Lời Tiên Tri Bảy Mươi Tuần Lễ (Phần 2)
Ôn lại lời tiên tri Bảy Mươi Tuần Lễ
Trong bài học trước, chúng ta đã khảo sát phần đầu của lời tiên tri Bảy Mươi Tuần Lễ. Lời tiên tri này khởi đầu từ thời điểm có sắc lệnh ra đi để khôi phục và xây dựng lại Giê-ru-sa-lem. Có bốn sắc lệnh liên quan đến Giê-ru-sa-lem: sắc lệnh của Si-ru năm 536 TCN, sắc lệnh của Đa-ri-út năm 520 TCN, sắc lệnh của Ạt-ta-xét-xe Đệ Nhất năm 457 TCN, và một sắc lệnh tái xác nhận năm 445 TCN.
Hai sắc lệnh đầu chỉ cho phép xây dựng lại đền thờ chứ không phải toàn thành. Sắc lệnh năm 445 TCN thì quá muộn và chỉ là sự tái xác nhận. Chỉ có sắc lệnh của Ạt-ta-xét-xe năm 457 TCN đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn của Kinh Thánh. Sắc lệnh này dùng cùng một chữ Hê-bơ-rơ dabar (mệnh lệnh) như trong Đa-ni-ên 9, có niên đại phù hợp cho lời tiên tri Mê-si, và là sắc lệnh duy nhất cho phép người Do Thái tái lập trật tự chính trị và xã hội của họ.
Bảy tuần lễ đầu tiên — tức 49 năm — là thời gian khôi phục và xây dựng lại Giê-ru-sa-lem trong cảnh khốn khó, như sách E-xơ-ra ghi lại. Sau 62 tuần lễ kế tiếp, Đấng Mê-si — nghĩa là Đấng được xức dầu — sẽ đến. Đức Chúa Giê-su được xức dầu bởi Đức Thánh Linh khi Ngài chịu báp-têm vào mùa thu năm 27 SCN, đúng 483 năm sau sắc lệnh năm 457 TCN.
Đấng lập một giao ước mạnh mẽ
Đa-ni-ên 9:27 chép: “Người sẽ lập giao ước vững bền với nhiều người trong một tuần lễ.” Nhiều bản dịch hiện đại — như English Standard Version, New American Standard Bible, RSV và Young’s Literal Translation — đều dịch là “giao ước mạnh” (a strong covenant) thay vì chỉ là “giao ước.” Điều này quan trọng, vì từ trái nghĩa của “mạnh” là “yếu.”
Vì sao giao ước mà Đấng Mê-si lập trong tuần lễ cuối cùng lại được gọi là “mạnh”? Để hiểu lý do, cần đọc Hê-bơ-rơ 7:18–19:
“Vì điều răn trước kia bị bỏ vì sự yếu đuối và vô ích — vì luật pháp không làm trọn được điều gì — và có một sự trông cậy hay hơn được đem vào, để chúng ta đến gần Đức Chúa Trời.”
Luật pháp ở đây không phải là Mười Điều Răn, mà là luật về thầy tế lễ và các nghi lễ dâng tế. Hê-bơ-rơ 7:28 lặp lại từ “yếu đuối” khi nói về các thầy tế lễ thượng phẩm theo luật cũ, đối lập với Đức Con đã được “làm nên trọn vẹn đời đời.”
Khi Đức Chúa Giê-su lập Tiệc Thánh thay cho Lễ Vượt Qua, Ngài phán trong Ma-thi-ơ 26:28: “Vì đây là huyết Ta, huyết của giao ước mới, đổ ra cho nhiều người được tha tội.” Hãy chú ý từ “nhiều người” — chính là từ được dùng trong Đa-ni-ên 9:27. Hê-bơ-rơ 8:6 xác nhận rằng Đức Chúa Giê-su là “Đấng trung bảo của một giao ước tốt hơn, lập lên trên những lời hứa tốt hơn.” Huyết của bò đực và dê đực không thể cất tội lỗi đi, nhưng huyết của Đức Chúa Giê-su giải quyết tội lỗi một lần đủ cả.
Thời kỳ ân điển kéo dài thêm ba năm rưỡi
Đức Chúa Giê-su lập giao ước mạnh với nhiều người trong trọn một tuần lễ — tức bảy năm. Điều này có nghĩa là thời kỳ ân điển dành cho dân Do Thái không kết thúc khi Đức Chúa Giê-su bị đóng đinh, vì lúc đó mới chỉ là giữa tuần lễ cuối cùng. Còn ba năm rưỡi nữa.
Trong Ma-thi-ơ 23:34, chỉ vài ngày trước khi chịu chết, Đức Chúa Giê-su phán: “Vậy nên, nầy, Ta sai các đấng tiên tri, kẻ khôn ngoan, và thầy thông giáo đến cùng các ngươi; trong những người ấy, kẻ thì các ngươi sẽ giết và đóng đinh trên thập tự giá, kẻ thì các ngươi sẽ đánh đập trong nhà hội mình, và đuổi bắt từ thành nầy qua thành kia.” Sau khi sai thêm những sứ giả này, bản án mới được tuyên: “hầu cho hết thảy huyết người công bình đổ ra trên đất… đều đổ về các ngươi.”
Đức Chúa Giê-su cũng cho biết chính xác thời điểm Đấng Mê-si sẽ bị trừ đi: “vào giữa tuần lễ.” Giữa tuần lễ cuối cùng — giữa năm 27 và năm 31 SCN — Ngài sẽ “khiến của lễ và lễ vật chấm dứt.”
Của lễ và lễ vật chấm dứt khi Chiên Con thật bị giết
Một chi tiết rất đáng chú ý: bản gốc Hê-bơ-rơ dùng số ít — “của lễ” và “lễ vật” — chứ không phải số nhiều. Vì sao? Đức Chúa Giê-su chết vào đúng tháng, đúng ngày, và đúng giờ mà chiên con Lễ Vượt Qua được dâng: vào giờ thứ chín, ngày 14, tháng Ni-san.
Khi Đức Chúa Giê-su chết, theo Ma-thi-ơ 27:51, “bức màn trong đền thờ bị xé ra làm hai từ trên chí dưới.” Hướng xé từ trên xuống dưới cho thấy chính Đức Chúa Trời đã làm việc ấy. Toàn bộ hệ thống của lễ đã chấm dứt.
Ellen White viết trong Desire of Ages trang 757:
“Mọi sự đều là kinh hoàng và hỗn loạn. Thầy tế lễ sắp giết con sinh tế, nhưng con dao rơi khỏi bàn tay tê liệt của ông, và con chiên thoát đi.”
Con chiên thoát đi vào chính lúc Đức Chúa Giê-su chết — “hình bóng đã gặp thực tại” trong sự chết của Con Đức Chúa Trời. Người Do Thái vẫn tiếp tục dâng tế lễ sau đó, nhưng những tế lễ ấy hoàn toàn vô nghĩa. Của lễ và lễ vật — số ít — đã chấm dứt vào ngày hôm đó vì chiên con thật đã thoát khỏi tay thầy tế lễ.
Sự tàn phá Giê-ru-sa-lem và sự gớm ghiếc tàn nát
Ngay sau khi nói về việc chấm dứt của lễ, Đa-ni-ên 9:27 nói đến sự tàn phá Giê-ru-sa-lem: “trên cánh của những điều gớm ghiếc, sẽ có kẻ làm cho hoang tàn.” Hai chữ chìa khóa “gớm ghiếc” và “hoang tàn” cũng xuất hiện trong Ma-thi-ơ 24:15–16, khi Đức Chúa Giê-su cảnh báo: “Khi các ngươi sẽ thấy sự gớm ghiếc tàn nát… đứng trong nơi thánh, thì những kẻ ở trong xứ Giu-đê hãy trốn lên núi.”
Lu-ca 21:20 là phân đoạn song song và làm rõ ý nghĩa: “Khi các ngươi sẽ thấy quân lính vây Giê-ru-sa-lem, hãy biết sự tàn phá thành ấy gần đến.” Quân La-mã chính là sự gớm ghiếc tàn nát đó. Khi Đức Chúa Giê-su rời đền thờ, Ngài phán trong Ma-thi-ơ 23:38: “Nhà các ngươi sẽ bỏ hoang.” Cùng một chữ Hê-bơ-rơ — “hoang tàn” — được dùng trong Đa-ni-ên 9:27. Sự tàn phá Giê-ru-sa-lem là hậu quả trực tiếp của việc dân Do Thái đã chối bỏ Đấng Mê-si.
Ê-tiên — vị tiên tri cuối cùng cho dân Y-sơ-ra-ên
Đa-ni-ên 9:24 chép rằng trong Bảy Mươi Tuần Lễ, “sự hiện thấy và lời tiên tri” sẽ được “đóng ấn” — cùng một chữ Hê-bơ-rơ hatham được dùng trong câu ấy với nghĩa “chấm dứt tội lỗi.” Điều này có nghĩa là khải tượng và lời tiên tri dành cho dân Y-sơ-ra-ên theo nghĩa đen sẽ chấm dứt vào cuối thời kỳ này.
Vai trò của các tiên tri trong Cựu Ước là kêu gọi Y-sơ-ra-ên ăn năn. Họ thường ôn lại lịch sử ân điển của Đức Chúa Trời với dân Ngài và để cánh cửa thương xót còn mở. Nhưng khi Ê-tiên đứng trước tòa công luận trong Công Vụ Các Sứ Đồ 7, ông cũng ôn lại lịch sử Y-sơ-ra-ên giống các tiên tri xưa — nhưng không hề kêu gọi ăn năn.
Hãy chú ý sự thay đổi đại từ trong bài giảng của Ê-tiên. Suốt phần lớn chương 7, ông gọi tổ phụ Y-sơ-ra-ên là “tổ phụ chúng ta.” Nhưng đến câu 52, giọng điệu thay đổi: “Hãy nói cho tôi, có đấng tiên tri nào mà tổ phụ các ngươi chẳng bắt bớ?” Ê-tiên tự tách mình khỏi di sản của những kẻ giết các đấng tiên tri. Đức Chúa Giê-su cũng làm điều tương tự trong Ma-thi-ơ 23:32: “Vậy thì hãy làm cho đầy dẫy cái lượng của tổ phụ các ngươi!”
Sự lặp lại của lịch sử trong cái chết của Ê-tiên
Cái chết của Ê-tiên gần như là hình ảnh phản chiếu cái chết của Đức Chúa Giê-su:
- Cả hai đều bị đưa ra trước tòa công luận Do Thái.
- Cả hai đều bị các nhân chứng giả tố cáo.
- Cả hai đều ôn lại lịch sử Y-sơ-ra-ên trong lời biện hộ của mình.
- Cả hai đều bị phản bội bởi tiền hối lộ.
- Cả hai đều bị tố cáo nói nghịch Môi-se và đền thờ.
- Cả hai đều cầu nguyện xin tha thứ cho kẻ bách hại mình.
- Cả hai đều bị giết bên ngoài thành.
- Kinh Thánh chứng nhận sự vô tội của cả hai — Phi-lát phán “Ta không tìm thấy người nầy có tội gì” và mặt Ê-tiên “như mặt một thiên sứ.”
Dù đã ba năm rưỡi sau khi Đức Chúa Giê-su chịu đóng đinh, lòng các nhà lãnh đạo Do Thái không hề thay đổi. Trong Công Vụ Các Sứ Đồ 7:55–56, Ê-tiên “đầy dẫy Đức Thánh Linh, mắt ngó chăm lên trời, thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Giê-su đứng bên hữu Đức Chúa Trời.” Đây là khải tượng cuối cùng được ban cho một tiên tri của Y-sơ-ra-ên theo nghĩa đen. Khi Ê-tiên thuật lại khải tượng ấy, người ta “cắn răng nghiến lợi nghịch cùng người” và ném đá ông bên ngoài thành.
Sứ điệp chuyển sang dân ngoại
“Các kẻ làm chứng lấy áo xống mình để dưới chân một người trẻ tuổi tên là Sau-lơ” (Công Vụ Các Sứ Đồ 7:58). Đó là khoảnh khắc thể chế thần quyền của Y-sơ-ra-ên đã chấm dứt. Đức Chúa Trời đã chọn Y-sơ-ra-ên để chuẩn bị thế giới cho sự đến của Đấng Mê-si. Họ đã không hoàn thành sứ mạng đó. Vì vậy sứ điệp giờ đây phải đến với thế giới dân ngoại — và Đức Chúa Trời đã có sẵn người chiến sĩ cho dân ngoại: Sau-lơ thành Tạt-sơ.
Trong dụ ngôn về vườn nho, Đức Chúa Giê-su đã báo trước: “Nước Đức Chúa Trời sẽ cất khỏi các ngươi, mà cho một dân khác là dân sẽ có kết quả của nước đó.” Trong Công Vụ Các Sứ Đồ 22:20–21, chính Phao-lô làm chứng: “Khi Ê-tiên là kẻ làm chứng cho Chúa bị đổ huyết, tôi cũng có mặt tại đó, đành lòng về sự đó… Chúa phán cùng tôi rằng: Hãy đi, vì Ta toan sai ngươi đi đến cùng dân ngoại ở nơi xa.”
Cấu trúc của sách Công Vụ Các Sứ Đồ làm chứng cho điều này. Trong sáu chương đầu, công việc của các sứ đồ chỉ tập trung tại Giê-ru-sa-lem và Giu-đê. Sau khi Ê-tiên bị ném đá ở chương 7, Tin Lành lan đến Sa-ma-ri trong chương 8, Sau-lơ được hoán cải trong chương 9, và từ chương 10 trở đi, Tin Lành đến với dân ngoại.
Bốn trăm chín mươi năm và lời tiên tri 2300 ngày
Khi Phao-lô và Ba-na-ba được phong chức và đi truyền giáo tại An-ti-ốt thuộc Bi-si-đi, dân ngoại đến đông đảo và xin nghe Lời Chúa vào ngày Sa-bát kế tiếp. Người Do Thái thấy vậy thì ghen tị và phạm thượng. Phao-lô và Ba-na-ba đáp trong Công Vụ Các Sứ Đồ 13:46–47: “Lời Đức Chúa Trời cần phải truyền cho các ngươi trước; nhưng vì các ngươi đã từ chối, và tự xét mình không xứng đáng nhận sự sống đời đời, nên đây nầy, chúng ta mới xây qua dân ngoại. Vì Chúa có phán dặn chúng ta như vầy: Ta đã lập ngươi lên đặng làm sự sáng cho các dân, hầu cho ngươi đem sự cứu rỗi cho đến cùng cõi đất.”
Lời Đức Chúa Trời phải đến với người Do Thái trước, vì họ có đúng 70 tuần lễ. Lời tiên tri 2300 ngày bắt đầu vào năm 457 TCN. Đi tới 69 tuần lễ — tức 483 năm — đưa ta đến năm 27 SCN. Thêm một tuần lễ nữa, ta đến năm 34 SCN. Đó là 490 năm đầu tiên được “cắt khỏi” 2300 ngày dành riêng cho dân Y-sơ-ra-ên.
Để biết khi nào nơi thánh sẽ được tẩy sạch, chỉ cần làm phép tính đơn giản: 2300 trừ 490 bằng 1810. Đi từ năm 34 SCN thêm 1810 năm sẽ dẫn đến chính xác năm 1844 SCN.
Gần như toàn bộ thế giới Tin Lành đã lấy tuần lễ cuối cùng của lời tiên tri này — vốn ứng nghiệm trên Đấng Christ — và áp dụng cho một antichrist tương lai sau sự cất hội thánh. Thật là một việc nghiêm trọng khi lấy một lời tiên tri ứng nghiệm trên Đức Chúa Giê-su mà gán cho antichrist. Bằng cách đẩy lời tiên tri này về tương lai, ma quỷ đã giải tội cho dân Do Thái khỏi tội ác đóng đinh Đấng Mê-si, và giải tội cho Hội Thánh Rô-ma khỏi sự bách hại thân thể Đức Chúa Giê-su trong 1260 năm Trung Cổ. Trong khi mọi người nhìn về Trung Đông, lời tiên tri đang được ứng nghiệm tại Rô-ma và Hoa Kỳ — và không ai thấy được, vì họ đang nhìn nhầm chỗ.