một phần trong chúng ta.