Bài 14 / 32

Ba Giai Đoạn Lịch Sử Y-sơ-ra-ên

14. Three Stages of Israel’s history - Pastor Stephen Bohr - His Way Is In The Sanctuary

Giao ước tại núi Si-na-i

Vào năm 1445 TCN, dân Y-sơ-ra-ên vừa được giải cứu khỏi ách nô lệ tại Ê-díp-tô và đến chân núi Si-na-i. Tại đó, Đức Chúa Trời gọi Môi-se lên núi để truyền một sứ điệp đặc biệt cho dân sự, được ghi lại trong Xuất Ê-díp-tô Ký 19:1–6.

Đức Chúa Trời nhắc cho dân sự nhớ rằng chính Ngài đã đem họ ra khỏi tay Pha-ra-ôn trên cánh chim ưng và đem họ đến với Ngài. Sau đó Ngài đặt ra một điều kiện rõ ràng:

“Vậy bây giờ, nếu các ngươi vâng lời ta và giữ sự giao ước ta, thì trong muôn dân, các ngươi sẽ thuộc riêng về ta… các ngươi sẽ thành một nước thầy tế lễ, cùng một dân tộc thánh cho ta.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:5–6)

Sự lựa chọn dân Y-sơ-ra-ên có điều kiện hay không? Hoàn toàn có. Điều kiện ấy là sự vâng phục giao ước. Đức Chúa Trời muốn họ trở thành kho báu đặc biệt của Ngài, làm thầy tế lễ cho các nước và rao truyền Tin Lành ra cả thế giới.

Môi-se xuống núi và thuật lại sứ điệp cho các trưởng lão. Toàn dân đồng thanh đáp: “Chúng tôi xin làm mọi việc Đức Giê-hô-va đã phán dặn” (Xuất Ê-díp-tô Ký 19:8). Giao ước đã được lập.

Giao ước này được niêm phong khi đền tạm hoàn tất và vinh quang Shekinah của Đức Chúa Trời ngự xuống đầy dẫy đền tạm (Xuất Ê-díp-tô Ký 40:34). Về sau, khi vua Sa-lô-môn xây xong đền thờ năm 960 TCN, vinh quang ấy lại một lần nữa đầy dẫy nơi thánh, xác nhận rằng Đức Chúa Trời đang ngự giữa dân Ngài (1 Các Vua 8:10–11).


Tám trăm năm bội nghịch

Từ năm 1445 TCN trở đi, suốt khoảng 800 năm, dân Y-sơ-ra-ên liên tục phản nghịch chống lại Đức Chúa Trời và giao ước, dù Ngài liên tiếp sai sứ giả này đến sứ giả khác kêu gọi họ trở về.

Sách 2 Sử Ký 36:14–16 ghi lại tóm tắt bi thảm này: các thầy tế lễ trưởng và dân sự ngày càng bội nghịch, làm theo mọi sự gớm ghiếc của các dân ngoại bang và làm ô uế đền thờ. Đức Chúa Trời thương xót, sai sứ giả đến cảnh cáo từ sớm; nhưng họ chế nhạo các sứ giả, khinh bỉ lời Ngài, và nhạo báng các đấng tiên tri của Ngài cho đến khi cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi lên và không còn phương cứu chữa.

Giao ước mà Đức Chúa Trời lập với Y-sơ-ra-ên tại Si-na-i thực chất là một giao ước hôn nhân. Trong Giê-rê-mi 31:32, chính Đức Chúa Trời phán rằng Ngài đã làm chồng họ. Nhưng tiên tri này tới tiên tri khác đều tố cáo rằng Y-sơ-ra-ên đã chơi trò đàng điếm, chạy theo các sự gớm ghiếc của các dân tộc.

“Nhưng ngươi cậy sắc đẹp mình; cậy danh tiếng mình mà buông sự dâm dục, hành dâm cùng mọi kẻ trải qua.” (Ê-xê-chi-ên 16:15)

Các tiên tri trở thành những vị luật sư của Đức Chúa Trời tại tòa ly hôn, công bố rằng Ngài muốn rút khỏi giao ước vì cô dâu đã phạm tội ngoại tình thuộc linh với các dân tộc.


Sự đoán phạt và sự lìa khỏi của vinh quang

Đến cuối 800 năm bội nghịch ấy, vào năm 592 TCN, Đức Chúa Trời quyết định đến đền thờ tại Giê-ru-sa-lem để thi hành sự đoán phạt. Ê-xê-chi-ên 1:4 mô tả khải tượng về một cơn gió lốc từ phương bắc, một đám mây lớn với lửa hừng cháy và ánh sáng chói lòa — đó chính là sự ngự đến của Đức Chúa Trời.

Ê-xê-chi-ên 8 cho thấy lý do của cuộc đoán phạt: nhiều sự gớm ghiếc đang được thực hành ngay trong đền thờ. Tại đỉnh điểm của tội lỗi, các nhà lãnh đạo tôn giáo quay lưng lại với đền thờ của Đức Chúa Trời, mặt hướng về phía đông và thờ lạy mặt trời.

Trong Ê-xê-chi-ên 9, Đức Chúa Trời ra lệnh cho người mặc vải gai — biểu tượng của Đức Chúa Giê-su, Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm — đi khắp Giê-ru-sa-lem và đặt dấu trên trán những ai than thở và rên rỉ vì mọi sự gớm ghiếc. Những người được đánh dấu được chừa lại; sáu người mang khí giới hủy diệt được lệnh giết hết những kẻ còn lại, và sự hủy diệt khởi đầu từ chính nơi thánh.

Sau khi công việc phân rẽ người công chính khỏi kẻ gian ác hoàn tất, vinh quang Shekinah lìa khỏi đền thờ. Ê-xê-chi-ên 10:19 mô tả các chê-ru-bim cất cánh bay lên, dừng lại tại cửa đông của nhà Đức Giê-hô-va. Rồi trong Ê-xê-chi-ên 11:22–23, vinh quang lên khỏi giữa thành và đứng lại trên hòn núi ở phía đông thành — chính là núi Ô-li-ve. Hãy ghi nhớ chi tiết này, vì nó vô cùng quan trọng.

Khi vinh quang đã rời đi, sự gớm ghiếc dẫn đến sự hoang tàn. Đó chính là cụm từ “sự gớm ghiếc tàn nát” mà sau này Đức Chúa Giê-su sẽ trích dẫn. 2 Sử Ký 36:17–21 ghi lại cuộc xâm lăng của vua Canh-đê: thành bị đốt, đền thờ bị phá, các báu vật bị đem qua Ba-by-lôn, và những người sống sót bị bắt làm phu tù trong 70 năm — cho đến khi đất được hưởng các ngày Sa-bát của nó.


Cơ hội thứ hai: bảy mươi tuần lễ

Sau 70 năm phu tù, Đức Chúa Trời lại ban cho Y-sơ-ra-ên một cơ hội thứ hai. 2 Sử Ký 36:22–23 ghi lại sắc lệnh của Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, cho phép dân Do Thái trở về Giê-ru-sa-lem để xây lại nhà của Đức Chúa Trời.

Khoảng 50.000 người Do Thái hồi hương để tái thiết đền thờ. Tuy nhiên, người Sa-ma-ri chống đối, công việc bị đình trệ khoảng 16 năm vì dân sự lo xây dựng và trang trí nhà riêng. A-ghê và Xa-cha-ri đã đứng dậy thúc giục dân sự bắt tay vào việc, và từ năm 520 đến năm 515 TCN, đền thờ thứ hai được hoàn tất và cung hiến.

Nhưng đền thờ này có một vấn đề nghiêm trọng: vinh quang Shekinah không ngự xuống đầy dẫy như đã xảy ra trong đền tạm và đền thờ Sa-lô-môn. A-ghê 2:2–3 ghi lại nỗi xót xa của những người còn nhớ đền thờ trước đây — so với vinh quang xưa, đền thờ mới này dường như chẳng ra gì.

Dầu vậy, Đức Chúa Trời đã hứa qua A-ghê:

“Ta sẽ làm rúng động hết thảy các nước; và những sự ao ước của các nước hầu đến… Ta sẽ làm cho vinh quang đầy dẫy nhà nầy… Vinh quang sau rốt của nhà nầy sẽ lớn hơn vinh quang trước.” (A-ghê 2:6–9)

Dân Do Thái cho đến ngày nay vẫn không thể giải thích được lời tiên tri này, vì họ trông đợi vinh quang Shekinah theo cách hữu hình — và nó không bao giờ trở lại đền thờ thứ hai.

Trong giai đoạn thứ hai này — giai đoạn 70 tuần lễ — Đức Chúa Trời sai nhiều sứ giả: A-ghê, Xa-cha-ri, Giô-suê, Xô-rô-ba-bên, E-xơ-ra, Nê-hê-mi, Ma-la-chi, và cuối cùng là Giăng Báp-tít. Câu hỏi đặt ra là: Y-sơ-ra-ên đã đáp ứng cơ hội thứ hai này thế nào? Khi Đức Chúa Giê-su đến với chính dân Ngài, họ đã không tiếp nhận Ngài.


Vinh quang sống ngự vào đền thờ

Giai đoạn thứ ba của lịch sử Y-sơ-ra-ên bắt đầu khi Đức Chúa Giê-su đến trong tuần lễ cuối cùng của lời tiên tri 70 tuần lễ. Giăng 1:14 chính là lời giải thích cho lời tiên tri của A-ghê:

“Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha.”

Trong nguyên ngữ, từ “ở” có nghĩa là “đóng trại” hoặc “dựng đền tạm”. Vinh quang đến vào đền thờ thứ hai chính là Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc — nhưng dân Do Thái đã không nhận ra Ngài.

Trong Lu-ca 19:37–38, khi Đức Chúa Giê-su từ núi Ô-li-ve xuống và tiến vào Giê-ru-sa-lem qua cổng phía đông — cổng vàng — đám đông môn đồ vui mừng ngợi khen Đức Chúa Trời:

“Đáng ngợi khen Vua nhân danh Chúa mà đến! Bình an ở trên trời, và vinh hiển trên các nơi rất cao!”

Đây chính là lời ứng nghiệm cho lời hứa của A-ghê về sự bình an trong nơi này. Tuy nhiên, các thầy tế lễ trưởng, các thầy thông giáo và các nhà lãnh đạo tìm cách giết Ngài (Lu-ca 19:47–48). Vấn đề không nằm ở dân chúng mà ở các nhà lãnh đạo tôn giáo.

Khi Đức Chúa Giê-su vào đền thờ trong Ma-thi-ơ 21:12–13, Ngài gọi đó là “nhà Ta”. Vào lúc ấy, đền thờ vẫn còn là đền thờ của Đức Chúa Trời. Ngài đuổi những kẻ buôn bán và lật đổ bàn của những người đổi bạc, tuyên bố:

“Có lời chép: Nhà Ta sẽ gọi là nhà cầu nguyện; nhưng các ngươi thì làm cho nhà ấy thành ra ổ trộm cướp.”


Các ẩn dụ về sự kết thúc

Trong sân đền thờ, Đức Chúa Giê-su kể nhiều ẩn dụ — và mỗi ẩn dụ đều mô tả lịch sử bội nghịch của Y-sơ-ra-ên. Ẩn dụ về cây vả mà Ngài rủa cho khô đi tận rễ (Ma-thi-ơ 21:18–19) là một ẩn dụ bằng hành động: cây vả tượng trưng cho Y-sơ-ra-ên, và sự khô héo tận rễ cho thấy thời kỳ ân điển đối với dân tộc này sẽ chấm dứt mà không có phương cứu chữa.

Ẩn dụ về những người làm vườn nho trong Ma-thi-ơ 21:33–43 cho thấy rõ ba giai đoạn lịch sử Y-sơ-ra-ên. Người chủ vườn là Đức Chúa Cha; vườn nho là Giê-ru-sa-lem; hàng rào là luật pháp; tháp canh là đền thờ; những người làm vườn là Y-sơ-ra-ên.

Người chủ sai nhóm đầy tớ thứ nhất — đó là các tiên tri như Ê-sai và Giê-rê-mi trước cuộc lưu đày — nhưng họ bị đánh đập, giết và ném đá. Người chủ sai nhóm đầy tớ thứ hai đông hơn — A-ghê, Xa-cha-ri, Ma-la-chi, Giăng Báp-tít — nhưng họ bị đối xử y như vậy. Sau cùng, người chủ sai chính con trai mình — Đức Chúa Giê-su. Những người làm vườn nói: “Đứa nầy là kẻ kế tự đây; hè! lại giết nó đi, và chiếm lấy phần gia tài nó” — và họ ném Ngài ra ngoài vườn nho rồi giết Ngài, đúng như Đức Chúa Giê-su đã chết bên ngoài thành Giê-ru-sa-lem.

Kết luận của Đức Chúa Giê-su thật rõ ràng:

“Bởi vậy, ta phán cùng các ngươi, nước Đức Chúa Trời sẽ cất khỏi các ngươi, và cho một dân khác là dân sẽ có kết quả của nước đó.” (Ma-thi-ơ 21:43)

Từ “dân” ở đây trong nguyên văn là ethne — dân ngoại — chứ không phải laos — dân của Đức Chúa Trời. Ẩn dụ về tiệc cưới trong Ma-thi-ơ 22:1–14 lặp lại cùng một ý tưởng: lời mời bị từ chối, và sau cùng sứ điệp được đưa ra các ngả đường để mời mọi người vào — đó là tiếng gọi đến với dân ngoại.

Trong Ma-thi-ơ 23:29–33, Đức Chúa Giê-su công bố các lời khốn nghiêm khắc trên các thầy thông giáo và người Pha-ri-si, kêu gọi họ “hãy làm cho đầy dẫy lường của tổ phụ các ngươi” — nghĩa là tội ác của họ đã đến mức trọn vẹn, không còn pha lẫn lòng thương xót.


“Nhà các ngươi sẽ bỏ hoang”

Khi Đức Chúa Giê-su vào đền thờ lần cuối, Ngài gọi đó là nhà Ta. Nhưng giờ đây, sau khi tuyên bố các lời khốn, Ngài thay đổi cách gọi:

“Hỡi Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem, ngươi giết các đấng tiên tri và ném đá những kẻ chịu sai đến cùng ngươi… Nầy, nhà các ngươi sẽ bỏ hoang!” (Ma-thi-ơ 23:37–38)

Từ “hoang” ấy chính là từ chúng ta đã gặp trong Cựu Ước. Sự gớm ghiếc lại một lần nữa dẫn đến sự hoang tàn.

Có phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên không khi sau khi rời đền thờ, Đức Chúa Giê-su đi đến chính nơi mà vinh quang Shekinah đã đi đến trong khải tượng của Ê-xê-chi-ên — núi Ô-li-ve? Hoàn toàn không phải sự trùng hợp.

Ma-thi-ơ 24:1–3 ghi lại rằng Đức Chúa Giê-su lìa khỏi đền thờ và ngồi trên núi Ô-li-ve. Tại đó, Ngài tiên báo về sự tàn phá Giê-ru-sa-lem. Trong Ma-thi-ơ 24:15, Ngài cảnh báo:

“Khi các ngươi sẽ thấy sự gớm ghiếc tàn nát lập ra trong nơi thánh, mà đấng tiên tri Đa-ni-ên đã nói (ai đọc phải để ý), thì ai ở trong xứ Giu-đê hãy trốn lên núi.”

Lu-ca 21:20 giải thích dấu hiệu này: “Khi các ngươi sẽ thấy quân lính vây thành Giê-ru-sa-lem, hãy biết sự tàn phá thành ấy gần đến.” Đó chính là quân đội La Mã, mang theo các tiêu chuẩn có hình chim ưng mà họ thờ lạy. Theo sử gia Josephus, vì một lý do không giải thích được — thực ra là sự quan phòng của Đức Chúa Trời — quân La Mã đột ngột rút lui, tạo cơ hội cho các tín hữu Cơ-đốc trốn lên núi Giu-đê. Khi quân La Mã trở lại, họ tàn phá thành và đền thờ — nhưng theo lời ghi trong Thiện Ác Đấu Tranh, không một Cơ-đốc nhân nào bị diệt trong cuộc tàn phá Giê-ru-sa-lem.

Trong Lu-ca 19:41–44, khi Đức Chúa Giê-su đi vào thành cách khải hoàn, Ngài đã khóc về thành và phán rằng tai vạ sẽ đến vì “ngươi không nhận biết kỳ thăm viếng ngươi”. Đấng đến thăm viếng chính là Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc.

Cần nói rõ một điều: Đức Chúa Trời yêu thương người Do Thái, ngay cả những người không tin. Có nhiều người chân thành trong Do Thái Giáo, và nhiều người đang trở thành Do Thái Giáo nhận biết Đấng Mê-si. Điều chúng ta đang nói đến là sự kết thúc của thể chế thần quyền Do Thái như một dân riêng của Đức Chúa Trời, chứ không phải về từng cá nhân trong dân tộc đó.


Hai sự ứng nghiệm

Bà Ellen White viết trong Thiện Ác Đấu Tranh trang 22–23:

“Tội lỗi lớn của người Do Thái là từ chối Đấng Cơ-đốc; tội lỗi lớn của thế giới Cơ-đốc Giáo sẽ là từ chối luật pháp của Đức Chúa Trời, là nền tảng cho sự cai trị của Ngài trên trời và dưới đất.”

Thoạt nhìn, hai tội này có vẻ khác nhau, nhưng kỳ thực chúng là một. Luật pháp của Đức Chúa Trời là sự phản chiếu bản tánh của Đức Chúa Giê-su — là bản mô tả thành văn về Ngài. Vậy nên ai chối bỏ luật pháp thì cũng chối bỏ chính Đức Chúa Giê-su.

Điều này đặc biệt đáng suy gẫm khi giáo hội Cơ-đốc ngày nay nói trên hai miệng. Trong nhà thờ, người ta dạy rằng luật pháp đã bị đóng đinh trên cây thập tự, không ai có thể giữ được, rằng đó là dành cho người Do Thái, rằng chúng ta không ở dưới luật pháp mà ở dưới ân điển. Nhưng trên chính trường, các nhà truyền giáo Tin Lành lại kêu gọi chính quyền phải thiết lập các luật bảo vệ tính thiêng liêng của hôn nhân và sự sống, phải treo Mười Điều Răn trong các tòa án.

Nếu Mười Điều Răn đã bị đóng đinh trên cây thập tự, sao lại đòi treo trong tòa án? Đây là cách nói hai chiều. Khi người ta nghe các nhà giảng đạo tuyên bố rằng không ai có thể giữ luật pháp, thì các Cơ-đốc nhân nói: “Tốt, vậy tôi cứ đi sống thoải mái.”

Vì vậy, tội lỗi của thế giới Cơ-đốc ngày nay không nhỏ hơn tội lỗi của người Do Thái xưa. Sự tàn phá Giê-ru-sa-lem có một sự ứng nghiệm hai mặt: chính các môn đồ đã hỏi Đức Chúa Giê-su hai câu hỏi — khi nào sự tàn phá Giê-ru-sa-lem xảy ra, và dấu hiệu Ngài đến cùng tận thế là gì. Điều đã xảy ra cho dân Do Thái sẽ xảy ra cho thế giới Cơ-đốc vào cuối thời gian.