Dấu của Con Thú — Phần 2
Chưa ai nhận dấu của con thú — nhưng quyết định hôm nay đã định hình tương lai
Một câu hỏi thường được đặt ra là liệu hiện nay đã có ai trên thế giới nhận dấu của con thú chưa. Câu trả lời rõ ràng là chưa. Dấu của con thú là điều sẽ được áp đặt vào thời kỳ cuối cùng của lịch sử nhân loại.
Tuy nhiên, mỗi lần một người nghe sứ điệp Kinh Thánh chỉ ra rằng ngày Sa-bát mới là ngày yên nghỉ Đức Chúa Trời lập, còn Chủ Nhật chỉ len vào Hội Thánh qua cánh cửa sau của ngoại giáo, mà vẫn từ chối đáp lời, thì lòng họ ngày càng trở nên chai cứng. Mỗi lần nói “không” với Đức Chúa Trời, lần kế tiếp sẽ khó nói “vâng” hơn.
Dấu của con thú sẽ được đóng trên những ai biết rõ Chủ Nhật không phải ngày Đức Chúa Trời ban phước, song vẫn cố tình giữ ngày đó để được mua bán và thoát khỏi sắc lệnh tử hình. Quyết định chúng ta đưa ra hôm nay sẽ định hình quyết định của chúng ta lúc bấy giờ.
Chiếc sừng nhỏ trong Đa-ni-ên 7 và quyền lực dám đổi luật pháp Đức Chúa Trời
Đa-ni-ên 7 trình bày một chuỗi các đế quốc nối tiếp nhau, được biểu trưng qua bốn con thú: sư tử là Ba-by-lôn, con gấu là Mê-đi và Phe-rơ-sơ, con beo là Hy Lạp, và con thú thứ tư là Đế quốc Rô-ma. Từ đầu con thú thứ tư mọc ra mười sừng, tượng trưng cho các vương quốc mà Đế quốc Rô-ma bị chia cắt vào năm 476 SCN sau các cuộc xâm lăng của các bộ tộc Man-di.
Giữa mười sừng đó, một chiếc sừng nhỏ trỗi dậy. Nó bắt bớ các thánh đồ, nói lời phạm thượng nghịch cùng Đấng Chí Cao, và dám tưởng đến việc “đổi luật pháp và kỳ định”. Nó cai trị trong “một kỳ, các kỳ và nửa kỳ” — tương đương 1.260 ngày tiên tri, tức 1.260 năm.
Không có quyền lực nào khác trỗi lên từ Đế quốc Rô-ma đã cai trị hơn một ngàn năm ngoài giáo quyền Rô-ma. Đa-ni-ên 7:25 chép:
“Vua đó sẽ nói những lời phạm đến Đấng Rất Cao, làm hao mòn các thánh của Đấng Rất Cao, và định ý đổi những thời kỳ và luật pháp.”
Lời “phạm thượng” trong Kinh Thánh được định nghĩa là khi một con người tự xưng là Đức Chúa Trời, hoặc tự nhận có quyền tha tội. Giáo quyền Rô-ma tuyên xưng giáo hoàng là “đại diện của Đấng Christ” trên đất và có quyền tha tội — đúng những đặc điểm mà sừng nhỏ thể hiện.
Tông thư Dies Domini đối chiếu với Kinh Thánh
Ngày 31 tháng 5 năm 1998, Giáo hoàng John Paul II công bố tông thư Dies Domini (“Ngày của Chúa”), gửi các vị lãnh đạo trong giáo hội. Đây không phải là một cuộc tấn công cá nhân; điều cần làm là so sánh quan điểm thần học trong tông thư đó với Kinh Thánh, theo hình thức hỏi và đáp.
Đức Chúa Trời ban phước và biệt riêng ra thánh ngày nào?
Kinh Thánh trả lời rất rõ. Sáng Thế Ký 2:2–3 chép rằng đến ngày thứ bảy Đức Chúa Trời nghỉ mọi công việc, ban phước cho ngày thứ bảy và biệt riêng ra thánh ngày ấy. Ba lần văn bản nhấn mạnh đến “ngày thứ bảy”. Đây là việc Đức Chúa Trời làm trước khi có dân Do Thái và trước khi có tội lỗi — một phần trong kế hoạch nguyên thủy của Ngài.
Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8–11 củng cố điều này trong điều răn thứ tư:
“Hãy nhớ ngày Sa-bát đặng làm nên ngày thánh… vì trong sáu ngày Đức Giê-hô-va đã dựng nên trời, đất, biển, và muôn vật ở trong đó, qua ngày thứ bảy thì Ngài nghỉ; vậy nên Đức Giê-hô-va đã ban phước cho ngày Sa-bát và biệt ngày ấy ra thánh.”
Trong Mác 2:27–28, chính Đức Chúa Giê-su tuyên bố Ngài là “Chúa của ngày Sa-bát”. Ê-sai 58:13 gọi ngày Sa-bát là “ngày thánh của Đức Giê-hô-va”. Ngày duy nhất mà Đức Chúa Trời nhận làm của Ngài trong Kinh Thánh chính là ngày Sa-bát.
Thế nhưng Dies Domini đoạn 8 lại tuyên bố rằng Chủ Nhật là ngày Đức Chúa Trời ban phước, làm cho nên thánh, và biệt riêng giữa các ngày khác để trở thành “ngày của Chúa”. Không có một câu Kinh Thánh nào — từ Sáng Thế Ký đến Khải Huyền — nói rằng Chủ Nhật là ngày thánh hay được Đức Chúa Trời ban phước.
Nếu các sứ đồ đã đổi ngày, ắt phải có sự phản kháng
Nhà nghiên cứu Samuele Bacchiocchi, tác giả tác phẩm From Sabbath to Sunday, viết rằng:
“Nếu Phao-lô hay bất kỳ sứ đồ nào đã tìm cách bãi bỏ ngày Sa-bát — một định chế ngàn năm bám rễ sâu trong tâm thức tôn giáo của dân chúng — và thay bằng việc giữ Chủ Nhật, ắt đã phải có một làn sóng phản đối quyết liệt từ các Cơ-đốc nhân gốc Do Thái, như đã xảy ra với phép cắt bì.”
Sự vắng mặt hoàn toàn của bất kỳ tranh luận nào về Sa-bát–Chủ Nhật trong Tân Ước là bằng chứng mạnh mẽ cho thấy việc giữ Chủ Nhật chỉ xuất hiện sau thời kỳ các sứ đồ.
Ngày nào đứng ở trung tâm của sự thờ phượng?
Khải Huyền 14:6–7 trình bày sứ điệp của thiên sứ thứ nhất, kêu gọi mọi dân thờ phượng “Đấng đã dựng nên trời, đất, biển và các suối nước”. Ngôn ngữ này lấy trực tiếp từ Xuất Ê-díp-tô Ký 20:11 — chính điều răn thứ tư về ngày Sa-bát. Dấu hiệu của Đấng Tạo Hóa là ngày Sa-bát thánh của Ngài.
Ê-sai 66:22–23 cho biết khi Đức Chúa Trời dựng trời mới đất mới, dân sự sẽ đến thờ phượng “từ ngày Sa-bát này đến ngày Sa-bát khác”. Sa-bát là dấu hiệu của công cuộc sáng tạo, và sẽ là dấu hiệu của công cuộc tái tạo.
Nhưng Dies Domini đoạn 19 viết rằng Chủ Nhật “đứng ở trung tâm của mọi sự thờ phượng” trong các Hội Thánh Đông phương và Tây phương, vì là ngày phục sinh. Đức Chúa Giê-su, là Đấng Tạo Hóa, đã yên nghỉ trong mộ vào ngày Sa-bát chứ không phải Chủ Nhật. Trên thập tự giá, Ngài phán “mọi việc đã được trọn” và rồi nghỉ trong mộ vào ngày thứ bảy — y như Ngài đã nghỉ vào ngày thứ bảy sau khi sáng tạo.
Dấu của dân sự Đức Chúa Trời và ấn của Đức Chúa Trời
Ê-xê-chi-ên 20:12 và 20:20 chép Đức Chúa Trời phán: “Ta cho chúng nó những ngày Sa-bát Ta làm một dấu giữa Ta và chúng nó, để chúng nó biết rằng Ta là Đức Giê-hô-va, là Đấng biệt chúng nó ra thánh.” Theo Kinh Thánh, dấu phân biệt dân sự Đức Chúa Trời với thế gian chính là ngày Sa-bát.
Ngày Sa-bát cũng chứa đựng đủ ba yếu tố của một ấn chính thức: danh (Đức Giê-hô-va), chức vị (Đấng Tạo Hóa) và lãnh thổ (trời, đất, biển và muôn vật trong đó). Xuất Ê-díp-tô Ký 20:11 hội đủ cả ba.
Nhưng Dies Domini đoạn 21 lại trích Khải Huyền 1:10 — “tôi ở trong tâm thần nơi ngày của Chúa” — và khẳng định “ngày của Chúa” đó là Chủ Nhật. Lập luận này dựa trên Phúc Âm Phi-e-rơ ngụy thư được viết vào cuối thế kỷ thứ hai, khoảng một trăm năm sau sách Khải Huyền. Không thể đem ý nghĩa của một bản văn ngụy thư trễ hơn cả thế kỷ áp đặt ngược lại vào sách Khải Huyền. Khi để Kinh Thánh tự giải thích, “ngày của Chúa” trong Khải Huyền 1:10 chính là ngày Sa-bát thứ bảy.
Dies Domini đoạn 30 tuyên bố rằng việc cử hành Chủ Nhật là “yếu tố không thể thiếu của căn tính Cơ-đốc”. Trích lời Augustine, đoạn này còn quả quyết: “Chúa đã đặt ấn của Ngài trên ngày này” — tức là Chủ Nhật. Trong khi đó, Kinh Thánh nói ấn của Đức Chúa Trời nằm trong điều răn thứ tư về ngày Sa-bát.
Liên hệ giữa Chủ Nhật và việc thờ phượng mặt trời
Ê-xê-chi-ên 8:16–17 mô tả hai mươi lăm người đứng giữa hành lang đền thờ Giê-ru-sa-lem, quay lưng lại với đền thờ và mặt hướng về phương đông, thờ phượng mặt trời. Đức Chúa Trời gọi đây là “điều gớm ghiếc”.
Thờ phượng mặt trời và thờ phượng vào ngày của mặt trời — về nguyên tắc — là một, vì cả hai đều dâng sự tôn thờ cho điều mà Đức Chúa Trời chưa từng biệt riêng ra để thờ phượng. Lấy một ngày con người đặt ra để thờ phượng và biến nó thành ngày thánh chính là hình thức tôn thờ thần tượng.
Điều đáng kinh ngạc là Dies Domini đoạn 27 thừa nhận thẳng:
“Sự khôn ngoan mục vụ đã gợi ý cho Hội Thánh Cơ-đốc-hóa quan niệm về Chủ Nhật như là ngày của mặt trời.”
Quan sát các bảo tàng và thánh đường Công giáo Rô-ma sẽ thấy vô số họa tiết hình mặt trời tỏa tia trên đầu các thánh, trên bàn thờ, trên cửa kính, trên chén thánh và lễ phục. Những biểu tượng này không bắt nguồn từ Kinh Thánh, mà từ ngoại giáo cổ đại. Việc giữ Chủ Nhật bước vào Hội Thánh thời Hoàng đế Constantine, người tự xưng là kẻ thờ “mặt trời bất bại” và đã ban hành sắc lệnh đầu tiên gọi Chủ Nhật là “ngày khả kính của mặt trời”.
Khi nhà nước cưỡng bức một ngày thờ phượng
Ma-thi-ơ 22:21 chép lời Đức Chúa Giê-su: “Hãy trả cho Sê-sa vật gì của Sê-sa, và trả cho Đức Chúa Trời vật gì của Đức Chúa Trời.” Ngày Sa-bát thuộc về Đức Chúa Trời, không thuộc về Sê-sa. Vì vậy, nhà nước không có quyền bảo đảm hay áp đặt một ngày thờ phượng bằng pháp luật dân sự.
Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp Hoa Kỳ ghi rõ: “Quốc hội sẽ không làm luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hay ngăn cấm tự do hành đạo.” Nguyên tắc tách biệt giữa Hội Thánh và nhà nước được tượng trưng qua “hai sừng giống như chiên con” của con thú đến từ đất trong Khải Huyền 13.
Thế nhưng Dies Domini đoạn 66 dẫn lại Giáo hoàng Leo XIII trong thông điệp Rerum Novarum, cho rằng việc nghỉ Chủ Nhật là quyền của người lao động mà nhà nước phải bảo đảm. Đoạn 67 còn kêu gọi: “Cơ-đốc nhân tự nhiên sẽ phấn đấu sao cho luật pháp dân sự tôn trọng nghĩa vụ giữ ngày Chủ Nhật làm ngày thánh.” Tông thư này thậm chí ca ngợi sắc lệnh Chủ Nhật đầu tiên do Constantine ban hành năm 321 SCN.
Lịch sử đã cho thấy sự liên kết giữa Hội Thánh và nhà nước chính là điều dẫn đến việc đóng đinh Đức Chúa Giê-su. Hai quyền lực ấy phải tách biệt.
Ai đã đổi ngày thờ phượng?
Dies Domini cố gắng dùng chính các câu Kinh Thánh mà những người Tin Lành thường dẫn để chứng minh sự thay đổi ngày: Đức Chúa Giê-su phục sinh ngày thứ nhất trong tuần; Ngài hiện ra với hai môn đồ trên đường Em-ma-út; Ngài hiện ra trong phòng cao ngày Chủ Nhật; cuộc nhóm họp tại Trô-ách trong Công Vụ Các Sứ Đồ 20; và lời dặn của Phao-lô về tiền dâng trong I Cô-rinh-tô 16. Nhưng tất cả các đoạn này đã được Bacchiocchi giải đáp thỏa đáng. Sự kiện Đức Chúa Giê-su sống lại ngày thứ nhất không khiến ngày đó trở nên thánh; Kinh Thánh không ở đâu nói như vậy. Cuộc nhóm họp ở Trô-ách là một buổi nhóm đặc biệt vào tối thứ Bảy vì Phao-lô sắp lên đường sáng hôm sau. I Cô-rinh-tô 16:2 chỉ dạy mỗi người “để dành tại nhà” một số tiền vào ngày đầu tuần.
Đọc kỹ Dies Domini, người ta phát hiện rằng John Paul II thực ra quy việc đổi ngày cho truyền thống và cho các Cơ-đốc nhân, chứ không phải cho Đức Chúa Trời:
- Đoạn 6: “giáo huấn của Hội Thánh” về Chủ Nhật, theo “truyền thống lâu đời của Hội Thánh”.
- Đoạn 18: “các Cơ-đốc nhân đã làm cho ngày thứ nhất sau Sa-bát thành ngày lễ.”
- Đoạn 27: “Sự suy tư Cơ-đốc và thực hành mục vụ đã thay đổi nó.”
- Đoạn 63: “Các Cơ-đốc nhân cảm thấy mình có thẩm quyền chuyển ý nghĩa của Sa-bát sang ngày phục sinh.”
- Đoạn 81: “sự phong phú thiêng liêng và mục vụ của Chủ Nhật được truyền lại cho chúng ta qua truyền thống.”
Không có một câu nào trong Kinh Thánh được trích để biện minh cho sự thay đổi. Tông thư chỉ dựa vào lập luận triết học, lý trí con người và truyền thống. Nếu thật sự muốn đổi ngày thờ phượng, phải có một lời tuyên xưng “Chúa phán như vầy” — và lời ấy không hề có.
Nếu giáo quyền tuyên bố mình đã đổi ngày, thì giáo quyền đang tự xưng có thẩm quyền và đặc quyền của Đức Chúa Trời. Đó chính là điều II Tê-sa-lô-ni-ca 2 cảnh báo: “con người tội ác” sẽ ngồi trong đền thờ Đức Chúa Trời, tỏ mình ra là Đức Chúa Trời.
Cây trong vườn Ê-đen và sự lựa chọn cuối cùng
Lần kia tôi giảng tại một trường đại học ở Argentina về dâm phụ trong Khải Huyền 17, chỉ trình bày các đặc điểm mà không nêu tên hệ thống. Sáng hôm sau, một nữ sinh viên đến phòng tư vấn, nói rằng tôi đã xúc phạm Hội Thánh của cô. Tôi hỏi tại sao, vì tôi không hề nêu tên ai. Cô đáp: “Qua tất cả các đặc điểm, chúng tôi biết ngài đang nói về Hội Thánh Công giáo Rô-ma.”
Tôi hỏi lại cô: “Vậy chúng ta phải đi nhà thờ ngày nào?” — “Chủ Nhật.” — “Vì sao?” — “Vì Kinh Thánh dạy như thế.” Tôi đề nghị cô mở chính cuốn Kinh Thánh Công giáo Rô-ma của mình ra Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8–11. Ở đó cô sẽ đọc thấy ngày Sa-bát là ngày thứ bảy, không phải ngày thứ nhất. Cô lặng đi một lúc lâu rồi nói: “Tôi rối lắm. Tôi sẽ đi gặp giám mục.” Tôi đáp: “Hãy đi. Nhưng tôi nói trước cho cô biết: ngài ấy sẽ không tìm được câu Kinh Thánh nào nói rằng ngày đã được đổi. Ngài ấy chỉ có thể nói rằng Đức Chúa Giê-su đã ban thẩm quyền cho Hội Thánh để đổi ngày từ thứ Bảy sang Chủ Nhật.”
Câu hỏi đặt ra cho mỗi tín hữu Công giáo Rô-ma là: Bạn chấp nhận thẩm quyền của Kinh Thánh Công giáo và điều răn thứ tư trong đó, hay thẩm quyền của Dies Domini? Câu hỏi cho mỗi tín hữu Tin Lành là: Bạn theo lời chứng của Kinh Thánh — rằng ngày Sa-bát đã được Đức Chúa Trời lập, ban phước và biệt riêng ra thánh ngay từ buổi sáng tạo — hay bạn giữ ngày thứ nhất trong tuần, một ngày Kinh Thánh chưa bao giờ gọi là thánh, chưa bao giờ được Đức Chúa Trời ban phước, chỉ vì truyền thống của Hội Thánh Rô-ma đã trao truyền nó?
Trong vườn Ê-đen, Đức Chúa Trời đặt một cây làm phương tiện thử lòng A-đam và Ê-va. Cuộc thử nghiệm không phải về một cái cây, mà về lòng trung thành: họ sẽ vâng phục thẩm quyền của Đức Chúa Trời hay của Sa-tan? Vào thời kỳ cuối cùng, ngày thờ phượng sẽ là phương tiện Đức Chúa Trời dùng để thử lòng trung thành của con người. Ai chấp nhận thẩm quyền của con thú sẽ nhận lấy ngày thờ phượng của nó — ngày thứ nhất trong tuần — và sẽ uống chén thạnh nộ của Đức Chúa Trời.
Elen White viết trong tác phẩm Thiện Ác Đấu Tranh, trang 53:
“Trong gần như mọi giáo hội nghị, ngày Sa-bát mà Đức Chúa Trời đã thiết lập bị đè xuống thấp hơn một chút, trong khi Chủ Nhật được nâng cao lên một cách tương ứng. Cứ thế, lễ hội ngoại giáo cuối cùng được tôn vinh như một định chế thiêng liêng, còn ngày Sa-bát của Kinh Thánh bị tuyên bố là tàn dư của Do Thái Giáo, và những kẻ giữ Sa-bát bị xem là đáng rủa sả.”
Quyết định cuối cùng nằm ở đó: chấp nhận thẩm quyền của Đức Chúa Trời và mang ấn của Ngài qua ngày Sa-bát, hay chấp nhận thẩm quyền của con thú và mang dấu của nó qua việc giữ ngày thứ nhất trong tuần.