Bài 9 / 25

Sự Tà Dâm Ô Uế của Ba-by-lôn

9. Babylon's Filthy Fornication || 3 Angels Message Series

Sự tà dâm của Ba-by-lôn trong Khải Huyền 17 và 18

Trong các bài học trước, chúng ta đã nghiên cứu về căn cước của Ba-by-lôn và về rượu của Ba-by-lôn. Hôm nay chúng ta sẽ học về sự tà dâm của Ba-by-lôn. Người đàn bà tà dâm trong Khải Huyền chương 17 tiêu biểu cho một Hội Thánh Cơ-đốc đã rời xa Đức Chúa Giê-su và trở nên bội đạo.

Khải Huyền 17:1–2 mô tả cảnh tượng này:

“Bấy giờ trong bảy thiên sứ cầm bảy bát ấy, có một vị đến gần mà nói với tôi rằng: Lại đây ta sẽ chỉ cho ngươi sự phán xét về con đại dâm phụ, nó ngồi trên các dòng nước lớn kia, các vua trong thiên hạ phạm tội tà dâm với nó, và dân sự trong thế gian cũng say sưa vì rượu tà dâm của nó.”

Khải Huyền 18:1–3 lặp lại cùng một bức tranh: Ba-by-lôn lớn đã đổ rồi, và “các vua thế gian đã phạm tội tà dâm với nó”. Như vậy, vào thời cuối cùng sẽ có một sự liên minh giữa một Hội Thánh tà dâm và các vua trong thế gian — nói cách khác, Hội Thánh sẽ dính líu một cách bất chính với các hệ thống chính trị của thế giới. Ở đây có hai vương quốc: Hội Thánh được tiêu biểu bởi người đàn bà tà dâm, và các nhà cầm quyền dân sự được tiêu biểu bởi các vua.


Hai vương quốc mà Đức Chúa Giê-su đã công nhận

Trong Ma-thi-ơ 22:15–21, người Pha-ri-si tìm cách gài bẫy Đức Chúa Giê-su bằng câu hỏi: có nên nộp thuế cho Sê-sa hay không? Nếu Ngài trả lời “có”, người Do Thái sẽ chống đối Ngài; nếu Ngài trả lời “không”, Ngài sẽ bị Rô-ma kết tội phản nghịch. Đức Chúa Giê-su xin xem một đồng đơ-ni-ê và hỏi hình và hiệu trên đồng tiền là của ai. Khi họ đáp “của Sê-sa”, Ngài phán: “Vậy, hãy trả cho Sê-sa vật gì của Sê-sa, và trả cho Đức Chúa Trời vật gì của Đức Chúa Trời.”

Đức Chúa Giê-su công nhận hai vương quốc: vương quốc của Sê-sa và vương quốc của Đức Chúa Trời. Đây cũng chính là hai vương quốc mà chúng ta thấy trong Khải Huyền 17 — Hội Thánh bội đạo và các vua trong thế gian. Lý do khiến Hội Thánh trở nên một dâm phụ là vì thay vì giữ mối liên hợp với Đức Chúa Giê-su là Đấng phu quân, nàng đã bước vào những mối quan hệ bất chính với các vua thế gian.

Vậy chúng ta nợ vương quốc của Sê-sa điều gì, và chúng ta nợ Đức Chúa Trời điều gì?


Hai bảng luật pháp và phạm vi của thẩm quyền dân sự

Phục Truyền Luật Lệ Ký 4:13 cho biết Đức Chúa Trời đã viết Mười Điều Răn trên hai bảng đá. Đức Chúa Trời có thể viết trên một bảng hay ba bảng nếu Ngài muốn, nhưng Ngài đã chọn hai bảng vì bốn điều răn đầu nói về bổn phận của con người đối với Đức Chúa Trời, còn sáu điều răn sau nói về bổn phận của con người đối với đồng loại.

Phục Truyền Luật Lệ Ký 6:4–5 và Lê-vi Ký 19:18 nêu hai mệnh lệnh lớn: kính mến Đức Chúa Trời hết lòng, hết linh hồn, hết sức, và yêu kẻ lân cận như mình. Trong Ma-thi-ơ 22:34–40, Đức Chúa Giê-su xác nhận rằng cả luật pháp và lời tiên tri đều treo trên hai điều răn ấy. Bảng thứ nhất mô tả tình yêu của chúng ta đối với Đức Chúa Trời; bảng thứ hai mô tả mối quan hệ của chúng ta với đồng loại.

Chính quyền dân sự có quyền thực thi bảng thứ hai của luật pháp: trừng phạt kẻ trộm cắp, kẻ giết người, kẻ làm chứng dối. Nhưng bảng thứ nhất hoàn toàn nằm ngoài phạm vi của chính quyền dân sự, vì nó liên quan đến sự thờ phượng và bổn phận của con người đối với Đức Chúa Trời. Chính quyền dân sự được lập nên để gìn giữ trật tự xã hội — bốn điều răn đầu là vùng cấm đối với chính quyền.


Đức Chúa Giê-su luôn bị buộc tội về bảng thứ nhất

Điều đáng lưu ý là Đức Chúa Giê-su chưa bao giờ bị người Do Thái buộc tội vi phạm sáu điều răn cuối hay luật dân sự của Rô-ma. Mọi lời tố cáo họ đưa ra đều thuộc về bảng thứ nhất của luật pháp.

Trong Mác 2:7, khi Ngài tha tội cho người bại liệt, kẻ thù của Ngài kêu lên: “Sao người này nói như vậy? Người nói phạm thượng đó! Ngoài một mình Đức Chúa Trời, còn có ai tha tội được chăng?” Trong Giăng 10:33, họ tố cáo Ngài: “Ngươi vốn là người, mà tự xưng là Đức Chúa Trời.” Trong Giăng 9:16 và Giăng 5:16–18, họ kết tội Ngài phá ngày Sa-bát — một điều răn thuộc bảng thứ nhất. Trong Giăng 8:58–59, khi Ngài phán “Trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có ta”, họ lượm đá ném Ngài vì cho rằng Ngài lấy danh của Đức Chúa Trời cho chính mình.

Mọi cáo buộc đều thuộc về bảng thứ nhất, là phạm vi mà chính quyền dân sự không có thẩm quyền.


Vương quốc của Đức Chúa Giê-su không thuộc về thế gian này

Ma quỉ liên tục cám dỗ Đức Chúa Giê-su tiếp quản vương quốc chính trị. Trong Ma-thi-ơ 4:8–10, nó dẫn Ngài lên núi cao và chỉ cho Ngài mọi vương quốc thế gian, hứa sẽ ban tất cả nếu Ngài chịu sấp mình thờ lạy nó. Trong Giăng 6:15, sau khi Ngài cho năm ngàn người ăn, dân chúng muốn ép Ngài làm vua, nhưng Ngài lui vào núi một mình. Khi các môn đồ là Gia-cơ và Giăng muốn khiến lửa từ trời thiêu đốt một làng Sa-ma-ri không tiếp Ngài, Đức Chúa Giê-su quở trách họ: “Các ngươi không biết tâm thần nào xui giục mình. Vì Con người đã đến không phải để diệt linh hồn loài người, mà để cứu lấy.” (Lu-ca 9:55–56).

Lu-ca 17:20–21 ghi lời Đức Chúa Giê-su: “Nước Đức Chúa Trời không đến cách rõ ràng… vì nầy, nước Đức Chúa Trời ở trong các ngươi.” Vương quốc của Ngài là một vương quốc thuộc linh, lớn lên từ bên trong tấm lòng nhờ Đức Thánh Linh và Lời Đức Chúa Trời, chứ không phải bằng vũ lực hay bằng việc tiếp quản hệ thống chính trị.


Phiên xét xử Đức Chúa Giê-su: khi Hội Thánh dùng nhà nước để giết người vô tội

Trong Giăng 11:47–53, Tòa Công Luận nhóm họp vì sợ “người Rô-ma sẽ đến cất lấy cả nơi này lẫn dân ta”. Cai-phe đề nghị: thà một người chết thay cho dân còn hơn cả nước phải hư mất. Họ tin rằng giết Đức Chúa Giê-su sẽ cứu dân tộc, nhưng kết cuộc chính việc đó đã đem đến sự đổ nát mà họ tìm cách ngăn chặn.

Khi Đức Chúa Giê-su bị bắt trong vườn Ghết-sê-ma-nê, Phi-e-rơ rút gươm chém đứt tai đầy tớ thầy cả thượng phẩm. Đức Chúa Giê-su phán trong Ma-thi-ơ 26:52: “Hãy nạp gươm vào vỏ; vì hễ ai cầm gươm thì sẽ bị chết về gươm.” Lời này sẽ vang lại trong Khải Huyền 13:10.

Phiên tòa của Ngài trước Tòa Công Luận là một sự bất công trắng trợn: dùng chứng dối, xét xử ban đêm, đánh Ngài trước khi tuyên án, không cho Ngài quyền có người bào chữa, ép Ngài tự buộc tội mình, xử kín thay vì xử công khai, và xét xử trong ngày lễ — tất cả đều vi phạm luật Do Thái. Sau khi Đức Chúa Giê-su xác nhận Ngài là Đấng Christ, thầy cả thượng phẩm xé áo và họ tuyên án tử hình. Hãy lưu ý: chính cơ quan của Hội Thánh đã tuyên án tử.

Nhưng Hội Thánh thời đó không thể thi hành án tử, nên họ giải Ngài đến Phi-lát. Trong Giăng 18:31, Phi-lát bảo họ: “Các ngươi hãy tự bắt lấy người, và xét đoán theo luật mình.” Phi-lát nhận biết hai luật, hai vương quốc — luật dân sự của Rô-ma và luật tôn giáo của người Do Thái. Nhưng người Do Thái thưa: “Chúng tôi chẳng có phép giết ai.” Họ cần quyền lực của nhà nước.

Đây chính là điều Kinh Thánh gọi là tà dâm: khi Hội Thánh dùng nhà nước để giết những kẻ không hòa hợp với giáo lý của mình.

Lu-ca 23:2 cho thấy họ bịa ra những cáo buộc thuộc lãnh vực dân sự — khuấy rối dân, cấm nộp thuế, tự xưng làm vua — nhằm khiến Phi-lát quan tâm. Nhưng Đức Chúa Giê-su phán trong Giăng 18:36: “Nước của ta chẳng phải thuộc về thế gian này. Ví bằng nước ta thuộc về thế gian này, thì tôi tớ của ta sẽ đánh trận, đặng ta khỏi phải nộp cho dân Giu-đa.” Ba lần Phi-lát công bố Ngài vô tội (Giăng 18:38; 19:4; 19:6). Nhưng vì sợ mất chức vụ chính trị (Giăng 19:12) và sợ dân làm loạn, ông đã giao nộp một người vô tội.

Khi các thầy tế lễ cả hô lên “Chúng tôi không có vua khác, chỉ Sê-sa mà thôi” (Giăng 19:15), họ thực sự đang ly dị Đức Chúa Giê-su là Đấng phu quân của họ và phạm tội tà dâm với Sê-sa. Họ tưởng rằng giết Đức Chúa Giê-su sẽ cứu dân tộc, nhưng chính hành động đó đã dẫn đến sự bội đạo toàn quốc và sự đổ nát của Giê-ru-sa-lem mà Đức Chúa Giê-su khóc than trong Lu-ca 19:41–44.


Hai thanh gươm: Lời Đức Chúa Trời và gươm của nhà nước

Kinh Thánh nói đến hai thanh gươm. Thanh gươm thứ nhất là Lời Đức Chúa Trời. Ê-phê-sô 6:17 chép: “hãy lấy… gươm của Đức Thánh Linh, là lời Đức Chúa Trời.” Đức Chúa Giê-su giao thanh gươm này cho Hội Thánh, và Hội Thánh sử dụng nó bằng cách rao giảng. Trong Công Vụ Các Sứ Đồ 1:8, Ngài phán: “Khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất.” Sứ mệnh của Hội Thánh không phải là tiếp quản chính trị, mà là cấy Đức Thánh Linh và các nguyên tắc của vương quốc vào trong tấm lòng con người qua Lời Kinh Thánh.

Thanh gươm thứ hai thuộc về nhà nước. Rô-ma 13:1–4 dạy rằng các bậc cầm quyền do Đức Chúa Trời lập nên để gìn giữ trật tự xã hội: “Người cầm quyền chẳng phải mang gươm cho hư không đâu… là chức việc của Đức Chúa Trời để làm ra sự công bình và phạt kẻ làm ác.” Câu 9 liệt kê những điều răn thuộc bảng thứ hai mà nhà nước có thẩm quyền: chớ phạm tội tà dâm, chớ giết người, chớ trộm cướp, chớ làm chứng dối, chớ tham lam.

Vậy Hội Thánh có gươm — gươm của Đức Thánh Linh. Nhà nước có gươm — gươm dân sự. Vấn đề phát sinh khi Hội Thánh dùng gươm của nhà nước. Đó chính là điều Kinh Thánh gọi là tà dâm.

Ngay sau thời các sứ đồ, lịch sử cho thấy người Do Thái bội đạo nhiều lần xúi giục các nhà cầm quyền Rô-ma bách hại Hội Thánh đầu tiên. Công Vụ 12:1–3 ghi rằng Vua Hê-rốt giết Gia-cơ bằng gươm vì “thấy điều đó vừa ý người Giu-đa”. Cũng một khuôn mẫu ấy đã lặp lại suốt thời Trung Cổ, khi Hội Thánh bội đạo liên kết với chính quyền để giết các thánh đồ của Đấng Chí Cao.


Lời cảnh báo cho thời đại chúng ta

Ma-thi-ơ 27:19 cho biết vợ của Phi-lát đã sai người đến nói với ông: “Đừng làm gì đến người công bình đó; vì hôm nay tôi đã bởi cớ người mà đau đớn nhiều trong chiêm bao.” Phi-lát biết Đức Chúa Giê-su là vô tội. Nhưng vì áp lực của đám đông và lo sợ mất địa vị, ông đã giao nộp Ngài, rồi rửa tay trước mặt dân chúng mà nói: “Ta không có tội về huyết của người này” (Ma-thi-ơ 27:24). Đức Chúa Trời sẽ không chấp nhận bất kỳ sự rửa tay nào như cái cớ cho việc liên hợp giữa Hội Thánh và nhà nước, hay cho sự bách hại những người theo Đức Chúa Giê-su.

Đây là một lời chứng mạnh mẽ cho các nhà cầm quyền dân sự ngày nay. Khi Hội Thánh muốn dùng nhà nước làm điều mà chỉ Đức Thánh Linh và Lời Đức Chúa Trời nên làm, Hội Thánh trở nên ô uế và nhà nước cũng bị bại hoại.

Trong Giăng 16:1–3, Đức Chúa Giê-su báo trước rằng chính những điều đã xảy ra với Ngài sẽ xảy ra cho các môn đồ Ngài: “Họ sẽ đuổi các ngươi ra khỏi nhà hội; vả lại, giờ đến, khi ai giết các ngươi, tưởng rằng thế là hầu việc Đức Chúa Trời.” Khuôn mẫu ấy đã lặp lại trong suốt thời Trung Cổ, khi Hội Thánh xưng nhận đã trở thành một dâm phụ và liên kết với nhà nước để giết các thánh đồ.

Suốt khoảng hai trăm năm qua, đã có một thời kỳ hoãn binh đối với loại bách hại này — và có lý do Kinh Thánh cũng như lịch sử cụ thể cho điều đó. Nhưng Kinh Thánh nói rằng sẽ đến ngày những cảnh tượng ấy lại tái diễn. Vì thế chúng ta phải để cho người ta biết, phải để cho các nhà chính trị biết, rằng họ không nên lặp lại sai lầm mà Phi-lát đã phạm. Và cầu xin Đức Chúa Trời cho mỗi chúng ta chọn đứng về phía Ngài, góp phần khiến vương quốc thuộc linh của Ngài lớn lên.