Sự Thánh Và Sự Phàm
Của lễ dâng cho Đức Chúa Trời tại Giê-ri-cô
Kinh Thánh ghi lại nhiều câu chuyện chứa đựng những nguyên tắc phổ quát, áp dụng cho mọi thời đại. Hoàn cảnh của các câu chuyện có thể đổi thay, nhưng nguyên tắc minh họa qua chúng vẫn còn đời đời. Một trong những câu chuyện ấy là cuộc chinh phục Giê-ri-cô được ghi trong Giô-suê chương 6.
Khi dân Y-sơ-ra-ên vượt qua sông Giô-đanh, thành đầu tiên họ đối diện là Giê-ri-cô. Đức Chúa Trời truyền cho họ đi vòng quanh thành bảy ngày, và bảy lần vào ngày thứ bảy. Khi họ làm xong, chính Đức Chúa Trời đã phá hủy thành. Trước đó, Ngài cảnh báo rằng dân sự không được lấy bất cứ vật gì trong thành cho mình.
“Các ngươi khá giữ mình về vật đáng diệt, e khi đã định diệt rồi, các ngươi lấy vật đáng diệt đó, làm cho trại quân Y-sơ-ra-ên đáng bị diệt, và gây sự rối loạn trong đó chăng.” (Giô-suê 6:18)
Từ Hê-bơ-rơ được dịch là “đáng diệt” thực ra là kharem, mà ở những chỗ khác trong Cựu Ước được dịch là “biệt riêng” hay “dâng hiến”. Lê-vi Ký 27:28 dùng cùng một từ này để nói về “vật biệt riêng ra thánh” cho Đức Chúa Trời. Như vậy, các vật trong Giê-ri-cô không phải bị nguyền rủa — chúng được biệt riêng cho Đức Chúa Trời.
Giô-suê 6:19 xác nhận điều này: bạc, vàng, các vật bằng đồng và sắt đều được biệt riêng cho Đức Giê-hô-va và phải nhập vào kho của Ngài. Từ Hê-bơ-rơ ở đây là kadash, nghĩa là biệt riêng ra thánh. Vì Giê-ri-cô là thành đầu tiên Y-sơ-ra-ên chinh phục trong Đất Hứa, chiến lợi phẩm của thành ấy là phần một phần mười của Đất Thánh, thuộc về Đức Chúa Trời.
A-can đã lấy một phần vàng bạc giấu dưới trại của mình. Tội của A-can không chỉ là trộm cắp — đó là việc lấy điều thánh để dùng cho mục đích phàm tục thường ngày của riêng mình.
Trách nhiệm phân biệt thánh và phàm của các thầy tế lễ
Một nguyên tắc rất rõ trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước là: các thầy tế lễ phải dạy dân sự phân biệt giữa sự thánh và sự phàm. Trên trán của thầy tế lễ thượng phẩm có một mão như vương miện, khắc dòng chữ:
“Thánh cho Đức Giê-hô-va.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 28:36)
Ê-xê-chi-ên 44:23, trong bối cảnh đền thờ, nói rõ hơn:
“Chúng nó sẽ dạy dân ta phân biệt điều thánh và điều chẳng thánh, khiến cho biết điều ô uế và điều thanh sạch.”
Trong Y-sơ-ra-ên xưa có tiền thánh và tiền phàm, có y phục thánh và y phục thường, có ngày thường và ngày thánh, có nơi phàm và nơi thánh, có âm nhạc thánh và âm nhạc thường, có dịp tiện thánh và dịp tiện thường, có chức vụ thánh và nghề nghiệp thường. Các thầy tế lễ có nhiệm vụ giúp dân nhận ra ranh giới rõ ràng đó.
Các thầy tế lễ đã thất bại thảm hại trong nhiệm vụ này. Ê-xê-chi-ên 22:26 lên án:
“Các thầy tế lễ nó phạm luật pháp ta, và làm dơ vật thánh ta; chẳng phân biệt vật thánh và vật chẳng thánh, chẳng khiến người ta phân biệt vật ô uế và vật thanh sạch; nhắm mắt chẳng xem các ngày Sa-bát ta, và ta bị nói phạm giữa chúng nó.”
Hương thánh và lửa thánh
Một vật rất thánh trong đền tạm là hương được đốt trên bàn thờ vàng. Xuất Ê-díp-tô Ký 30:7–9 mô tả công thức đặc biệt của loại hương này — không ai được làm giả công thức ấy để dùng trong môi trường phàm tục, vì hình phạt là sự chết.
“Trên bàn thờ này ngươi chớ dâng hương lạ.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 30:9)
Không phải hương nào cũng giống hương nào trong mắt Đức Chúa Trời. Loại hương thánh này tượng trưng điều gì? Thi Thiên 141:2 nói: “Nguyện lời cầu nguyện tôi thấu đến trước mặt Chúa như hương.” Tuy nhiên, Khải Huyền 8:3 cho thấy hương không là lời cầu nguyện, mà được dâng cùng với lời cầu nguyện của các thánh đồ.
Công thức biểu tượng đầy đủ nhất nằm ở Lu-ca 1:8–10: trong khi Xa-cha-ri đốt hương trong nơi thánh, dân chúng đứng cầu nguyện ở ngoài. Hương được thêm vào lời cầu nguyện. Bà Ellen White trong Selected Messages, quyển 1, trang 329, giải thích:
“Với lời thú tội của tội nhân ăn năn tin cậy, Đấng Christ pha trộn sự công bình của chính Ngài, để lời cầu nguyện của con người sa ngã có thể bay lên như hương thơm trước mặt Cha.”
Vậy hương tượng trưng cho công nghiệp của sự công bình của Đức Chúa Giê-su, là điều khiến lời cầu nguyện chúng ta được Đức Chúa Trời chấp nhận.
Còn lửa tượng trưng cho gì? Trong ngày lễ Ngũ Tuần, các lưỡi như lửa hiện ra. Giăng Báp-tít báo trước rằng Đấng Christ sẽ làm phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh và lửa. Lửa biểu tượng cho Đức Thánh Linh, là Đấng nâng đỡ chúng ta trong sự cầu nguyện như Rô-ma 8:26–27 mô tả.
Lê-vi Ký 9:23–24 ghi rằng lửa từ Đức Giê-hô-va đã ra và thiêu đốt sinh tế trên bàn thờ. Đó là lửa thánh, lửa từ trời. Về mặt vật lý, lửa ấy giống mọi lửa khác — vẫn cháy, vẫn nóng, vẫn có cùng tính chất hóa học. Điều khiến nó thánh chính là vì Đức Chúa Trời đã cho nó từ trời xuống. Đức Chúa Trời truyền các thầy tế lễ chỉ được dùng lửa này để đốt hương.
Na-đáp và A-bi-hu: dâng lửa lạ
Lê-vi Ký 10:1 ghi:
“Na-đáp và A-bi-hu, hai con trai của A-rôn, mỗi người đều cầm lư hương mình, để lửa vào, bỏ hương lên và dâng một thứ lửa lạ trước mặt Đức Giê-hô-va; ấy là điều Ngài không phán dặn họ.”
Vấn đề không nằm ở hương — họ dùng đúng hương. Vấn đề nằm ở lửa. Họ dùng lửa thường thay vì lửa thánh từ bàn thờ. Họ biết rõ điều mình phải làm; đây là sự bất tuân cố ý và là sự chà đạp lên sự thánh khiết của Đức Chúa Trời.
“Một ngọn lửa từ trước mặt Đức Giê-hô-va lòe ra, nuốt tiêu họ và họ chết trước mặt Đức Giê-hô-va.” (Lê-vi Ký 10:2)
Môi-se nói lại với A-rôn lời của Đức Chúa Trời (Lê-vi Ký 10:3): “Ta sẽ được tôn thánh bởi kẻ nào đến gần ta, và được vinh hiển trước mặt cả dân sự.” Đức Chúa Trời không cho phép con người tiếp cận Ngài theo bất cứ cách nào tùy ý. Khi đến trước mặt Ngài, phải tôn trọng những gì Ngài đã biệt riêng làm thánh.
Đức Chúa Trời còn nghiêm khắc đến mức cấm A-rôn và các con trai còn lại để tóc xõa hay xé áo mình tỏ dấu tang chế (Lê-vi Ký 10:6). Nếu họ thương khóc, dân sự sẽ tưởng họ đồng tình với sự bất tuân ấy — như đã từng xảy ra trong cuộc nổi loạn của Cô-rê.
Vì sao Na-đáp và A-bi-hu không phân biệt được thánh và phàm? Lê-vi Ký 10:8–11 trả lời: vì họ đã uống rượu. Lập tức Đức Chúa Trời ra lệnh các thầy tế lễ không được uống rượu khi vào hội mạc, để có thể phân biệt thánh và phàm, và để có thể dạy dân sự các luật pháp của Ngài.
Kinh Thánh cũng cho biết một số lời cầu nguyện bị Đức Chúa Trời từ chối:
“Người nào xây tai không khứng nghe luật pháp, lời cầu nguyện của người ấy cũng là một sự gớm ghiếc.” (Châm Ngôn 28:9)
“Nếu lòng tôi có chú về tội ác, ấy Chúa chẳng nghe tôi.” (Thi Thiên 66:18)
Khi một người cố ý không nghe lời Đức Chúa Trời đã rõ ràng bày tỏ, Đức Chúa Giê-su sẽ không trình lời cầu nguyện ấy lên Đức Chúa Cha.
Bên-xát-sa: xem điều thánh như điều phàm
Na-đáp và A-bi-hu lấy điều phàm dâng làm thánh. Câu chuyện Bên-xát-sa cho thấy mặt còn lại: lấy điều thánh và đối xử như điều phàm.
Đa-ni-ên 5 thuật lại đêm Ba-by-lôn sụp đổ. Đang khi quân xâm lược ở ngoài thành, Bên-xát-sa lại tổ chức một bữa tiệc xa hoa cho một ngàn quan chức. Câu 1 nhấn mạnh chi tiết then chốt: “trước mặt một ngàn người đó vua uống rượu.”
Đang khi say sưa, ông ra lệnh đem các bình vàng bạc mà Nê-bu-cát-nết-sa đã lấy từ đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, để vua, các quan, các vợ và các cung phi cùng uống rượu trong đó. Đó là những bình thánh, biệt riêng cho Đức Chúa Trời. Ông biết rõ nguồn gốc của chúng, nhưng vì say nên không suy xét tỉnh táo.
Kết quả tất nhiên: “Vua và các đại thần, các hoàng hậu và cung phi của vua uống rượu, và ngợi khen các thần bằng vàng, bạc, đồng, sắt, gỗ và đá.” (Đa-ni-ên 5:4) Sự thất bại trong việc phân biệt thánh và phàm đã dẫn thẳng đến sự thờ hình tượng và vi phạm bảng luật pháp thứ nhất.
Từ giờ ấy, ngón tay xuất hiện viết trên tường. Khi Đa-ni-ên đến giải nghĩa, ông nhắc lại sự kiêu ngạo và bảy năm cuồng loạn của Nê-bu-cát-nết-sa, rồi phán:
“Vua đã biết hết các việc ấy, mà lòng vua cũng không chịu nhún nhường chút nào.” (Đa-ni-ên 5:22)
Đây là sự bất tuân cố ý. Cùng nguyên tắc ấy thấy trong câu chuyện U-xa với hòm giao ước, A-na-nia và Sa-phi-ra với của lễ đã hứa dâng, và Ê-li-sê với đám trẻ chế nhạo. Khi Đức Chúa Trời đã làm cho điều gì nên thánh, Ngài rất nghiêm trọng về điều đó.
Bối cảnh cuối cùng: rượu của Ba-by-lôn
Khải Huyền 17 mô tả một người đàn bà điếm ngồi trên nhiều dòng nước, mặc tía và đỏ điều, có những con gái sinh ra từ bà. Trong tay bà có một chén rượu, và bà cho các vua trên đất cùng các dân uống đến mê man. Hậu quả: dân sự thờ hình tượng và chà đạp các điều răn của Đức Chúa Trời.
Rượu này tượng trưng cho điều gì? Trong The Great Controversy, trang 389, bà Ellen White viết:
“Khi các giáo sư trung tín giảng giải Lời Đức Chúa Trời, có những người học thức, những mục sư xưng là hiểu Kinh Thánh, đứng lên tố cáo giáo lý lành mạnh là tà giáo, và bằng cách đó làm cho những người tìm kiếm chân lý quay đi… Tội về sự không ăn năn của thế gian nằm ngay tại cửa của Hội Thánh.”
Rượu của Ba-by-lôn là các giáo lý sai lạc. Đức Chúa Trời có dân sự trong những hệ phái này — những người chân thành kính sợ Ngài — và Ngài kêu họ ra khỏi:
“Hỡi dân ta, hãy ra khỏi Ba-by-lôn, hầu cho khỏi dự phần tội lỗi với nó, cũng đặng khỏi những tai họa nó.” (Khải Huyền 18:4)
Áp dụng vào ngày Sa-bát và Chủ Nhật
Chủ Nhật có thánh không? Sa-bát có thánh không? Ai đã làm cho Chủ Nhật nên thánh? Đó là một thần tượng của thời gian do con người tạo ra.
Vì sao Cơ-đốc Giáo ngày nay tôn cao Chủ Nhật là ngày thánh để thờ phượng và dạy rằng không cần giữ ngày Sa-bát? Vì họ đang uống rượu của người đàn bà điếm. Giáo quyền Rô-ma không hề giấu việc họ đã thay đổi ngày thờ phượng — họ tuyên bố mình đã làm điều ấy bởi quyền hành mà họ cho rằng Đức Chúa Giê-su đã ban cho Hội Thánh.
Theo Kinh Thánh, ngày thứ nhất là một ngày làm việc thông thường, vì “sáu ngày ngươi sẽ làm hết công việc mình; nhưng ngày thứ bảy là ngày Sa-bát của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.” Như vậy, thế gian Cơ-đốc đang lấy một ngày phàm và trình dâng nó như là ngày thánh, đồng thời lấy ngày thánh của Đức Chúa Trời mà đối xử như ngày phàm.
Điều này là sự thờ hình tượng. Đức Chúa Trời tạo nên mặt trời như một vật thể phàm; nếu ai biến mặt trời thành đối tượng thờ phượng, đó là thờ hình tượng. Cũng vậy, Đức Chúa Trời tạo ngày thứ nhất như một ngày làm việc; nếu ai biến ngày ấy thành đối tượng thờ phượng, đó cũng là thờ hình tượng — chỉ khác ở chỗ một thần tượng làm bằng vật chất, còn thần tượng kia làm bằng thời gian.
Bà Ellen White trong Testimonies for the Church, quyển 9, trang 211 viết:
“Vấn đề ngày Sa-bát là vấn đề đòi hỏi nhiều cẩn thận và khôn ngoan trong cách trình bày. Cần nhiều ân điển và quyền năng của Đức Chúa Trời để hạ xuống thần tượng đã được dựng lên dưới hình thức một ngày Sa-bát giả.”
Vậy người chân thành giữ Chủ Nhật mà không biết những điều này có được Đức Chúa Trời chấp nhận không? Đa số tín hữu Cơ-đốc không hề biết chân lý này; họ đến nhà thờ vào Chủ Nhật, tiếp nhận điều các mục sư dạy, rồi về nhà. Khi sự hiểu biết chưa có, Đức Chúa Trời vẫn nghe lời cầu nguyện của họ. Nhưng khi một người đã biết rõ rằng Sa-bát là ngày nghỉ của Đức Chúa Trời mà vẫn cố ý giữ Chủ Nhật vì gia đình, vì bạn bè, vì công việc, thì người ấy chịu trách nhiệm trước Đức Chúa Trời, và lời cầu nguyện ấy trở nên gớm ghiếc.
Bà Ellen White nối thẳng tội của Na-đáp và A-bi-hu với vấn đề này:
“Những kẻ bỏ qua ngày Sa-bát của Chúa để giữ ngày thứ nhất trong tuần là ngày thánh, đang dâng lửa lạ cho Đức Chúa Trời. Đó là một ngày Sa-bát lạ mà Ngài không hề truyền bảo. Loài người đã tìm ra nhiều mưu chước; họ lấy một ngày thường mà Đức Chúa Trời không đặt sự thánh khiết nào trên đó, và khoác cho nó những đặc quyền thiêng liêng… Như Na-đáp và A-bi-hu, họ dâng điều phàm thay cho điều thánh.”
Lời cảnh tỉnh cho chính tín hữu Cơ-đốc Phục Lâm
Ngay trong Hội Thánh Cơ-đốc Phục Lâm, ở một số nơi, chúng ta cũng đã rơi vào cùng một sai lầm như Na-đáp và A-bi-hu. Đức Chúa Trời có quan tâm đến cách chúng ta ăn mặc khi đi nhà thờ không? Chúng ta đến gặp Vua của vũ trụ — phải mặc trang phục đẹp đẽ, sạch sẽ, ủi phẳng, không phải đồ làm việc bẩn thỉu. Người ta sẽ không bao giờ ăn mặc xuềnh xoàng để gặp tổng thống hay đến một sự kiện trọng thể, nhưng đến nhà thờ thì lại thoải mái.
Đức Chúa Trời có quan tâm đến điều chúng ta làm trong ngày Sa-bát không? Việc đi ăn nhà hàng, mang bánh ngọt vào tiền sảnh nhà thờ, câu chuyện chúng ta nói trong ngày Sa-bát — Ngài đều quan tâm. Ngài có quan tâm đến loại nhạc chúng ta nghe không? Có nhạc thánh và có nhạc phàm. Không phải mọi nhạc tôn giáo đều là nhạc thánh chỉ vì có lời tôn giáo.
Một phần mười có thuộc về Đức Chúa Trời không? Khi chúng ta lấy phần mười thánh của Ngài để chi tiêu sinh hoạt thường ngày, Ngài xem đó là việc cá nhân, vì phần ấy đã được biệt riêng cho Ngài.
Không thể chỉ chỉ tay vào những người giữ Chủ Nhật. Nếu chúng ta cũng đang làm những điều này, chúng ta không hề ở vị trí khá hơn. Chúng ta phải học cách phân biệt giữa sự thánh và sự phàm.