Sự Vỡ Mộng Trong Đền Thánh
Lịch trình thiên thượng và sự chậm hiểu của con người
Khi Đức Chúa Giê-su di chuyển qua đền thánh trên trời, mỗi giai đoạn trong chức vụ của Ngài đều được đánh dấu rõ ràng trong lịch của Đức Chúa Trời. Ngài chịu báp-têm đúng vào thời điểm mà tiên tri bảy mươi tuần lễ trong Đa-ni-ên 9 đã chỉ ra. Ngài chịu chết tại thập tự giá đúng vào lễ Vượt Qua, vào giữa tuần lễ cuối cùng của tiên tri ấy. Ngài bắt đầu chức vụ trung bảo trên trời vào ngày Lễ Ngũ Tuần, đúng năm mươi ngày sau lễ Hoa Quả Đầu Mùa.
Và đến năm 1844, khi Ngài bước vào nơi chí thánh để khởi sự công việc đoán xét, Ngài cũng làm điều ấy đúng vào thời điểm mà Kinh Thánh đã định trước.
Điều đáng chú ý là: mỗi lần Đức Chúa Giê-su mở ra một giai đoạn mới trong chức vụ tại đền thánh, dân sự Ngài lại không thực sự hiểu Ngài đang làm gì. Giăng Báp-tít trông đợi một Đấng Mê-si-a cai trị; khi bị giam, ông phải sai môn đồ đến hỏi Đức Chúa Giê-su có phải là Đấng Christ hay không. Các môn đồ trong tuần lễ thương khó tung hô Ngài làm vua mà không hề biết chỉ vài ngày sau Ngài sẽ chết trên thập tự. Ngay cả vào ngày Lễ Ngũ Tuần, họ vẫn còn hỏi: “Có phải trong lúc nầy Chúa sẽ lập lại nước Y-sơ-ra-ên chăng?”
Vậy tại sao Đức Chúa Giê-su không chờ đến khi dân Ngài hiểu rõ rồi mới hành động? Lý do rất đơn giản: những thời điểm trong lịch của Đấng Mê-si-a đã được khắc vào đá. Chúng được ấn định trước khi Ngài đến thế gian. Ngài phải chịu báp-têm, phải chịu chết, phải khởi sự chức vụ trên trời, và phải mở phiên đoán xét — tất cả đều đúng kỳ. Vì vậy Ngài tiến tới, ngay cả khi dân Ngài chưa hiểu, vì biết rằng họ sẽ bắt kịp về sau.
Cuộc vào thành Giê-ru-sa-lem khải hoàn
Kinh Thánh đã có rất nhiều tiên tri rõ ràng về loại Đấng Mê-si-a sẽ đến lần thứ nhất. Sự dâng Y-sác và con chiên đực thay thế, chiên con của lễ Vượt Qua bị giết vào ngày 14 tháng Ni-san đúng vào ba giờ chiều, lời tiên tri trong Đa-ni-ên 9:26 chỉ chính xác năm Đấng Mê-si-a phải chết, hình bóng tế lễ buổi sáng và buổi chiều trong Xuất Ê-díp-tô Ký 29, người đầy tớ chịu khổ trong Ê-sai 53 — tất cả đều mô tả một Đấng Mê-si-a khiêm nhường, chịu chết để gánh tội lỗi. Chính Đức Chúa Giê-su cũng đã nhiều lần báo trước cho các môn đồ về cuộc thương khó và sự sống lại ngày thứ ba (Ma-thi-ơ 16:21).
Thế nhưng người Do Thái và cả các môn đồ vẫn diễn giải tiên tri theo lối riêng. Họ trông đợi một vị vua sẽ tiêu diệt người Rô-ma và đặt dân Y-sơ-ra-ên lên ngôi cao của thế giới.
Cuộc vào thành khải hoàn được thuật lại trong Ma-thi-ơ 21:1-7 có một mục đích rất rõ ràng. Chỉ chưa đầy một tuần nữa, Đức Chúa Giê-su sẽ chịu chết. Mọi cặp mắt cần phải hướng về Ngài và những gì Ngài sắp làm tại Giê-ru-sa-lem. Và chính Đức Chúa Giê-su là Đấng đứng ra dàn xếp toàn bộ biến cố này: Ngài sai hai môn đồ đi tìm con lừa, Ngài dặn họ phải nói điều gì, Ngài ngồi lên con vật, Ngài cho phép đoàn dân tung hô Ngài làm vua — dù biết rõ họ đang hiểu sai về loại vua mà Ngài sẽ làm.
Làm sao Đức Chúa Giê-su có thể tham dự vào một cảnh tượng như vậy? Câu trả lời là Ngài không chịu trách nhiệm về sự hiểu lầm, vì lời tiên tri đã nói rõ Đấng Mê-si-a phải vào thành trên một con lừa và phải chịu chết. Ngài tiến hành cuộc vào thành chính vì những gì sắp xảy ra trên thập tự giá cần được công bố rộng rãi. Lễ Vượt Qua là dịp người Do Thái từ khắp đế quốc tụ về Giê-ru-sa-lem; sự chết của Ngài cần xảy ra trước mặt họ để họ trở về quê hương mà thuật lại điều đã thấy.
Trong sách Đức Chúa Giê-su Cứu Thế, trang 571, bà Ellen White viết: “Chưa một lần nào trong đời sống trần gian của Ngài, Đức Chúa Giê-su đã cho phép một sự biểu dương như vậy. Ngài thấy rõ kết quả: nó sẽ đưa Ngài đến thập tự giá. Nhưng đó chính là mục đích của Ngài — để công bố chính mình là Đấng Cứu Chuộc, để hướng sự chú ý vào của lễ hy sinh sẽ là vương miện cho sứ mạng của Ngài đối với một thế giới sa ngã.”
Niềm vui ngọt ngào và sự vỡ mộng đắng cay
Đối với những người tham dự, cuộc vào thành khải hoàn là một kinh nghiệm vô cùng ngọt ngào. Ma-thi-ơ 21:8-11 và Lu-ca 19:37-39 mô tả đoàn dân đông đảo trải áo trên đường, chặt nhành cây mà rải, lớn tiếng ngợi khen Đức Chúa Trời rằng: “Đáng ngợi khen Vua nhân danh Chúa mà đến! Bình an ở trên trời và vinh hiển trên các nơi rất cao!” Cả thành đều rúng động.
Nhưng Đức Chúa Giê-su biết rằng họ đang hiểu sai về biến cố. Thời điểm thì đúng — Ngài sẽ là chiên con bị giết vào lễ Vượt Qua — nhưng sự kiện trong tâm trí họ thì sai. Họ trông đợi ngai vàng; Ngài đang đi đến thập tự giá.
Giăng 12:16 cho biết: “Môn đồ trước vốn không hiểu điều đó; nhưng đến khi Đức Chúa Giê-su được vinh hiển, mới nhớ lại những sự đó đã chép về Ngài, và người ta đã làm thành cho Ngài.” Họ chỉ hiểu được sau khi Ngài sống lại, chứ không phải trong lúc đang xảy ra.
Đức Chúa Giê-su có phải là Vua không? Chắc chắn có. Trong tuần lễ cuối cùng, Ngài tuyên bố sẽ truất ngôi kẻ cai trị thế gian này (Giăng 12:30-33). Ngài có cuộc rước khải hoàn, được xức dầu bởi Ma-ri, được đội mão — dù là mão gai — được khoác áo tía như các vua, được người ta quỳ lạy giễu cợt, được trao cây sậy thay vương trượng, được Phi-lát giới thiệu: “Kìa, vua các ngươi!”, và bảng ghi trên thập tự đọc: “Đức Chúa Giê-su người Na-xa-rét, Vua dân Do Thái”. Ngài thật sự là Vua — không phải vua của vương quốc vinh hiển, mà là Vua của vương quốc ân điển.
Thế nhưng chưa đầy một tuần sau, phần đông những kẻ hô “Hô-sa-na” lại gào lên “Đóng đinh nó trên thập tự!”. Đoàn dân theo Ngài bị tan tác, chỉ còn lại một dư đảng nhỏ trốn trong căn phòng cao. Niềm vui ngọt ngào đã hóa cay đắng. Mai-đơ-len khóc bên mộ trống. Hai môn đồ trên đường Em-ma-út thở dài: “Chúng tôi trông mong Ngài sẽ cứu lấy dân Y-sơ-ra-ên” (Lu-ca 24:21).
Đức Chúa Giê-su giải thích sự vỡ mộng bằng Kinh Thánh
Sau sự thất vọng, Đức Chúa Giê-su không an ủi các môn đồ bằng cảm xúc. Ngài đưa họ trở lại với lời tiên tri.
“Hỡi những kẻ dại dột, có lòng chậm tin lời các đấng tiên tri nói! Há chẳng phải Đấng Christ chịu thương khó thể ấy, mới được vào sự vinh hiển mình sao? Đoạn, Ngài bắt đầu từ Môi-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh.” (Lu-ca 24:25-27)
Trong căn phòng cao, Ngài lặp lại phương pháp ấy: “Mọi sự đã chép về ta trong luật pháp Môi-se, các sách tiên tri, cùng các Thi Thiên phải được ứng nghiệm… Đoạn, Ngài mở trí cho môn đồ được hiểu Kinh Thánh” (Lu-ca 24:44-45).
Hai môn đồ ở Em-ma-út đã thốt lên: “Khi nãy đi đường, Ngài nói cùng chúng ta và cắt nghĩa Kinh Thánh, lòng chúng ta há chẳng nóng nảy sao?” (Lu-ca 24:32). Họ đã đúng về thời điểm, nhưng sai về sự kiện. Khi sự sai lầm về sự kiện được sửa lại bởi Kinh Thánh, dư đảng nhỏ này trở thành hạt nhân của Hội Thánh Cơ-đốc, còn Do Thái Giáo — hệ thống tôn giáo đã từng là Hội Thánh của Đức Chúa Trời — thì rơi vào sự bội đạo vì khước từ bước vào nơi thánh cùng với Đấng Mê-si-a.
Tiên tri chỉ thẳng năm 1844
Giữa hai biến cố ấy có một sự tương đồng nổi bật. Đa-ni-ên 7 mô tả sư tử, gấu, beo, rồng, mười sừng, sừng nhỏ cai trị trong 1.260 ngày tiên tri, rồi Đấng Thượng Cổ ngồi xuống và sự đoán xét được mở ra; sau đó Con Người đến trên các đám mây — không phải đến đất, mà đến trước Đấng Thượng Cổ ở trên trời. Chuỗi sự kiện này định ra thời điểm gần đúng cho phiên đoán xét: sau năm 1798.
Đa-ni-ên 8:14 còn cho thời điểm chính xác: “Cho đến hai ngàn ba trăm buổi chiều và buổi mai; sau đó nơi thánh sẽ được tẩy sạch.” Vì sự tẩy sạch đền thánh trong điển lễ Y-sơ-ra-ên xảy ra vào ngày Lễ Chuộc Tội — “ngày mồng mười tháng bảy” theo Lê-vi Ký 23:26-27 — các nhà nghiên cứu đã tính ra ngày 22 tháng 10 năm 1844.
Khải Huyền 14:6-7 cũng tuyên bố “giờ phán xét của Ngài đã đến” sau thời kỳ cai trị 42 tháng của con thú trong Khải Huyền 13. Như vậy, có nhiều lời tiên tri đồng quy chỉ về việc phiên đoán xét trên trời sẽ khởi sự sau năm 1798, cụ thể là năm 1844.
Dựa trên các lời tiên tri ấy, một phong trào thuộc linh lớn đã bùng lên tại Hoa Kỳ và lan ra nhiều xứ — phong trào liên giáo phái và xuyên lục địa được biết đến như cuộc Đại Tỉnh Thức Cơ-đốc Phục Lâm. Người dẫn đầu nổi tiếng nhất là William Miller, một nông dân và cựu chiến binh. Hơn 50.000 người chỉ riêng tại vùng New England đã rao giảng sứ điệp này. Nhưng họ đã mắc cùng một loại sai lầm như các môn đồ ngày xưa: họ đúng về thời điểm, nhưng sai về sự kiện. Họ giảng rằng Đức Chúa Giê-su sẽ trở lại đất vào ngày 22 tháng 10 năm 1844 để tẩy sạch trái đất bằng lửa và lập vương quốc đời đời.
Trong sách Christian Experience and Teachings, trang 50, bà Ellen White — người đã đích thân tham dự phong trào — viết: “Tại mọi miền trong xứ, ánh sáng được ban cho về sứ điệp này, và tiếng kêu đã đánh thức hàng ngàn người… Đó là năm hạnh phúc nhất trong đời tôi.”
Sự Vỡ Mộng Lớn và sự khải thị về nơi chí thánh
Ngày 22 tháng 10 năm 1844 đã đến và đã qua. Đức Chúa Giê-su không trở lại. Niềm vui ngọt như mật đã trở thành đắng cay — đúng như khải tượng trong Khải Huyền 10, khi sứ đồ Giăng nuốt cuốn sách nhỏ: ngọt trong miệng nhưng đắng trong bụng.
Hiram Edson, một trong những người tham dự, đã ghi lại đêm hôm ấy: “Niềm trông mong của chúng tôi được nâng cao tột đỉnh, và chúng tôi chờ đợi Chúa cho đến khi đồng hồ điểm 12 giờ khuya. Ngày đã trôi qua, và sự thất vọng của chúng tôi đã thành sự thật. Mọi hy vọng yêu dấu nhất của chúng tôi đều tiêu tan, và một thần khóc lóc tràn xuống chúng tôi như tôi chưa từng kinh nghiệm… Chúng tôi khóc, khóc mãi cho đến khi trời sáng.”
Đây là những con người đã yêu mến Chúa hết lòng. Họ đã bỏ khoai tây không thu hoạch ngoài đồng vì tin rằng Đức Chúa Giê-su sẽ đến. Họ đã dùng tiền riêng để in sách báo công bố sự đến của Ngài, đã trả nợ cho anh em mình, đã cầu nguyện thâu đêm, đã xưng tội cùng nhau và làm hòa với mọi người. Nhưng hy vọng của họ tan vỡ vì họ đã hiểu sai về tiên tri.
William Miller về sau viết: “Sau khi ngày đã qua, dường như mọi quỷ sứ từ vực sâu được thả ra trên chúng tôi. Cũng những người đã kêu xin sự thương xót hai ngày trước đó, nay đã hòa cùng đám đông mà giễu cợt, lăng mạ và hăm dọa cách phạm thượng nhất.” Đây chính là điều đã xảy ra với các môn đồ sau thập tự giá.
Các hội thánh chính thống thời ấy đồng loạt chối bỏ và trục xuất những người tin sứ điệp 1844. Năm 1842, gia đình Ellen White bị khai trừ khỏi giáo hội Methodist chỉ vì tham dự một buổi nhóm do William Miller giảng. Bà viết trong Spiritual Gifts, quyển 4, trang 232: “Khi Hội Thánh đã khinh bỉ lời khuyên bảo của Đức Chúa Trời mà chối bỏ sứ điệp Cơ-đốc Phục Lâm, Chúa đã chối bỏ họ. Thiên sứ thứ nhất được nối tiếp bởi thiên sứ thứ hai, công bố: ‘Ba-by-lôn đã đổ rồi, đã đổ rồi.’”
Ngày sau cuộc thất vọng, Hiram Edson đi ngang qua một cánh đồng lớn để an ủi anh em mình. Ông kể: “Tôi dừng lại ở giữa cánh đồng. Trời dường như mở ra trước mắt tôi, và tôi thấy rõ ràng: thay vì Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm bước ra khỏi nơi chí thánh của đền thánh trên trời để xuống đất vào ngày mồng mười tháng bảy, ở cuối 2.300 ngày, thì Ngài lại lần thứ nhất bước vào gian thứ hai của đền thánh ấy vào ngày đó, và Ngài có một công việc phải làm trong nơi chí thánh trước khi đến đất.”
Dư đảng nhỏ ấy lập tức quay lại tra xem Kinh Thánh. Họ kinh ngạc nhận ra rằng Đa-ni-ên 7 nói Con Người đến trên các đám mây không phải xuống đất mà đến cùng Đấng Thượng Cổ; rằng Lu-ca 12 cho biết tiệc cưới diễn ra trên trời và Đấng Christ trở về từ tiệc cưới chứ không phải đến tiệc cưới; rằng nơi nào trong Kinh Thánh cũng không gọi trái đất là đền thánh; rằng sách Hê-bơ-rơ dạy Đức Chúa Giê-su đang phục vụ trong đền thánh trên trời. Họ đã đúng về thời điểm; chỉ sai về sự kiện.
Hạt nhân của một Hội Thánh mới
Từ khám phá ấy, dư đảng nhỏ trở thành hạt nhân của Hội Thánh Cơ-đốc Phục Lâm. Khi họ bước vào nơi chí thánh cùng với Đấng Christ, các lẽ thật đặc biệt khác cũng được mở ra: luật pháp của Đức Chúa Trời không bị đóng đinh trên thập tự, vì luật ấy ở trong nơi chí thánh; ngày Sa-bát vẫn còn ràng buộc, vì điều răn ấy nằm giữa luật pháp Đức Chúa Trời; sự đoán xét nghĩa là Đức Chúa Giê-su đang tẩy sạch đền thánh trên trời.
Họ cũng nhận ra rằng người chết thật sự là chết. Vì nếu Đức Chúa Giê-su mới khởi sự đoán xét loài người vào một ngày nhất định trong năm 1844, thì những người đã chết trước đó không thể đã lên thiên đàng hay xuống địa ngục — họ đang an nghỉ trong mồ mả mà chờ đợi sự sống lại.
Như vậy, đúng theo lời tiên tri của Kinh Thánh, Hội Thánh Cơ-đốc Phục Lâm đã được lập nên — không phải bất chấp sự vỡ mộng, mà thông qua nó. Một lần nữa, Đức Chúa Trời đã hoạt động đúng theo lịch của Ngài, dù dân Ngài phải bắt kịp Ngài về sau.