Bài 26 / 32

Trong Đền Thờ Của Antichrist (Phần 2)

26. In Antichrist’s Temple Part 2 - Pastor Stephen Bohr - His Way Is In The Sanctuary

Hai quan điểm về Antichrist và bối cảnh II Tê-sa-lô-ni-ca 2

Trong thế giới Cơ-đốc Giáo hiện nay tồn tại hai quan điểm chính về danh tính của Antichrist. Quan điểm thứ nhất cho rằng Antichrist là Antiochus Epiphanes — một nhân vật độc ác đã sống vào khoảng năm 171 TCN trong thời Cựu Ước. Quan điểm thứ hai, được đa số Cơ-đốc nhân bảo thủ chấp nhận, cho rằng Antichrist là một cá nhân trong tương lai sẽ xuất hiện và ngồi trong một đền thờ Do Thái được xây lại sau khi Hội Thánh được cất lên.

Cả hai quan điểm đều có chung một kết luận: Antichrist hoặc đã đến từ quá khứ xa xôi, hoặc chưa đến. Tuy nhiên, qua việc nghiên cứu cẩn thận đoạn văn của sứ đồ Phao-lô trong II Tê-sa-lô-ni-ca 2, chúng ta nhận thấy giai đoạn thứ nhất của Antichrist đã thực sự diễn ra trong lịch sử Hội Thánh. Kinh Thánh dạy rằng Antichrist sẽ ngồi trong đền thờ của Đức Chúa Trời — và đền thờ ấy tượng trưng cho Hội Thánh. Đó là một hệ thống tuyên xưng trung thành với Đức Chúa Giê-su, nhưng thực chất phản bội Ngài.


Kẻ kiềm hãm bí ẩn

Trong II Tê-sa-lô-ni-ca 2:5–6, Phao-lô nhắc các tín hữu rằng họ đã biết về kẻ kiềm hãm đang ngăn cản Antichrist tỏ mình ra. Điều đáng chú ý là sứ đồ không nêu đích danh kẻ kiềm hãm này. Một số Cơ-đốc nhân cho rằng đó là Đức Thánh Linh — khi Đức Thánh Linh được cất đi, Antichrist sẽ tỏ mình ra. Nhưng nếu thật sự là Đức Thánh Linh, Phao-lô đã không gặp khó khăn gì trong việc nêu tên trực tiếp.

Nhà chú giải Kinh Thánh nổi tiếng Albert Barnes nhận xét rằng các Cơ-đốc nhân nguyên thủy tin rằng điều ngăn trở sự nổi lên của con người tội lỗi chính là Đế Quốc Rô-ma. Vì vậy họ cầu nguyện cho sự bình an và phồn thịnh của đế quốc, vì biết rằng khi Đế Quốc Rô-ma bị tan rã và bể ra từng mảnh, đế quốc của con người tội lỗi sẽ trỗi dậy trên đống tro tàn của nó.

Đa-ni-ên 7:23–24 mô tả chính xác diễn tiến này: con thú thứ tư (Rô-ma) sẽ chà đạp toàn trái đất và bể ra từng mảnh; mười sừng là mười vua sẽ trỗi dậy từ vương quốc đó; rồi một sừng khác sẽ trỗi dậy sau chúng và hạ ba vua. Khải Huyền 13:2 cũng cho thấy con rồng (Đế Quốc Rô-ma) trao quyền lực, ngai và thẩm quyền lớn cho con thú — chính là sừng nhỏ của Đa-ni-ên 7.


Lịch sử xác nhận lời tiên tri

Vào thế kỷ thứ tư, Đế Quốc Rô-ma bắt đầu bị các bộ tộc man di từ phương bắc xâm lăng. Đến năm 476, đế quốc này đã bị chia thành mười mảnh, và vị hoàng đế cuối cùng của Tây Rô-ma là Romulus Augustulus đã sụp đổ. Trước đó không lâu, hoàng đế Constantine đã dời thủ đô về Constantinople, để lại miền tây cho các bộ tộc man di.

Sử gia Alexander Clarence Flick trong The Rise of the Medieval Church viết: việc dời thủ đô từ Rô-ma về Constantinople năm 330 đã giải phóng Hội Thánh phương Tây khỏi quyền lực đế quốc, để phát triển hình thức tổ chức riêng. Giám mục Rô-ma, ngồi trên ngai của Caesar, trở thành nhân vật vĩ đại nhất phương Tây và sớm trở thành thủ lĩnh chính trị cũng như thuộc linh.

Sử gia Philip Schaff mô tả khi Tây Rô-ma rơi vào tay quân man di, giám mục Rô-ma — sau này gọi là Giáo Hoàng — là người thừa kế duy nhất còn sót lại của di sản đế quốc, như câu nói của Hobbes: “bóng ma của Đế Quốc Rô-ma đã chết, đội vương miện ngồi trên ngôi mộ của chính nó.” Linh mục Công giáo James P. Conroy thậm chí thừa nhận rằng “vị đại diện của Đấng Christ” đã khiêm cung bước lên ngai của Caesar và cầm lấy vương trượng mà các vua chúa Châu Âu phải cúi đầu kính phục.


Chứng cứ từ các giáo phụ

Các giáo phụ Hội Thánh đầu tiên hiểu rất rõ ai là kẻ kiềm hãm. Tertullian viết khi bình giải II Tê-sa-lô-ni-ca 2: “Vật cản trở là gì nếu không phải là nhà nước Rô-ma? Sự sụp đổ của nó, qua việc bị phân tán thành mười vương quốc, sẽ đưa Antichrist lên trên những đống đổ nát của chính nó.”

Ở một chỗ khác, Tertullian khẳng định: “Sự kết thúc của muôn vật, đe dọa những tai họa khủng khiếp, chỉ bị trì hoãn bởi sự tồn tại tiếp tục của Đế Quốc Rô-ma.” Giáo phụ Ambrose viết: “Sau sự tan rã hay suy tàn của Đế Quốc Rô-ma, Antichrist sẽ xuất hiện.” Chrysostom thì khẳng định: “Khi Đế Quốc Rô-ma bị cất đi, thì Antichrist sẽ đến.”

Giờ đây chúng ta hiểu vì sao Phao-lô không nêu đích danh kẻ kiềm hãm. Nếu ông viết rõ “Đế Quốc Rô-ma sẽ bị cất đi”, ông sẽ bị cáo buộc tội xúi giục nổi loạn chống lại đế quốc, và Cơ-đốc nhân sẽ bị bách hại. Vì vậy ông dùng ngôn ngữ mơ hồ — nhưng các giáo phụ vẫn hiểu ông muốn nói gì.


Vết thương chí mạng và sự phục hồi

Điều thú vị là chính Hồng Y Công giáo Henry Edward Manning, dù không nhận thức được hàm ý, đã viết những lời xác nhận lời tiên tri. Trong The Temporal Power of the Vicar of Đức Chúa Giê-su, ông gọi việc Constantine bỏ Rô-ma là “sự giải phóng cho các Giáo Hoàng”. Ông viết rằng các bộ tộc Goth, Lombard và Hung đã “xóa sạch mọi tàn tích của đế quốc”, và “từ giờ phút giải phóng nhiệm mầu này, khi xích sắt rơi khỏi tay người kế vị Phi-e-rơ, không một quân vương nào đã trị vì tại Rô-ma ngoại trừ vị đại diện của Đấng Christ.”

Manning còn viết rằng chế độ Giáo Hoàng “đã chờ đợi cho đến khi Đức Chúa Trời bẻ gãy xiềng xích của nó và giải phóng nó khỏi sự lệ thuộc vào các quyền lực dân sự”. Đây chính là minh chứng rõ ràng: kẻ kiềm hãm là Đế Quốc Rô-ma, và khi đế quốc bị cất đi, quyền lực Antichrist đã trỗi dậy lấp đầy khoảng trống.

Nhưng Kinh Thánh dạy rằng quyền lực này không chỉ cai trị trong quá khứ. Khải Huyền cho biết vết thương chí mạng — nhận năm 1798 khi Giáo Hoàng bị bắt đi đày tại Pháp và qua đời — sẽ được chữa lành. Linh mục Dòng Tên Malachi Martin viết trên Christianity Today (21 tháng 11, 1986): “Trong hơn 1500 năm, Rô-ma đã giữ bàn tay mạnh mẽ nhất có thể trên mỗi cộng đồng địa phương khắp thế giới.” Nhưng kể từ Cách Mạng Pháp, 200 năm bất hoạt đã bị áp đặt lên chế độ Giáo Hoàng bởi các quyền lực thế tục lớn của thế giới.


Sự kiềm hãm hiện tại sẽ được dỡ bỏ

Bà Ellen White đã cảnh báo trong Great Controversy trang 564: “Hãy để những sự kiềm hãm hiện đang được áp đặt bởi các chính phủ thế tục được dỡ bỏ, và Rô-ma được phục hồi quyền lực trước đây của mình, thì sẽ nhanh chóng có một sự phục hưng của bạo quyền và sự bách hại của bà.”

Ở trang 581, bà viết tiếp: “Rô-ma đang nhắm tái lập quyền lực, để khôi phục địa vị tối cao đã mất. Hãy để nguyên tắc một lần được thiết lập tại Hoa Kỳ rằng Hội Thánh có thể sử dụng hoặc kiểm soát quyền lực của nhà nước, rằng các nghi lễ tôn giáo có thể được thi hành bằng luật dân sự — thì chiến thắng của Rô-ma tại đất nước này được bảo đảm.”

Thậm chí nữ triết gia Ayn Rand năm 1967 đã viết: “Hội Thánh Công giáo chưa bao giờ từ bỏ hy vọng tái lập sự kết hợp thời trung cổ giữa Hội Thánh và nhà nước, với mục tiêu cuối cùng là một nhà nước toàn cầu và một thần quyền toàn cầu… Hội Thánh-nhà nước Rô-ma trong thế kỷ 20 là một định chế đang phục hồi từ một vết thương chí tử. Nếu và khi nó lấy lại được toàn bộ quyền lực và thẩm quyền, nó sẽ áp đặt một chế độ tà ác hơn bất cứ điều gì hành tinh này từng thấy.”


Cuộc chiến cuối cùng quanh luật pháp Đức Chúa Trời

Phao-lô gọi quyền lực này là “sự mầu nhiệm của tội lỗi” và “sự mầu nhiệm của sự gian ác”. Theo I Giăng 3:4, tội lỗi là sự vi phạm luật pháp. Đa-ni-ên 7:25 cho biết quyền lực này sẽ “toan thay đổi luật pháp” của Đức Chúa Trời. Vì vậy Khải Huyền 12:17 mô tả con rồng giận dữ với người nữ và đi đánh trận cùng những kẻ còn lại của dòng dõi bà — “là những kẻ giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và lời chứng của Đức Chúa Giê-su”.

Cuộc tấn công cuối cùng tập trung vào bảng thứ nhất của luật pháp. Quyền lực này ngồi trong đền thờ của Đức Chúa Trời tự xưng là Đức Chúa Trời (vi phạm điều răn thứ nhất); dựng hình tượng và đòi hỏi sự thờ lạy (điều răn thứ hai); báng bổ danh Đức Chúa Trời bằng cách tự xưng có quyền của Ngài (điều răn thứ ba); và tấn công ngày Sa-bát thánh bằng cách tuyên bố đã đổi Sa-bát sang Chủ Nhật (điều răn thứ tư).


Sự lừa dối tột đỉnh: Sa-tan giả mạo Đức Chúa Giê-su

II Tê-sa-lô-ni-ca 2:9 chép: “Sự đến của kẻ vô luật pháp là theo sự hành động của Sa-tan, với mọi quyền phép, dấu lạ, phép kỳ dối giả.” Ba từ “quyền phép, dấu lạ, phép kỳ” cũng được dùng trong Công Vụ Các Sứ Đồ 2:22 để mô tả các phép lạ của Đức Chúa Giê-su. Như vậy Antichrist sẽ thực hiện chính những dấu lạ giống như Đức Chúa Giê-su đã làm — chỉ khác là bởi quyền lực của Sa-tan.

Trong Ma-thi-ơ 24:23–27, Đức Chúa Giê-su cảnh báo: “Vì nhiều christ giả và tiên tri giả sẽ dấy lên, làm những dấu lớn, phép lạ, nếu có thể được thì họ cũng dỗ dành chính những người được chọn… Vì như chớp phát ra từ phương đông, nháng đến phương tây, thì sự Con Người đến cũng thể ấy.”

Bà Ellen White trong Great Controversy trang 624 mô tả khải tượng về sự lừa dối cuối cùng: “Như hành động đỉnh cao trong vở kịch lừa dối lớn, chính Sa-tan sẽ giả mạo Đấng Christ. Hội Thánh từ lâu đã xưng nhận trông đợi sự đến của Đấng Cứu Rỗi như sự thành toàn của hy vọng mình. Bấy giờ kẻ lừa dối lớn sẽ làm cho có vẻ như Đấng Christ đã đến. Tại nhiều nơi trên trái đất, Sa-tan sẽ tỏ mình ra giữa loài người như một thực thể oai nghiêm rực rỡ chói lòa.”

Kẻ giả mạo này sẽ chữa bệnh, ban phước, và rao giảng những lẽ thật ân sủng. Nhưng trong vai Đấng Christ giả mạo, hắn sẽ tuyên bố đã đổi Sa-bát sang Chủ Nhật và truyền lệnh cho mọi người phải tôn vinh ngày mà hắn đã chúc phước. Hắn tuyên bố rằng những kẻ vẫn giữ ngày thứ bảy thánh đang báng bổ danh hắn.


Hai cách phân biệt Đấng Christ thật với kẻ giả mạo

Dân sự của Đức Chúa Trời sẽ không bị lừa dối nhờ hai điều. Thứ nhất, sự dạy dỗ của Đấng Christ giả mạo không phù hợp với Kinh Thánh. Hắn ban phước trên những kẻ thờ lạy con thú và hình tượng nó — chính là hạng người mà Kinh Thánh tuyên bố sẽ chịu cơn thạnh nộ không pha trộn của Đức Chúa Trời.

Thứ hai, Sa-tan không được phép giả mạo cách thức Đức Chúa Giê-su tái lâm. Đức Chúa Giê-su sẽ không chạm đất; Ngài hiện ra trên không trung, mọi mắt sẽ thấy Ngài đồng thời, và dân sự Ngài sẽ được cất lên gặp Ngài. Vì vậy nếu bất kỳ ai dù trông giống Đức Chúa Giê-su, làm phép lạ, đi trên đất và nói những lời đẹp đẽ — nhưng đang đi trên đất — thì đó không phải là Đấng Christ.

Bà Ellen White kết luận: “Chỉ những ai đã siêng năng nghiên cứu Kinh Thánh và đã nhận lấy lòng yêu mến lẽ thật mới được che chở khỏi sự lừa dối quyền năng cầm bắt cả thế giới. Bởi lời chứng của Kinh Thánh, họ sẽ phát hiện ra kẻ lừa dối trong lớp ngụy trang của hắn.”


Lòng yêu mến lẽ thật là vấn đề sống chết

II Tê-sa-lô-ni-ca 2:10–12 giải thích lý do tại sao đa số sẽ bị lừa dối: “Bởi vì họ đã không nhận lãnh sự yêu thương của lẽ thật để được cứu rỗi.” Vì cớ đó, Đức Chúa Trời sẽ “sai đến cho họ một sự lầm lạc lớn để họ tin theo lời nói dối” — và “lời nói dối” ở đây dùng mạo từ xác định, ám chỉ sự tái lâm giả mạo của Đức Chúa Giê-su.

Điều này không có nghĩa Đức Chúa Trời lừa dối ai. Ngài muốn mọi người được cứu. Nhưng khi con người từ chối yêu mến lẽ thật, Ngài rút lui và để họ tin vào điều họ đã chọn. Đức Chúa Giê-su cầu nguyện trong Giăng 17:17: “Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh; lời Cha tức là lẽ thật.” Thi Thiên 119:142 chép: “Sự công bình của Chúa là sự công bình đời đời, luật pháp Chúa là chân thật.”

Vấn đề ở thời kỳ cuối cùng rất đơn giản: bạn có vâng giữ điều răn của Đức Chúa Trời vì lòng yêu mến Ngài không? Bạn có sẵn lòng chết để trung thành với Ngài không — không phải như một kẻ luật pháp chủ nghĩa, mà như một người yêu mến Đức Chúa Giê-su đến nỗi không chịu cúi đầu trước con thú, hình tượng nó, hay nhận dấu của nó?

Giống như Sa-đơ-rắc, Mê-sác và A-bết-Nê-gô — đối với họ, sự trung thành với Đức Chúa Trời và không cúi lạy hình tượng do Nê-bu-cát-nết-sa dựng lên còn quan trọng hơn cả mạng sống. Họ sống bởi mọi lời ra từ miệng Đức Chúa Trời. Khi Đức Chúa Giê-su bị cám dỗ trong đồng vắng, cả ba lần Ngài đều đáp: “Có lời chép rằng…” Đó là tiêu chuẩn duy nhất để xét nghiệm mọi điều — không phải khoa học, không phải triết học, không phải sử gia, mà là lời thánh tuyệt đối của Đức Chúa Trời.