Bài 18 / 32

Sự Thử Thách Của Ma-na

18. The Manna Test - Pastor Stephen Bohr - His Way Is In The Sanctuary

Phép thử của ma-na: lòng vâng phục luật pháp Đức Chúa Trời

Sau khi vượt qua Biển Đỏ và hát bài ca Môi-se trong Xuất Ê-díp-tô Ký 15, dân Y-sơ-ra-ên tiến vào đồng vắng. Tại đó, Đức Chúa Trời sắp đặt một phép thử để xem họ có sẵn lòng vâng giữ luật pháp thánh của Ngài hay không.

Xuất Ê-díp-tô Ký 16:4 chép rõ mục đích của phép thử ấy: Đức Chúa Trời sẽ giáng bánh từ trời xuống, và dân sự phải đi ra lượm một phần nhất định mỗi ngày, “hầu cho ta thử dân sự, coi có vâng theo luật pháp ta hay chăng.”

Từ “ma-na” trong tiếng Hê-bơ-rơ có nghĩa là “vật chi vậy?” — bởi khi thấy thứ bánh lạ rơi trên đất, người Y-sơ-ra-ên chưa từng thấy điều như thế bao giờ và đã thốt lên câu hỏi đó. Đó là bánh mà Đức Chúa Trời ban xuống từ trời.

Dân sự được lệnh đi lượm ma-na sáu ngày trong tuần, ngoại trừ ngày Sa-bát. Qua đó, ta bắt đầu thấy rõ phép thử này liên quan trực tiếp đến việc giữ ngày Sa-bát thứ bảy. Khi một số người ra lượm ma-na vào ngày Sa-bát mà không tìm thấy gì, Đức Chúa Trời phán: “Các ngươi chẳng chịu vâng giữ điều răn và luật pháp ta cho đến chừng nào?” (Xuất Ê-díp-tô Ký 16:28).

Điều đáng chú ý là Đức Chúa Trời nói câu này trước khi Ngài ban Mười Điều Răn tại núi Si-na-i (Xuất Ê-díp-tô Ký 20). Như vậy, ngày Sa-bát đã tồn tại trước khi được công bố long trọng trên núi Si-na-i.


Bình ma-na trong Hòm Giao Ước

Sau khi ban ma-na cho dân Y-sơ-ra-ên, Đức Chúa Trời truyền cho họ phải đổ một ô-me ma-na (khoảng nửa ga-lông) vào một bình bằng vàng và đặt vào bên trong Hòm Giao Ước. Việc đó hẳn phải hết sức quan trọng, vì chỉ có ba vật được giữ trong Hòm Giao Ước:

  • Hai bảng đá Mười Điều Răn
  • Cây gậy của A-rôn đã trổ hoa
  • Bình vàng đựng ma-na

Xuất Ê-díp-tô Ký 16:32–34 chép lời Môi-se truyền cho A-rôn đặt bình ma-na “trước mặt Đức Giê-hô-va, hầu cho được giữ lại cho dòng dõi các ngươi.”

Hê-bơ-rơ 9:1–5 xác nhận điều này khi mô tả nơi Chí Thánh có “cái bình bằng vàng đựng đầy ma-na, cây gậy A-rôn trổ hoa, và bảng giao ước.”

Nhưng có một vấn đề. I Các Vua 8:9, khi nói về Hòm Giao Ước trong đền thờ Sa-lô-môn, lại chép: “Trong hòm chỉ có hai bảng đá mà Môi-se đã để, khi Đức Giê-hô-va lập giao ước với dân Y-sơ-ra-ên.”

Vậy bình ma-na và gậy A-rôn đã đi đâu giữa thời đền tạm trong đồng vắng và thời đền thờ Sa-lô-môn?

Kinh Thánh không hề mâu thuẫn. Bà Ellen White, trong sách Early Writings trang 32, kể lại khải tượng được dẫn vào đền thờ trên trời tại Giê-ru-sa-lem mới. Bà thấy Hòm Giao Ước, và “trong hòm có bình vàng đựng ma-na, gậy A-rôn đã trổ hoa, và các bảng đá xếp lại như một quyển sách.”

Khải Huyền 2:17 cũng gợi ý mạnh mẽ rằng ma-na hiện đang ở trên trời, vì Đức Chúa Giê-su hứa sẽ cho người đắc thắng “ăn ma-na đương giấu kín”. Và ma-na ấy đang được giấu kín trong Hòm Giao Ước trên trời.


Ma-na biểu tượng cho lời Đức Chúa Trời và thân thể Đức Chúa Giê-su

Bài học mà Đức Chúa Trời muốn dạy qua ma-na phải hết sức quan trọng, vì Ngài đã cho đặt nó cùng với Mười Điều Răn trong Hòm Giao Ước.

Trong Giăng 5:39–46, Đức Chúa Giê-su phán với người Do Thái Giáo rằng các sách của Môi-se làm chứng về Ngài: “Vì nếu các ngươi tin Môi-se, cũng sẽ tin ta, bởi ấy là về ta mà người đã chép.”

Phục Truyền Luật Lệ Ký 8:3 cho biết lý do Đức Chúa Trời ban ma-na: “Ngài hạ ngươi xuống, làm cho ngươi bị đói, đoạn cho ăn ma-na… để khiến ngươi biết rằng loài người sống chẳng phải nhờ bánh mà thôi, nhưng loài người sống nhờ mọi lời bởi miệng Đức Giê-hô-va mà ra.”

Ma-na biểu tượng cho lời Đức Chúa Trời.

I Cô-rinh-tô 10:1–4 củng cố điều này. Sứ đồ Phao-lô viết rằng tổ phụ Y-sơ-ra-ên “đều đã ăn một thứ ăn thiêng liêng… vì họ uống nơi một hòn đá thiêng liêng theo mình, và đá ấy tức là Đấng Christ.” Ma-na không chỉ là lương thực vật chất; nó là lương thực thiêng liêng.

Và ai là Lời của Đức Chúa Trời? Giăng 1:1, 14 trả lời: “Ban đầu có Ngôi Lời… Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta.” Ngôi Lời chính là Đức Chúa Giê-su.

Trong Giăng 6:48–50, chính Đức Chúa Giê-su xác nhận: “Ta là bánh của sự sống. Tổ phụ các ngươi đã ăn ma-na trong đồng vắng, rồi cũng chết… Đây là bánh từ trời xuống, hầu cho ai ăn chẳng hề chết.”

Nhưng còn cụ thể hơn nữa. Giăng 6:51 chép: “Bánh mà ta sẽ ban cho vì sự sống của thế gian tức là thịt ta.”

Ma-na biểu tượng cho thân thể của Đức Chúa Giê-su. Đây là chìa khóa cho mọi điều tiếp theo.


Phép lạ ma-na không thối rữa trong ngày Sa-bát

Ma-na phải được lượm sáu ngày, ngoại trừ ngày Sa-bát. Vậy điều gì xảy ra nếu ai đó lượm ma-na ngày thứ Tư rồi để dành sang thứ Năm?

Xuất Ê-díp-tô Ký 16:19–20 chép rằng khi một số người trái lệnh Môi-se mà để dành ma-na đến sáng hôm sau, “thì sanh sâu, có mùi hôi hám.”

Bánh thường không sinh sâu và bốc mùi chỉ sau một đêm. Điều gì sinh sâu và bốc mùi? Xác chết — thịt đang phân hủy.

Nhưng khi ma-na được lượm vào ngày thứ Sáu để dành cho ngày Sa-bát, Xuất Ê-díp-tô Ký 16:23–24 chép một điều phi thường: “Họ để dành đến sáng mai, y như lời Môi-se đã truyền; ma-na chẳng hôi, cũng chẳng có sâu chi hết.”

Ma-na được lượm ngày thứ Sáu cho ngày Sa-bát thì vẫn tươi nguyên trong cả ngày Sa-bát, như khi vừa được lượm. Đức Chúa Trời đang dạy điều gì qua phép lạ này?


Đức Chúa Giê-su chết đúng giờ thứ chín

Để hiểu, ta cần xem ba lời phán cuối của Đức Chúa Giê-su trên thập tự giá.

Ma-thi-ơ 27:46 ghi lời thứ năm: “Ước chừng giờ thứ chín, Đức Chúa Giê-su kêu tiếng lớn lên rằng: Ê-li, Ê-li, lam-ma-sa-bách-ta-ni? nghĩa là: Đức Chúa Trời tôi ơi! Đức Chúa Trời tôi ơi! sao Ngài lìa bỏ tôi?”

Giăng 19:30 ghi lời thứ sáu: “Mọi việc đã được trọn,” rồi Ngài gục đầu xuống.

Lu-ca 23:46 ghi lời thứ bảy: “Hỡi Cha, tôi giao linh hồn lại trong tay Cha!” Nói xong, Ngài tắt hơi.

Giờ thứ chín theo cách tính của người Do Thái là ba giờ chiều (giờ thứ nhất là sáu giờ sáng, giờ thứ mười hai là lúc mặt trời lặn).

Xuất Ê-díp-tô Ký 12:6 cho biết chiên con lễ Vượt Qua phải bị giết “giữa hai buổi chiều” (theo nguyên văn Hê-bơ-rơ) vào ngày 14 tháng Ni-san. Buổi chiều thứ nhất là lúc mặt trời đạt thiên đỉnh và bắt đầu xuống; buổi chiều thứ hai là lúc mặt trời lặn. Ngay giữa hai buổi chiều ấy chính là ba giờ chiều — đúng giờ thứ chín.

Đức Chúa Giê-su, Chiên Con thật của lễ Vượt Qua, đã chết đúng vào giờ ấy. Khi Ngài phán “Mọi việc đã được trọn,” công cuộc cứu rỗi đã được hoàn tất trọn vẹn — một đời sống vô tội để thay cho đời sống tội lỗi của chúng ta, một sự chết để thay cho sự chết mà chúng ta đáng phải chịu.


Đức Chúa Giê-su yên nghỉ trong mộ ngày Sa-bát

Đức Chúa Giê-su được chôn ngay trước khi mặt trời lặn ngày thứ Sáu. Lu-ca 23:54–56 cho thấy trình tự rõ ràng: ngày Ngài chết là ngày sắm sửa, ngày Sa-bát đã gần đến; các phụ nữ chuẩn bị thuốc thơm rồi “ngày Sa-bát, họ nghỉ ngơi theo luật lệ.”

Nhưng đó không phải sự nghỉ ngơi vui mừng — đó là sự bồn chồn, đầy đau buồn. Nếu các môn đồ hiểu được ý nghĩa của ma-na, họ đã có thể nói: “Thầy chúng ta đang yên nghỉ trong mộ sau công việc cứu chuộc, và chúng ta cần yên nghỉ với Ngài trong điều Ngài đã hoàn tất.”

Bà Ellen White, trong bài The Man of Sorrows (24-02-1898), nối kết sự sáng tạo và sự cứu chuộc:

“Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con đã yên nghỉ sau công việc sáng tạo… Sự chết của Đấng Christ đã được định để xảy ra đúng vào thời điểm đó. Theo chương trình của Đức Chúa Trời, công việc mà Đấng Christ phải làm sẽ được hoàn tất vào một ngày thứ Sáu, và vào ngày Sa-bát Ngài sẽ yên nghỉ trong mộ, y như Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con đã yên nghỉ sau khi hoàn tất công việc sáng tạo.”

Như một thi thể bình thường được chôn ngày thứ Sáu sẽ bắt đầu phân hủy, sinh sâu và bốc mùi, thì điều gì đã xảy ra với thân thể Đức Chúa Giê-su?

Thi Thiên 16:8–10 — lời tiên tri Mê-si — chép: “Lòng tôi vui mừng, lưỡi tôi hớn hở. Xác thịt tôi cũng sẽ nghỉ yên ổn. Vì Chúa sẽ chẳng bỏ linh hồn tôi trong âm phủ, cũng không để cho người thánh Chúa thấy sự hư nát.”

Trong Công Vụ Các Sứ Đồ 2:29–33, sứ đồ Phi-e-rơ vào ngày lễ Ngũ Tuần áp dụng lời tiên tri này cho Đức Chúa Giê-su, không phải Đa-vít, vì mộ của Đa-vít vẫn còn đó. “Xác thịt Ngài chẳng thấy sự hư nát… Đức Chúa Trời đã khiến Đức Chúa Giê-su nầy sống lại.”

Thân thể Đức Chúa Giê-su, giống như ma-na được lượm ngày thứ Sáu cho ngày Sa-bát, vẫn tươi nguyên suốt cả ngày Sa-bát trong mộ — không bắt đầu hư nát, không sinh sâu, không bốc mùi. Vì Ngài chính là Ma-na thật.


Tại sao Đức Chúa Giê-su sống lại vào Chủ Nhật

Nhiều Cơ-đốc nhân ngày nay nói rằng Đức Chúa Giê-su sống lại Chủ Nhật để tôn ngày ấy lên thành ngày thánh. Giáo hoàng Gioan Phao-lô II trong thư mục vụ Dies Domini đã liệt kê hàng loạt biến cố xảy ra ngày Chủ Nhật để chứng minh điều đó.

Nhưng dưới ánh sáng của ma-na, ta thấy ngược lại: Đức Chúa Giê-su sống lại ngày Chủ Nhật không phải vì Chủ Nhật quan trọng, mà vì ngày trước Chủ Nhật mới là ngày quan trọng.

Ngài phải yên nghỉ trong mộ vào ngày Sa-bát theo điều răn. Nếu Ngài phải làm trọn hình bóng ma-na bằng cách yên nghỉ trong mộ ngày Sa-bát, thì Ngài đương nhiên phải sống lại ngày kế tiếp — Chủ Nhật. Sự phục sinh ngày Chủ Nhật chính là bằng chứng cho sự thánh khiết của ngày Sa-bát.

Ma quỷ đã làm hết sức để xóa bỏ ngày Sa-bát, vì Sa-bát hướng về Đức Chúa Giê-su là Đấng Tạo Hóa và Đấng Cứu Chuộc của chúng ta. Khi yên nghỉ ngày Sa-bát, chúng ta yên nghỉ vì Ngài đã dựng nên chúng ta, và vì Ngài đã cứu chuộc chúng ta khỏi tội lỗi.

Lập luận tâm lý cho rằng “Sa-bát là ngày buồn, Chủ Nhật là ngày vui” không đứng vững. Đức Chúa Giê-su đã báo trước rằng Ngài sẽ chịu chết và sống lại ngày thứ ba — đáng lẽ Sa-bát phải là ngày trông đợi vui mừng. Hơn nữa, đêm Chủ Nhật phục sinh các môn đồ vẫn chưa tin Ngài đã sống lại — vậy làm sao Chủ Nhật có thể là “ngày vui” cho họ?


Sa-bát trong cõi đời đời

Ngày Sa-bát không chỉ chỉ về sự sáng tạo trong quá khứ và sự cứu chuộc trong hiện tại — nó còn có chiều kích tiên tri. Sa-bát sẽ tiếp tục được giữ trong đất mới.

Ê-sai 66:22–23 chép: “Vì như trời mới đất mới mà ta hầu dựng… cũng vậy, dòng dõi và danh hiệu các ngươi sẽ còn luôn. Từ ngày trăng mới nầy đến ngày trăng mới khác, từ ngày Sa-bát nọ đến ngày Sa-bát kia, mọi xác thịt sẽ đến thờ lạy trước mặt ta.”

Tại sao là “từ trăng mới đến trăng mới”? Khải Huyền 22:1–2 cho biết hai bên sông sự sống có cây sự sống, “mỗi tháng kết quả một lần.” Như vậy chúng ta sẽ đến ăn trái cây sự sống mỗi tháng, và đến thờ phượng Đức Chúa Trời mỗi ngày Sa-bát.

Có người thắc mắc: trong Giê-ru-sa-lem mới làm sao còn có ngày, có tháng, khi không còn mặt trời, mặt trăng? Khải Huyền 21:23 không nói rằng sẽ không có mặt trời và mặt trăng, mà chép: “Thành cũng không cần mặt trời, mặt trăng để soi sáng; vì vinh hiển của Đức Chúa Trời chói lói cho, và Chiên Con là ngọn đèn của thành.” Vinh hiển của Đức Chúa Trời rực rỡ đến nỗi mặt trời và mặt trăng dường như bị che khuất, như Ê-sai 24:23 đã báo trước.


Ma-na làm chứng cho ngày Sa-bát

Trong nơi Chí Thánh của đền tạm, Đức Chúa Trời đặt Hòm Giao Ước với Mười Điều Răn, và bà Ellen White cho biết bà đã thấy trong khải tượng có một vầng hào quang sáng ngời tỏa quanh điều răn về ngày Sa-bát.

Nếu hỏi bằng chứng Kinh Thánh ở đâu, hãy nhìn vào những gì Đức Chúa Trời đặt thêm trong Hòm Giao Ước. Mười Điều Răn đã có sẵn điều răn thứ tư về ngày Sa-bát. Nhưng Đức Chúa Trời còn đặt thêm bình ma-na bên cạnh hai bảng đá, như muốn nói: “Nếu ngươi không hiểu điều ấy qua Mười Điều Răn, hãy hiểu qua ma-na.”

Ma-na nhấn mạnh và làm nổi bật ngày Sa-bát.

Điều này dẫn chúng ta đến biến cố năm 1844. Sau Sự Thất Vọng Lớn, các nhà sáng lập của Hội Thánh Cơ-đốc Phục Lâm đã trở lại với Kinh Thánh và khám phá ra rằng Đức Chúa Giê-su đã bước vào nơi Chí Thánh của đền thờ trên trời. Họ thấy luật pháp Đức Chúa Trời ở trên trời — nghĩa là luật ấy vẫn còn ràng buộc, và điều răn thứ tư về ngày Sa-bát cũng vậy. Họ nhìn cây gậy A-rôn đã trổ hoa — sự sống bởi phép lạ từ điều đã chết — và hiểu rằng sự sống chỉ ở trong Đấng Christ. Họ khám phá ra giáo lý về sự đoán xét. Từng chân lý đặc biệt của đức tin Cơ-đốc Phục Lâm dần được tỏ ra khi họ bước vào nơi Chí Thánh của đền thờ trên trời.