Các Điều Răn của Đức Chúa Trời
Ba lần lặp lại trong sách Khải Huyền
Cụm từ “giữ các điều răn của Đức Chúa Trời” xuất hiện ba lần trong sách Khải Huyền: ở Khải Huyền 12:17, Khải Huyền 14:12 và Khải Huyền 22:14. Đây không phải là sự trùng hợp, mà là một dấu ấn cố ý mà Đức Thánh Linh ghi lại để mô tả dân sự trung tín của Đức Chúa Trời trong thời kỳ cuối cùng.
Khải Huyền 14:12 đến ngay sau sứ điệp của thiên sứ thứ ba — sứ điệp cảnh báo đừng thờ con thú, hình tượng nó hay nhận dấu của nó. Câu kế tiếp viết: “Đây tỏ ra sự nhịn nhục của các thánh đồ: chúng giữ điều răn của Đức Chúa Trời và giữ lòng tin Đức Chúa Giê-su.” Như vậy, những người giữ điều răn của Đức Chúa Trời được đặt trong thế tương phản trực tiếp với những kẻ thờ con thú và nhận dấu của nó.
“Phước thay cho những kẻ giữ các điều răn của Ngài, hầu cho họ được phép đến nơi cây sự sống và được vào thành qua các cửa.” (Khải Huyền 22:14)
Kinh Thánh không chỉ nói rằng có một nhóm người tin các điều răn, hay một nhóm người rao giảng các điều răn. Lời Đức Chúa Trời nói rõ rằng sẽ có một nhóm người giữ các điều răn. Bất kỳ ai dạy rằng không một con người nào có thể giữ các điều răn đều đang biến Đức Chúa Trời thành kẻ nói dối.
Cội nguồn của tội lỗi và sự ghen ghét luật pháp
Khải Huyền 12:17 cho biết con rồng — tức là Sa-tan, theo Khải Huyền 12:9 — nổi giận với người đàn bà và đi giao chiến với những con cháu còn sót lại của bà, là những kẻ giữ các điều răn của Đức Chúa Trời. Vì sao Sa-tan ghét những người giữ điều răn? Bởi vì hắn ghét chính các điều răn. Để hiểu được sự thù hằn này, chúng ta phải trở về thời điểm trước khi tội lỗi nảy sinh trong vũ trụ.
Ê-xê-chi-ên 28:14 mô tả Lu-xi-phe là “chê-ru-bim được xức dầu đương che phủ”, đứng trên núi thánh của Đức Chúa Trời. Trong Xuất Ê-díp-tô Ký 25:17–20, các chê-ru-bim bằng vàng dang cánh che phủ nắp thi ân của hòm giao ước trong đền tạm dưới đất — vốn là hình bóng của đền thánh thật trên trời. Bên dưới nắp thi ân, bên trong hòm, là Mười Điều Răn được Đức Chúa Trời tự tay viết ra (Phục Truyền Luật Lệ Ký 10:4–5).
Vậy Lu-xi-phe đã đứng ngay bên cạnh ngai Đức Chúa Trời, đôi cánh hắn che phủ luật pháp thánh ấy. Thế nhưng Ê-xê-chi-ên 28:16 nói rằng vì sự buôn bán dồi dào, hắn đã “đầy dẫy sự hung dữ” và phạm tội. 1 Giăng 3:8 xác nhận rằng “ma quỉ đã phạm tội từ lúc ban đầu” — không phải bắt đầu từ núi Si-na-i.
Tội lỗi là sự vi phạm luật pháp
1 Giăng 3:4 định nghĩa rất rõ: “Còn ai phạm tội tức là trái luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp.” Nếu Lu-xi-phe đã phạm tội trên thiên đàng, thì luật pháp của Đức Chúa Trời phải đã tồn tại trên thiên đàng trước khi thế giới này được dựng nên.
Từ “buôn bán” trong Ê-xê-chi-ên 28:16 có cùng gốc Hê-bơ-rơ với từ được dịch là “vu khống” trong Ê-xê-chi-ên 22:9 và “đi nói hành” trong Lê-vi Ký 19:16. Lu-xi-phe đã đi rao truyền những lời vu khống về Đức Chúa Trời giữa các thiên sứ. Trong Giăng 8:44, Đức Chúa Giê-su gọi ma quỉ là “kẻ nói dối từ lúc ban đầu”, là “cha sự nói dối”.
Khải Huyền 12:3–4 mô tả con rồng dùng đuôi mình kéo một phần ba các ngôi sao trên trời quăng xuống đất. Ê-sai 9:14–15 giải thích: “Tiên tri dạy sự nói dối, ấy là cái đuôi.” Nghĩa là Sa-tan đã dùng những lời dối trá để dụ dỗ một phần ba các thiên sứ đi theo hắn.
Lời dối trá đầu tiên: con người tự định đoạt thiện ác
Nội dung lời vu khống của Lu-xi-phe là gì? Theo những gì được ghi trong sách Patriarchs and Prophets trang 37 và The Great Controversy trang 499, hắn gieo nghi ngờ rằng các thiên sứ — vốn là những hữu thể cao trọng — không cần luật pháp ràng buộc, vì sự khôn ngoan riêng của họ đủ để hướng dẫn họ. Hắn tuyên bố mục đích của hắn là bãi bỏ luật pháp.
Ma quỉ đã dùng cùng một cám dỗ ấy với bà Ê-va. Trong Sáng Thế Ký 3:1–5, hắn bắt đầu bằng câu hỏi “Mà chi! Đức Chúa Trời há có phán dặn…?” — đặt vấn đề ngay với lời Đức Chúa Trời. Rồi hắn quả quyết: “Hai ngươi chẳng chết đâu… vào ngày nào hai ngươi ăn trái cây đó, mắt mình mở ra, sẽ như Đức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác.”
Đằng sau lời dụ dỗ ấy là một thông điệp: con người không cần Đức Chúa Trời định đoạt điều gì là thiện và điều gì là ác — chính họ có thể tự mình định đoạt. Đây là lập luận hậu hiện đại đầu tiên trong lịch sử nhân loại: nguồn của đạo đức nằm bên trong con người, chứ không phải ở một luật pháp khách quan bên ngoài. Đó cũng chính là điều thế gian đang dạy ngày nay.
“Các điều răn” trong Tân Ước chính là Mười Điều Răn
Một số người cho rằng cụm từ “giữ các điều răn” trong Khải Huyền có thể chỉ về bất cứ mệnh lệnh nào của Đức Chúa Trời. Nhưng Tân Ước cho thấy rất rõ cụm từ này chỉ về Mười Điều Răn.
Trong Ma-thi-ơ 19:17–19, khi người trai trẻ giàu có hỏi phải làm gì để được sự sống đời đời, Đức Chúa Giê-su đáp: “Hãy giữ các điều răn.” Khi được hỏi điều răn nào, Ngài liệt kê: chớ giết người, chớ phạm tội tà dâm, chớ trộm cướp, chớ làm chứng dối, hãy thảo kính cha mẹ — tất cả đều là các điều răn trong Mười Điều Răn.
Lu-ca 23:56 chép rằng các bà sửa soạn thuốc thơm rồi “yên nghỉ ngày Sa-bát theo điều răn” — tức là điều răn thứ tư. Trong Mác 7:9–10, Đức Chúa Giê-su quở trách những kẻ bỏ “điều răn của Đức Chúa Trời” để giữ truyền khẩu, và Ngài dẫn ra điều răn thứ năm: “Hãy hiếu kính cha mẹ ngươi.”
Rô-ma 7:7 viết: “Tôi không hề biết tham lam là gì, nếu luật pháp không nói rằng: Ngươi chớ tham lam.” Phao-lô đang trích điều răn thứ mười. Gia-cơ 2:10–11 nói: “Ai giữ trọn luật pháp, mà phạm một điều, thì cũng đáng tội như đã phạm hết thảy.” Rồi Gia-cơ liệt kê hai điều răn — chớ phạm tội tà dâm và chớ giết người — để định nghĩa thế nào là “luật pháp”.
Luật pháp và điều răn được dùng thay thế cho nhau
Trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, hai từ “luật pháp” và “điều răn” được dùng thay thế cho nhau. Xuất Ê-díp-tô Ký 16:28 hỏi: “Các ngươi chẳng chịu vâng giữ điều răn và luật pháp ta cho đến chừng nào?” Xuất Ê-díp-tô Ký 24:12 nói Đức Chúa Trời ban cho Môi-se “bảng đá, luật pháp và các điều răn” — và điều duy nhất Đức Chúa Trời tự tay viết là Mười Điều Răn (Phục Truyền Luật Lệ Ký 4:13).
Rô-ma 13:8–10 minh họa rõ điều này: “Ai yêu kẻ lân cận mình, ấy là đã làm trọn luật pháp.” Rồi Phao-lô liệt kê các điều răn — chớ phạm tội tà dâm, chớ giết người, chớ trộm cướp, chớ tham lam — như là những điều mà luật pháp đòi hỏi.
Điều này quan trọng vì lời tiên tri trong Đa-ni-ên 7:25 và 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:3–8 nói rằng cái sừng nhỏ và người tội ác sẽ tìm cách thay đổi luật pháp của Đức Chúa Trời. “Người sẽ nói những lời phạm đến Đấng Rất Cao… và định ý đổi những thì giờ và luật pháp.” Còn 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:7 gọi đó là “sự mầu nhiệm của điều bội nghịch” — tức là sự bội nghịch luật pháp.
Dân sót giữ điều răn sau 1260 năm
Đa-ni-ên 7:25 cho biết cái sừng nhỏ sẽ làm việc tìm cách thay đổi luật pháp trong “một kỳ, những kỳ và nửa kỳ” — tức là 1260 năm. Khải Huyền 12:14 dùng cùng khoảng thời gian ấy để mô tả người đàn bà chạy trốn vào đồng vắng. Ngay sau đoạn nói về 1260 năm, câu 17 cho biết con rồng nổi giận và đi giao chiến với “con cháu khác của người, là những kẻ vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và giữ lời chứng của Đức Chúa Giê-su.”
Nghĩa là vào cuối thời kỳ ấy, Đức Chúa Trời sẽ dấy lên một dân sót để khôi phục lại điều mà cái sừng nhỏ đã tìm cách thay đổi. Cái sừng nhỏ muốn đổi luật pháp; dân sót thì giữ các điều răn của Đức Chúa Trời. Đây chính là liều thuốc giải cho âm mưu thay đổi luật pháp ấy.
Khải Huyền 22:14–15 mô tả những người ở bên trong thành thánh là những người giữ các điều răn, còn ở bên ngoài là “loài chó, các thuật sĩ, kẻ tà dâm, kẻ giết người, kẻ thờ thần tượng, và mọi kẻ ưa thích cùng làm điều dối trá” — tất cả đều là sự vi phạm Mười Điều Răn. Khải Huyền 21:7–8 cũng vẽ nên cùng một sự tương phản giữa người đắc thắng và những kẻ ở ngoài.
Luật pháp được khắc trong tấm lòng
Dạy về việc giữ điều răn không phải là chủ nghĩa luật pháp. Khải Huyền 14:1 mô tả 144.000 người trong thời kỳ cuối có “danh Cha viết trên trán mình.” Theo từ điển Interpreter’s Dictionary of the Bible, trong tư tưởng Kinh Thánh, danh không phải là một nhãn hiệu nhận dạng đơn thuần mà là sự diễn đạt bản chất của người mang danh ấy.
Sáng Thế Ký 27:36 cho thấy Ê-sau nói về Gia-cốp: “Có phải vì người ta gọi nó là Gia-cốp mà nó hai lần chiếm lấy vị tôi rồi chăng?” — tên gọi phản ánh tánh nết. 1 Sa-mu-ên 25:25 nói về Na-banh: “Người thật như nghĩa tên mình; nó tên là Na-banh, và nơi nó có sự điên dại.”
Khi Môi-se cầu xin được thấy vinh hiển của Đức Chúa Trời, Ngài phán: “Ta sẽ làm cho các sự nhân từ ta phát ra trước mặt ngươi; ta hô danh Đức Giê-hô-va trước mặt ngươi.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 33:18–19). Danh của Đức Chúa Trời chính là tánh hạnh của Ngài. Và tánh hạnh ấy được mô tả bằng văn tự ở đâu? Trong Mười Điều Răn.
Đây là lý do trong Kinh Thánh, mỗi lần phạm tội đều là phạm tội nghịch cùng một thân vị — nghịch cùng Đức Chúa Trời. Người con trai hoang đàng nói: “Cha ơi, tôi đã đặng tội với trời và với cha.” Đa-vít nói: “Tôi đã phạm tội cùng Chúa, chỉ cùng một mình Chúa thôi.”
Luật pháp bên trong, không phải ở bên ngoài
Khi Kinh Thánh nói rằng dân sự cuối cùng có danh của Đức Chúa Trời trên trán, điều đó có nghĩa là họ mang tánh hạnh của Đức Chúa Trời, và tánh hạnh ấy được phản ánh trong luật pháp Ngài. Họ sẽ không có luật pháp trên bảng đá, mà có luật pháp được khắc trên tấm lòng và tâm trí.
Sự công bình đến từ bên trong ra ngoài, chứ không phải từ bên ngoài vào trong. Treo Mười Điều Răn trong các phòng xử án sẽ chẳng có ích gì nếu các điều răn ấy không được khắc ghi trong tấm lòng. Không thể lập pháp ra sự đạo đức — phải đặt men vào trong cục bột thì cục bột mới dậy lên được.
Thi Thiên 40:6–8 ghi lời tiên tri về Đức Chúa Giê-su: “Hỡi Đức Chúa Trời tôi, tôi lấy làm vui mừng làm theo ý muốn Chúa, luật pháp Chúa ở trong lòng tôi.” Đức Chúa Giê-su không cần luật lệ bên ngoài để giữ Ngài đi đúng đường, vì luật pháp của Đức Chúa Trời đã được khắc trong lòng Ngài.
Trong thời kỳ cuối, khi con thú và hình tượng nó áp đặt dấu của nó trên cả thế giới, dân sự của Đức Chúa Trời sẽ đáp lời như Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô: chúng tôi vâng theo Đức Chúa Trời trên trời, chúng tôi giữ ngày Sa-bát thánh của Ngài, và chúng tôi sẵn sàng chết để trung thành với Ngài. Họ sẽ phục vụ Đức Chúa Trời vì họ yêu Ngài hết lòng, vì luật pháp Ngài đã được viết trên tâm trí và tấm lòng họ.