Hai Giao Ước Của Đền Thánh
Hai Luật Chính Trong Kinh Thánh
Kinh Thánh mô tả hai bộ luật chính, mỗi bộ có nguồn gốc và mục đích khác nhau. Bộ thứ nhất là luật đạo đức của Đức Chúa Trời, dùng để phân biệt điều thiện với điều ác. Bộ thứ hai là luật nghi lễ, còn gọi là luật của các lễ nghi và sinh tế, được lập ra để giải quyết vấn đề tội lỗi.
Luật đạo đức được tỏ ra ngay trong Sáng Thế Ký 2:15–17, khi Đức Chúa Trời truyền lệnh cho A-đam:
“Về cây biết điều thiện và điều ác thì chớ hề ăn đến; vì một mai ngươi ăn, chắc sẽ chết.”
Mệnh lệnh duy nhất này chứa đựng các nguyên tắc của cả Mười Điều Răn. Đức Chúa Trời thiết lập ranh giới giữa điều thiện và điều ác, đồng thời chờ đợi sự vâng phục từ A-đam và Ê-va. Tiền công của tội lỗi là sự chết. Điều quan trọng cần ghi nhớ: luật đạo đức tồn tại trước khi tội lỗi xuất hiện, với mục đích phân biệt phải trái.
Khi A-đam và Ê-va phạm tội, Đức Chúa Trời lập tức đưa vào một luật khác. Sáng Thế Ký 3:21 cho biết Đức Chúa Trời lấy da thú làm áo mặc cho hai người. Để có da thú, con thú phải bị giết. Ngay từ buổi đầu của lịch sử nhân loại, Đức Chúa Trời đã tỏ rõ rằng sự xấu hổ vì trần truồng — tức tội lỗi — chỉ được che phủ bởi sự chết của chiên con. Luật nghi lễ ra đời sau tội lỗi và vì cớ tội lỗi.
Mười Điều Răn Đã Tồn Tại Trước Núi Si-na-i
Nhiều người nghĩ rằng Mười Điều Răn chỉ bắt đầu có hiệu lực tại Xuất Ê-díp-tô Ký 20, khi Đức Chúa Trời ban bố trên núi Si-na-i. Nhưng Kinh Thánh cho thấy luật đạo đức đã hiện diện liên tục từ Sáng Thế Ký 4 đến Xuất Ê-díp-tô Ký 19.
Sa-tan đã phạm tội từ ban đầu trên thiên đàng. A-đam phạm tội — Rô-ma 5:12 chép rằng tội lỗi vào thế gian bởi một người. Ca-in phạm tội giết em mình; Đức Chúa Trời cảnh báo ông rằng tội lỗi đang rình rập trước cửa. Cả thế hệ trước Cơn Đại Hồng Thủy bị mô tả là gian ác liên tục trong lòng. Sô-đôm và Gô-mô-rơ là những kẻ tội lỗi lớn trước mặt Đức Giê-hô-va. Sáng Thế Ký 15:16 nói đến “tội lỗi của dân A-mô-rít chưa được đầy dẫy”. Giô-sép biết tà dâm là sai, vì ông đã hỏi: “Thế nào tôi dám làm điều đại ác dường ấy, mà phạm tội cùng Đức Chúa Trời sao?” (Sáng Thế Ký 39:9). Áp-ra-ham biết nói dối là sai, dù chính ông đã nói dối hai lần. Và ngày Sa-bát đã hiện diện trước Si-na-i, vì trong Xuất Ê-díp-tô Ký 16, Đức Chúa Trời đã ban bánh ma-na theo nguyên tắc bảy ngày.
Tội lỗi là sự vi phạm luật pháp. Nếu có tội lỗi trong khoảng thời gian này, thì luật đạo đức cũng đã có mặt.
Luật nghi lễ cũng tồn tại song song trong cùng giai đoạn. Ca-in và A-bên dâng của lễ (Sáng Thế Ký 4:3–5). Nô-ê dâng của lễ khi ra khỏi tàu (Sáng Thế Ký 8:20–21). Áp-ra-ham dựng bàn thờ và dâng tế lễ; cuộc dâng Y-sác trên núi là biểu tượng chỉ về cái chết của Đức Chúa Giê-su trên thập tự. Y-sác và Gia-cốp cũng dâng tế lễ. Như vậy, cả hai luật đều đã hiện diện trước Si-na-i — một bộ vì cớ phân biệt thiện ác, một bộ vì cớ giải quyết tội lỗi.
Năm Đặc Điểm Phân Biệt Hai Luật
Kinh Thánh phân biệt rõ ràng giữa luật đạo đức và luật nghi lễ qua năm đặc điểm.
Thứ nhất, ai phán Mười Điều Răn? Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:22 cho biết Đức Chúa Trời phán trực tiếp cho toàn thể hội chúng Y-sơ-ra-ên từ giữa lửa, mây và bóng tối dày đặc với tiếng lớn. Còn luật nghi lễ thì Lê-vi Ký 1:1–2 nói rằng Đức Giê-hô-va gọi Môi-se và phán cùng ông từ hội mạc, rồi truyền cho ông nói lại với dân sự. Đức Chúa Trời dùng người trung gian để ban luật nghi lễ, nhưng đích thân phán Mười Điều Răn cho cả dân sự.
Thứ hai, ai viết? Xuất Ê-díp-tô Ký 31:18 chép rằng Mười Điều Răn được “viết bằng ngón tay của Đức Chúa Trời”. Trong khi đó, Phục Truyền Luật Lệ Ký 31:9 nói: “Môi-se chép luật này, giao cho những thầy tế lễ.” Mười Điều Răn được chính tay Đức Chúa Trời viết; luật nghi lễ do tay Môi-se chép.
Thứ ba, viết trên chất liệu gì? Mười Điều Răn được khắc trên hai bảng đá (Phục Truyền Luật Lệ Ký 4:13). Luật nghi lễ được chép trong một quyển sách (Phục Truyền Luật Lệ Ký 31:24).
Thứ tư, đặt ở đâu? Phục Truyền Luật Lệ Ký 10:1–5 cho biết hai bảng đá được đặt bên trong Hòm Giao Ước. Phục Truyền Luật Lệ Ký 31:26 truyền dặn người Lê-vi: “Hãy lấy quyển sách luật pháp này, để bên Hòm Giao Ước của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi.” Mười Điều Răn ở trong hòm; luật nghi lễ ở bên cạnh hòm.
Thứ năm, có nặng nề không? I Giăng 5:3 chép: “Vì nầy là sự yêu mến Đức Chúa Trời, tức là chúng ta vâng giữ điều răn Ngài. Điều răn của Ngài chẳng phải là nặng nề.” Đa-vít cũng yêu luật pháp của Đức Chúa Trời; trong Thi Thiên 119, ông gọi luật ấy quý hơn ngàn lượng vàng, há miệng thở khao khát mệnh lệnh của Chúa, và xem luật pháp là sự vui thích. Không một ai yêu mến Đức Chúa Trời lại có thể coi luật phân biệt phải trái là cái ách nô lệ.
Tội Lỗi, Sự Chết Và Hệ Thống Giấy Nợ
Mục đích của luật đạo đức là chỉ ra tội lỗi. Rô-ma 3:20 nói: “Vì luật pháp cho người ta biết tội lỗi.” I Giăng 3:4 định nghĩa tội lỗi là sự vi phạm luật pháp. Và tiền công của tội lỗi là sự chết (Rô-ma 6:23).
Mọi người đều đã phạm tội. Rô-ma 3:10 chép: “Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không.” Rô-ma 3:23 nói: “Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.” Vậy mọi người đều đáng phải chết. Nhưng điều luật pháp đòi hỏi, Đức Chúa Giê-su đã cung cấp. II Cô-rinh-tô 5:21 chép: “Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời.”
Vậy thì các thánh đồ trong Cựu Ước được cứu thế nào, khi Đức Chúa Giê-su chưa đến trả nợ tội bằng huyết Ngài trên thập tự?
Giả sử có người trong trại quân Y-sơ-ra-ên trộm đôi giày của người lân cận. Đó là vi phạm điều răn “chớ trộm cắp”, và tiền công của tội lỗi là sự chết. Nhưng theo Lê-vi Ký 1:1–4, tội nhân có thể đem một con chiên không tì vít đến đền thánh, đặt tay trên đầu con chiên, và xưng tội mình lên đầu nó. Tội lỗi được chuyển từ tội nhân sang nạn nhân hoàn hảo. Sau đó, chính tội nhân phải cầm dao giết con thú — con thú chịu chết thay cho tội nhân.
Nhưng Hê-bơ-rơ 10:4 quả quyết: “Vì huyết của bò đực và dê đực không thể cất tội lỗi đi được.” Hệ thống Cựu Ước không hợp pháp xóa được tội lỗi. Vậy nó là gì?
Đó là một hệ thống giấy nợ. Mỗi khi tội nhân đến đền thánh, xưng tội trên đầu con vật và giết nó, Đức Chúa Giê-su phán: “Tội nhân này đã đến với một khoản nợ trao cho Ta. Ta sẽ trả.” Bản án của tội nhân được hoãn lại trên cơ sở lời hứa rằng trong tương lai Đức Chúa Giê-su sẽ đến trả thay. Tội nhân Cựu Ước nhìn thấy trong sinh tế một biểu tượng về Đấng Christ và được cứu bởi Đấng Christ sẽ đến. Nhưng tội lỗi chưa được giải quyết hợp pháp cho đến khi Đức Chúa Giê-su chịu chết trên thập tự giá. Đền thánh Cựu Ước, theo nghĩa pháp lý, đầy ắp tội lỗi tích tụ — vì huyết của bò đực và dê đực không cất bỏ được tội lỗi.
Đức Chúa Giê-su Đóng Đinh Bản Nợ Vào Thập Tự Giá
Cô-lô-se 2:13–14 chép:
“Khi anh em đã chết bởi tội lỗi mình và sự xác thịt mình không chịu cắt bì, thì Đức Chúa Trời đã khiến anh em sống lại với Đấng Christ, vì đã tha thứ hết mọi tội chúng ta: Ngài đã xóa tờ khế lập nghịch cùng chúng ta, các điều khoản trái với chúng ta nữa, cùng phá hủy tờ khế đó mà đóng đinh trên cây thập tự.”
Bản dịch “the handwriting of ordinances” trong King James không phải là dịch hay nhất. Từ Hy-lạp ở đây, cheirographon, có nghĩa là giấy chứng nhận nợ do chính tay người mắc nợ ký. Các bản dịch hiện đại nói rõ hơn: “giấy chứng nhận nợ”, “hồ sơ các cáo trạng nghịch cùng chúng ta”, “tờ trát bắt giữ cũ đã bị hủy bỏ”, “hồ sơ ghi món nợ của chúng ta”.
Điều mà Đức Chúa Giê-su đóng đinh vào thập tự giá Gô-gô-tha không phải là Mười Điều Răn, mà là tất cả các giấy nợ đã được ký bởi những người dâng sinh tế trong hệ thống Cựu Ước. Giữa Si-na-i và đồi Sọ, hơn một triệu sinh tế đã được dâng chỉ riêng cho lễ sáng và lễ chiều. Đức Chúa Trời chấp nhận đức tin của người đem con vật đến và xưng tội. Đức Chúa Giê-su đã hứa: “Một ngày kia, Ta sẽ đến và Ta sẽ trả.”
Khi Ngài đến, Ngài đóng đinh bản nợ vào thập tự giá và giải quyết vấn đề một lần đủ cả, vì giờ đây Ngài đã dâng chính huyết quý báu của mình.
Kết quả của việc này được mô tả trong Ma-thi-ơ 27:50–53: khi Đức Chúa Giê-su trút linh hồn, đất rúng động, đá nứt, mồ mả mở ra, và nhiều thân thể của các thánh đồ đã ngủ được sống lại. Ngài có thể cho họ sống lại vì mọi giấy nợ của họ đã được xử lý. Bốn mươi ngày sau, khi Đức Chúa Giê-su thăng thiên, Ngài không lên một mình — đoàn người đã ra khỏi mồ ấy là trái đầu mùa của vụ mùa lớn sẽ đến từ mồ mả khi Ngài tái lâm trong quyền năng và vinh hiển.
Hê-bơ-rơ 7:18–19 và Hê-bơ-rơ 8:13 xác nhận rằng giao ước cũ — hệ thống các tế lễ và lễ nghi — đã bị bãi bỏ vì sự yếu kém và vô ích của nó, nhường chỗ cho hy vọng tốt hơn trong Đức Chúa Giê-su.
Cô-lô-se 2:16–17 Thật Sự Đề Cập Điều Gì
Cô-lô-se 2:16–17 là phân đoạn thường bị hiểu sai để bác bỏ ngày Sa-bát thứ bảy hoặc các luật về thức ăn. Câu này chép:
“Vì vậy, chớ có ai đoán xét anh em về của ăn, uống, hay là về một ngày lễ, ngày mặt trăng mới, ngày Sa-bát, ấy đều chỉ là bóng của các việc sẽ tới, còn hình thì ở trong Đấng Christ.”
Của ăn và của uống ở đây không phải là thức ăn trên bàn ăn của chúng ta. Trong hệ thống sinh tế Cựu Ước, mỗi sinh tế đều đi kèm với của lễ chay (bột mì) và của lễ quán (rượu). Xuất Ê-díp-tô Ký 29:38–41 mô tả rõ: với mỗi chiên con dâng buổi sáng và buổi chiều, phải có một phần mười ê-pha bột lọc nhồi với một phần tư hin dầu ép, và một phần tư hin rượu làm lễ quán. Hê-bơ-rơ 9:9–10 nhặt lại ý này, nói rằng hệ thống cũ “chỉ liên hệ đến của ăn, của uống, các thứ rửa sạch và các luật pháp xác thịt, đặt ra cho đến kỳ cải chánh”. “Của ăn, của uống” trong Cô-lô-se 2 là các của lễ đi kèm sinh tế, không phải bữa ăn hằng ngày.
Còn các “ngày lễ” thì sao? Từ Hy-lạp heortē — tương đương với chag trong tiếng Hê-bơ-rơ — chỉ riêng các lễ hành hương mà mọi người nam từ 12 tuổi trở lên buộc phải về Giê-ru-sa-lem dự: Lễ Vượt Qua và Bánh Không Men, Lễ Ngũ Tuần, và Lễ Lều Tạm. Đây là những lễ chỉ về Đức Chúa Giê-su.
Còn “ngày mặt trăng mới”? Năm tôn giáo của người Hê-bơ-rơ có bảy tháng, và mỗi tháng bắt đầu bằng ngày trăng mới, được đánh dấu bằng các của lễ thiêu (Dân Số Ký 28:11–19). Vì các lễ trong bảy tháng ấy đều chỉ về Đức Chúa Giê-su, nên các ngày trăng mới đánh dấu khởi đầu các tháng đó cũng đã hoàn tất trong Ngài.
Còn các “ngày Sa-bát” được nhắc đến? Đây không phải là Sa-bát ngày thứ bảy. Cô-lô-se 2:17 nói rõ rằng các điều này đều là bóng của các việc sẽ tới. Sa-bát ngày thứ bảy không phải là bóng của điều sẽ đến — Sa-bát được lập trước khi tội lỗi vào thế gian và chỉ ngược về công cuộc sáng tạo, không chỉ tới trước. Vậy các “Sa-bát” trong Cô-lô-se 2 là các Sa-bát nghi lễ: Lễ Thổi Kèn, Lễ Chuộc Tội (ngày nghỉ), năm Sa-bát mỗi bảy năm, và năm Hân Hỉ mỗi năm mươi năm.
Lê-vi Ký 23 phân biệt rất rõ. Sau khi Đức Chúa Trời nói “đây là các kỳ lễ Ta”, câu 3 đặt riêng Sa-bát ngày thứ bảy ra: “Người ta làm việc trong sáu ngày, nhưng qua ngày thứ bảy là ngày Sa-bát, một ngày nghỉ, tức một sự nhóm hiệp thánh.” Rồi đến cuối chương, sau khi liệt kê bảy lễ trong năm, câu 37–38 chép: “Đó là các kỳ lễ của Đức Giê-hô-va… ngoài những ngày Sa-bát của Đức Giê-hô-va.” Bảy lễ ấy đứng riêng biệt, bên cạnh Sa-bát của Đức Giê-hô-va. Sa-bát ngày thứ bảy đứng tách biệt như một kỷ niệm về sự sáng tạo.
Người Cựu Ước Được Cứu Bởi Ân Điển, Không Phải Bởi Luật Pháp
Nhiều người tưởng rằng người Cựu Ước được cứu bởi luật pháp và rằng không có ân điển trong Cựu Ước. Bà Ellen White, trong Signs of the Times ngày 22 tháng 4 năm 1880, viết:
“Nhiều người xem giai đoạn của dân Do Thái là một thời kỳ tăm tối. Họ tiếp nhận quan niệm sai lầm rằng sự ăn năn và đức tin không có phần nào trong tôn giáo Hê-bơ-rơ, mà tôn giáo ấy chỉ gồm các hình thức và lễ nghi. Nhưng con cái Y-sơ-ra-ên đã được cứu bởi Đấng Christ thực sự như tội nhân ngày nay. Bởi đức tin, họ thấy Đấng Christ trong các hình bóng chỉ về sự đến lần thứ nhất và sự chết của Ngài.”
Mỗi lần một sinh tế được dâng, đó là một giấy nợ. Đức Chúa Giê-su phán: “Đừng lo, Ta sẽ trả giấy nợ ấy.” Đó là một hệ thống tín dụng khổng lồ. Và khi Đức Chúa Giê-su đến, Ngài lấy hết các giấy nợ — bản nợ — và đóng đinh chúng trên thập tự giá. Mọi cá nhân đã chết trong đức tin lập tức được cứu hợp pháp khỏi tội lỗi của mình bởi cái chết của Đức Chúa Giê-su.
Đức Chúa Giê-su đứng ở thời điểm thập tự, hắt một cái bóng ngược về thời Cựu Ước. Khi dân sự nhìn vào những lễ nghi đầy hình bóng ấy, sự chú ý của họ phải hướng đến thực tại chiếu ra cái bóng đó. Toàn bộ hệ thống đặt trọng tâm ở Đức Chúa Giê-su. Họ không được cứu bởi luật pháp. Họ được cứu bởi ân điển — y như chúng ta hôm nay.